|
Một
phát hiện khoa học của thế kỷ 20:
Plastic
dẫn điện
Trương Văn
Tân (Exryu 70, Úc Châu)
Cái tựa đề
"Plastic dẫn điện" có thể làm người
đọc ngỡ ngàng đến độ
buồn cười v́ nó vượt qua ngoài
sự tưởng tượng trong những sinh
hoạt thông thường. Plastic c̣n gọi là cao
phân tử (polymer) là chất dùng làm vật cách
điện hơn là vật dẫn điện.
Thật ra, người ta có thể tổng
hợp plastic và làm cho nó dẫn điện. Năm
2000, Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển
đă trao giải Nobel Hoá Học cho Shirakawa,
MacDiarmid và Heeger cho sự khám phá và phát triển
cao phân tử dẫn điện (electrically
conducting polymers).
The Nobel Prize in Chemistry 2000
|
|

|

|

|
| Alan
J. Heeger |
Alan
G. MacDiarmid |
Hideki
Shirakawa |

As
published in “Conductive Electroactive Polymers:Intelligent
Materials Systems”
(2nd Edition) CRC Press, GG Wallace, GM Spinks, LAP
Kane-Maguire, PR Teasdale, 2003.
Năm 1975, khi người
viết c̣n là một sinh viên năm cuối
tại Tokodai (Tokyo Institute of Technology) một phát
hiện có tầm mức thời đại
xảy ra một cách âm thầm trong khuôn viên nhà
trường. Ông Trợ Thủ (Assistant
Professor/Lecturer) Shirakawa Hideki cua Shigen Kenkyujo (Research
Centre for Resources Utilization) trực thuộc Tokodai là
một chuyên gia về tổng hợp cao phân
tử polyacetylene (PA) bằng cách thổi khí
acetylene qua một chất xúc tác. Acetylene là
một chất khí người ta thường dùng
để hàn gió đá. Phương pháp dùng
thể khí để tổng hợp cho ra một
thể rắn (trong trường hợp nầy là
plastic) là một phương pháp công nghệ thông
dụng để h́nh thành polyethylene (PE) và
polypropylene (PP). Hai chất plastics nầy được
tổng hợp bằng cách thổi khí ethylene
hoặc propylene vào chất xúc tác Ziegler – Natta (tên
cuả 2 nhà phát minh). PE và PP là hai plastics
được gia dụng hoá dùng cho bao nhựa
"nilon" và nhiều dụng cụ
"plastic" trong sinh hoạt hằng ngày.
Shirakawa theo phương pháp nầy để
tổng hợp bột PA.
Một sự
kiện t́nh cờ xảy ra gây ra bởi một
lầm lỡ trong pḥng nghiên cứu Shirakawa.
Một anh nghiên cứu sinh người Đại
Hàn trong quá tŕnh tổng hợp PA lơ đểnh
thế nào quên lời căn dặn cuả ông
đă dùng chất xúc tác có nồng độ
1000 lần lớn hơn độ qui định.
Anh du học sinh nầy cũng tổng hợp
được PA nhưng không phải ở
dạng bột đen trong điều kiện b́nh
thường mà ở dạng phim màu bạc có tính
đàn hồi. Sự kiện nầy cơ hồ
như bị bỏ quên cho đến một năm
sau (1976) khi giáo sư Alan MacDiamid (Đại
Học Pennsylvania) viếng pḥng thí nghiệm
Shirakawa. MacDiarmid ngắm nghía tấm phim PA lạ lùng
nầy và sau đó mời Shirakawa sang Pennsylvania
cộng tác một năm. Trong khoảng thời
gian nầy, cái sản phẩm gây ra bởi sự
vô ư được đem ra khảo nghiệm
trở lại. Cùng với sự cộng tác
của giáo sư vật lư Alan Heeger, phim PA
đươc cho tiếp xúc (exposure) với khí
iodine (I2). Khí iodine được hấp
thụ vào PA dưới dạng ion làm tăng
độ dẫn điện của PA đến
1 tỷ lần. Quá tŕnh tiếp xúc với iodine
gọi là doping và iodine là dopant của PA. Sau bước
nhảy 1 tỷ lần PA từ trạng thái là
vật cách điện trở thành một vật
dẫn điện. Plastic dẫn điện ra
đời. Sau kỳ tích tăng độ dẫn
điện của phim PA nhảy vọt 1 tỷ
lần qua một quá tŕnh tiếp xúc (doping)
cực kỳ đơn giản với khí iodine,
lằn ranh phân biệt chất dẫn điện
(kim loại), chất bán dẫn (silicon) và chất
cách điện (plastic thông thường) bị xoá
mờ. Thật vậy, tùy vào nồng độ
của iodine trong PA người ta có thể điều
chỉnh độ dẫn điện từ
chất cách điện đến chất dẫn
điện một cách dễ dàng.
Ở những năm
đầu thập niên 1980, một cuộc
chạy đua diễn ra giữa các nhà khoa
học khắp nơi trên thế giới để
nâng cao độ dẫn điện của PA cho
đến khi đạt đến độ
dẫn điện cuả đồng. Đây là
cuộc chạy đua mang tính hiếu kỳ hơn
là thực dụng. PA không có giá trị cho
những áp dụng thực tiễn bởi v́ PA
bị oxít hoá trong không khí. Thậm chí trong chân
không PA cũng tự suy thoái (self degradation). Oxít hoá
và sự suy thoái đưa đến sư suy
giảm độ dẫn điện. Một
vật liệu không có tính ổn định
(environmental stability) đối với môi trường
xung quanh khó có thể trở thành những vật
liệu mang tính áp dụng. Mặc dù không có tính
ổn định cố hữu, PA vẫn là
vật liệu được nhóm Shirakawa nghiên
cứu cho đến ngày hôm nay. MacDiarmid và Heeger
chuyển qua polyaniline (PAn). Ngoài ra, polypyrrole (PPy) và
polythiophene (PTh) là hai loại plastics quan trọng
được nghiên cứu có hệ thống
gần 30 năm qua. Thật ra, PPy dẫn điện
được một nhóm nghiên cứu tại Úc
(CSIRO) phát hiện ở thập niên 1960. Họ báo
cáo trên Australian Journal of Chemistry rồi đ́nh
chỉ công việc v́ ngở là chất tạp
(impurities) không quan trọng! PAn, PPy và PTh là
những plastics có độ ổn định
tốt hơn PA nên có thể dùng trong những áp
dụng thực tiễn.
Như vậy, trên cơ
sở nào plastics lại có thể dẫn điện?
Cơ chế dẫn điện có giống như
kim loại hay không? Plastics được tổng
hợp qua sự nối kết
cuả các phân tử đơn vị
(monomer) tạo ra một phân tử dài (cao phân
tử) như sợi dây xích. Monomer của PA là phân
tử acetylene. Đặc điểm của
những plastics dẫn điện là những
nối carbon trong những vật liệu nầy là
nối liên hợp (conjugation bond), - C = C – C =
C - , có nghĩa là sự nối tiếp
cuả nối đơn C – C và nối đôi C
= C. PA, PAn, PPy và PTh đều có đặc điểm
nầy trong cấu trúc cao phân tử. Đặc
điểm thứ hai là sự hiện diện
cuả dopant. Iodine là một thí dụ điển
h́nh trong PA. Hai đặc điểm nầy làm
plastics trở nên dẫn điện. Dopant có
thể là những nguyên tố nhỏ như iodine
(I), chlorine (Cl), những hợp chất vô cơ
hoặc hữu cơ miễn là những chất
nầy cho ra những ion âm (anion) để kết
hợp với những chuỗi xích carbon cuả
plastic.
Trong kim loại
sự dẫn điện xảy ra là do sự di
động cuả các điện tử tự do
(free electrons) giữa hai điện thế (voltage)
khác nhau. Ḍng điện tử tự do mang điện
âm (-) nầy di động sinh ra ḍng điện
đi từ hiệu thế cao đến thấp
như một ḍng nước chảy từ
chỗ cao đến chỗ thấp. V́ vậy,
điện tử tự do trong kim loại
được gọi là hạt tải điện
(charge carrier). Gỗ, đá và những plastics thông
thường khác là chất cách điện v́ không
có những hạt tải điện. Sự
dẫn điện, bán dẫn và cách điện
được giải thích rơ ràng qua khái
niệm khe năng lượng (energy band gap) trong
vật lư chất rắn (solid state physics). V́ khuôn
khổ bài viết có giới hạn, khái niệm
nầy không được đề cập
ở đây.
Như vậy
những hạt tải điện nguyên nhân chính
gây ra ḍng điện trong plastic dẫn điện
là ai? Có phải là những điện tử
tự do mang điện âm giống như kim
loại hay không? Câu trả lời là "Không".
Để trả lời câu hỏi cơ bản
nầy, chúng ta hăy trở lại quá tŕnh doping.
Dopant được "hấp thụ" vào dưới
dạng anion (ion mang điện âm). Chúng ta hăy xem
thí dụ của PA khi được cho tiếp xúc
với khí iodine đề cập bên trên. Khí
iodine, I2, sẽ kết hợp với
polyacetylene (PA) dưới dạng anion I -.
Để trung ḥa âm tính cuả anion iodine, carbon
cuả plastic PA sẽ xuất hiện điện
dương (+). Đây là một quá tŕnh tự
nhiên xảy ra trong vạn vật. Khi một
vật trung tính (neutral) bị một vật mang
điện xâm nhập, trong điều kiện
thuận lợi vật thể nầy sẽ
tự "phản ứng" bằng cách sản
xuất điện đối nghịch để
bảo tồn cái trung tính cố hữu cuả ḿnh.
Điện dương (+) xuất hiện trên các
chuỗi carbon gọi là polaron trong vật lư.
Một cặp polaron (+ +) là bipolaron. Quang phổ
học (spectroscopy) xác nhận rằng khi có
một ḍng điện được áp đặt
vào plastic dẫn điện polaron và bipolaron di
động giữa hai điện thế khác nhau.
Nói một cách khác, tương tự như điện
tử tự do (free electron) trong kim loại, polaron và
bipolaron là hạt tải điện (charge carrier)
cho sự truyền điện trong plastics dẫn
điện.
Kể từ khi
plastic dẫn điện được phát
hiện, những vật liệu nầy trở thành
một đề tài nghiên cứu cơ sở
rất phong phú cho các nhà nghiên cứu vật lư,
hoá học, vật liệu học, điện
học và cả sinh học. Ngoài những đề
tài nghiên cứu có tính bác học nhầm
thỏa măn sự ṭ ṃ cuả các nhà khoa học,
những cơ sở nghiên cứu cuả các công
ty thương măi khắp nơi trên thế
giới đă cố gắng biến plastic dẫn
điện thành những áp dụng cụ thể
trong đời sống hằng ngày hoặc áp
dụng quân sự. Từ năm 1996 đến
2000 có hơn 2000 bằng phát minh (patents) và 8000 báo
cáo khoa học liên quan đến plastic dẫn
điện và hơn 100 đề nghị áp
dụng cụ thể hoặc đang được
thương măi hoá (commercialization). Việc biến plastic dẫn
điện thành những sản phẩm hữu
dụng là một chuyện tất nhiên v́ nó có
thể thay thế kim loại hay những chất bán
dẫn mà điển h́nh là silicon. Mươ`i năm
trước dây, hăng Bridgestone – Seiko đă cho ra
loại pin nhỏ (rechargeable battery) với điện
cực PAn được dùng trong calculator hay máy
chụp h́nh. Gần đây Mitsubishi đă tung ra
thị trường những siêu tụ điện
(supercapacitor) rất thông dụng trong điện
thoại di động. Những siêu tụ điện
nầy dùng PPy là vật liệu chính v́ chất
nầy có mật độ tụ điện
rất cao.
Plastic dẫn điện
c̣n dùng làm vật liệu cho những trang cụ
cảm nhận (sensors). Plastic dẫn điện
khi tiếp xúc với hóa chất chẳng hạn
như hơi rượu độ dẫn điện
sẽ thay đổi một cách có hệ
thống. Nhờ vậy người ta có thể
phân biệt được brandy thật và brandy có
pha vài % nước lă. Một nhóm nghiên cứu
tại Pháp đă phát minh ra sensor dùng plastic
dẫn điện đo được chính xác lượng
đường trong máu. Trong những năm
gần đây, các nhà nghiên cứu trên thế
giới cố gắng tổng hợp những
chất plastic dẫn điện có thể
"ngữi" được chất nổ TNT
cho việc ḍ ḿn (land mine). Tuy nhiên cho đến
nay th́ vẫn chưa "qua mặt" lổ mũi
cuả chú khuyển nhà ḿnh!
Plastic dẫn điện
lại có hoạt tính điện hoá
(electro-acivity). Đặc tính nầy đưa
đến áp dụng chống ăn ṃn (anti –
corrosion) trong kim loại. Hóa chất chống ăn
ṃn hữu hiệu nhất là chromate. Tuy nhiên đây
là chất mang nhiều độc tính gây ung thư.
Tổng ngân khoản dùng để chống ăn
ṃn cũng lên gần 100 tỷ Mỹ kim hằng năm
trên toàn thế giới. V́ vậy, việc thay
thế chromate với một hoá chất khác là
một việc làm bức thiết trong giới công
nghệ. Công ty Ormecon (Đức) đă đi tiên
phong trong việc dùng plastic dẫn điện trong
việc chống ăn ṃn trong sắt hoặc nhôm.
Người viết cũng đă tổng hợp
plastic dẫn điện chống ăn ṃn trong
magnesium. Magnesium là một chất dễ bị
ăn ṃn nhất trong tất cả kim loại.
Plastic dẫn điện
mà điển h́nh là poly (phenylene vinylene) (PPV) có
thể làm phát quang (luminescence) với nhiều màu
sắc khác nhau giống như tinh thể lỏng
(liquid crystal). Hiện nay, những màn h́nh tinh
thể lỏng rất mỏng cho các máy vi tính và
TV là món hàng đang được ưa
chuộng trên thị trường điện
tử. Seiko – Epson (Nhật) và Samsung (Hàn Quốc)
đang chế tạo những màn h́nh mềm
cực mỏng dùng plastic dẫn điện
với một hy vọng là màn h́nh nầy có
thể thay thế màn h́nh tinh thể lỏng trong
một tương lai gần.
Plastic dẫn điện
có thể hấp thụ vi ba (microwave absorption). Vi
ba là sóng điện từ có độ dài sóng
ở đơn vị cm và tần số ở
giga-hertz (GHz). Thí dụ, ḷ vi ba (microwave oven) gia
dụng có sóng điện từ ở tần
số 2.45 GHz. Vi ba được dùng trong radar dân
sự và quân sự ở nhiều tần số
khác nhau. Độ dẫn điện cuả
plastic dẫn điện có thể điều
chỉnh để "hút" radar ở những
tần số khác nhau. Khái niệm nầy
đưa đến cách thiết kế vật
liệu "tàng h́nh". Độ dẫn điện
có thể được điều chỉnh
thật thấp biến plastic dẫn điện
thành plastic cách điện. Khi ở trạng thái
cách điện th́ radar sẽ bị phản
hồi (reflection). Như vậy, chúng ta có một
vật liệu hư hư thật thật. Tôn
Tử bảo "Việc binh là việc giả
dối" mà plastic dẫn điện có thể
dùng vào "việc giả dối" một cách
tài t́nh. Trong thời b́nh, vật liệu nầy
được biến thành vật cách điện
có thể xử sự như một vật
liệu "ngu si" phản hồi radar cuả
đối phương. "Thánh nhân giả khù
khờ". Trong thời chiến, do sự điều
chỉnh nâng cao độ dẫn điện
vật liệu trở nên "thông minh"
hấp thụ radar. Kết quả là trên màn h́nh
radar cuả đối phương ta sẽ
"hiện h́nh" trong thời b́nh và "tàng
h́nh" trong thời chiến!
Trên đây là
những thí dụ cụ thể nêu lên những
đặc tính hữu dụng của plastic
dẫn điện. Một khám phá t́nh cờ
xảy ra tại Tokodai gần 30 năm trước
đă đưa đến nhiều áp dụng
trong đời sống thường nhật th́
phải nói đây là một món quà Trời cho và
cũng là một trong những sự kiện hi
hữu trong lịch sử Khoa Học. Đầu
thế kỷ thứ 20 đă được đánh
dấu bằng những lư thuyết vĩ đại
trong vật lư như cơ học lượng
tử (quantum mechanics), thuyết tương đối
của Einstein, định luật bất xác định
của Heisenberg, phương tŕnh sóng Schrödinger, tính
nhị nguyên cuả sóng và hạt v.v… Những lư
thuyết nầy đă giải thoát con người
ra khỏi lối suy luận cổ điển
cuả cơ học Newton và nâng cao tŕnh độ
tư duy con người trong việc khám phá bí
ẩn trong những cái nhỏ nhất như nguyên
tử và những cái to nhất như vũ
trụ. Cuối thế kỷ 20 được
đánh dấu bằng sự trưởng thành
cuả vật liệu học (materials science) điển
h́nh là silicon và những thành quả của công
nghệ silicon, sự xuất hiện vật
liệu hữu cơ như plastic dẫn điện,
fullerene C60 và gần đây carbon nanotubes.
Những năm đầu
cuả thế kỷ 21 cho thấy sự h́nh thành
nền công nghệ nano (nanotechnology) mà người
ta có thể tạo ra những trang cụ (device)
ở thứ nguyên nanometer ( = 10-9 m) với
kích thước nhỏ gần bằng nguyên
tử hay phân tử. Những vật liệu
hữu cơ chắc chắn sẽ là những
vật liệu cơ bản đóng góp vào sự
thành công cuả nền công nghệ nano mang tính
đột phá với tiềm năng sâu rộng
nầy.
Melbourne, August 2004
Trương Văn Tân
|