Tạp ghi nhân một chuyến trở về

Trương Văn Tân (*)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đại học Cần Thơ, tôi có cơ hội được đến đây thỉnh giảng. Bốn mươi năm trước, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa nhận thấy tầm quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long đă quyết định thành lập Viện Đại học Cần Thơ với ba phân khoa chính là Nông nghiệp, Khoa học và Sư phạm. Ngày hôm nay, Đại học Cần Thơ là một đại học tổng hợp bao gồm nhiều phân khoa kể cả khoa Y Dược. Khoa Nông nghiệp vẫn là khoa chủ lực, có chương tŕnh đào tạo cao học với học vị Thạc sĩ (Master) và Tiến sĩ (PhD).

Những con đường śnh lầy trong khuôn viên đại học, những căn nhà tiền chế dùng làm pḥng học mà tôi biết ở cuối thập niên 60 bây giờ là những con đường xe chạy rợp bóng cây với nhiều bụi hoa nhiệt đới nở thật đẹp, dẫn đến những ṭa nhà hoành tráng dùng làm pḥng học, pḥng nghiên cứu và pḥng làm việc của ban giảng huấn. Vào những năm đầu mới thành lập, trường c̣n phải "mượn" giảng viên của Đại học Sài G̣n đến giảng dạy. Ngày hôm nay nhà trường có một ban giảng huấn trẻ, ưu tú và nhiệt t́nh. Ở khoa Công Nghệ nơi tôi làm việc với các đồng nghiệp, số tuổi trung b́nh của các giảng viên vào khoảng 35. Nguyện vọng của ban quản trị nhà trường là các giảng viên phải có ít nhất bằng Thạc sĩ được đào tạo tại nước ngoài.

Được biết hiện nay Đại học Cần Thơ và Đại học Đà Nẵng là hai đại học Việt Nam có nhiều liên hệ giáo dục và giao lưu quốc tế đứng đầu cả nước. Khoa Công Nghệ của Đại học Cần Thơ vừa mới được thành lập gần 5 năm đào tạo Kỹ sư với tên gọi tiếng Anh là "College of Technology" (theo tôi từ chính xác nên là: Faculty of Engineering). Khoa mô phỏng theo Đại học Bách khoa Tp HCM (tên cũ: Trung Tâm Kỹ Thuật Quốc Gia Phú Thọ), ngoài những bộ môn cổ điển như công nghệ Điện (electrical engineering), công nghệ Hóa (chemical engineering), khoa Công nghệ đặt trọng điểm giảng dạy và nghiên cứu về Vật liệu học (Materials Sciences) chú trọng đến các loại vật liệu tiên tiến (Advanced Materials).

Trong bối cảnh là một trường đại học nông nghiệp, chính sách giáo dục và nghiên cứu của Đại học Cần Thơ đa dạng và có tầm nh́n xa. Phần lớn khoa Công nghệ (kỹ sư) của các đại học Việt Nam vẫn phân chia các bộ môn công nghệ không khác ǵ thời Pháp thuộc. Ngoài Viện Vật liệu trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam tại Hà Nội, tôi nghĩ không có một đại học Việt Nam nào chú trọng đến khoa Công nghệ Vật liệu (Materials Science/Engineering). Khoa nầy đă là một phân khoa chính thức của các đại học tại Bắc Mỹ, Nhật, châu Âu hơn nửa thế kỷ nay. Trong vài thập niên gần đây nó đă trở thành một khoa quan trọng tại Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Iran.

Bộ môn nầy liên quan đến việc khảo sát những đặc tính và ứng dụng của các loại vật liệu như ceramics (gốm sứ), kim loại và polymers (plastics - nhựa). Nó đ̣i hỏi người học và nghiên cứu phải có một kiến thức đa ngành về Hóa học, Vật lư, Toán học và biết áp dụng những môn nầy vào việc cải tạo hoặc biến chế vật liệu cho một ứng dụng nhất định. Những vật liệu có thể là chất cách điện, chất dẫn điện hoặc bán dẫn. Những ứng dụng bao gồm những việc trong cuộc sống đời thường như chống ăn ṃn (cầu, tàu bè, máy bay...), những dụng cụ điện tử, pin mặt trời cho đến những áp dụng trong của thế kỷ 21 như vật liệu thông minh và công nghệ nano. Sự tŕ trệ trong việc phát triển khoa Công nghệ Vật liệu tại các đại học Việt Nam có thể phát sinh từ sự tôn sùng cách học thuần lư của Liên Xô và các nước Đông Âu cũ, chỉ biết dựa trên toán và vật lư lư thuyết. Cách học nầy sản sinh ra những nhà lư luận tuyệt vời "trên trời" nhưng lại lơ ngơ trong ứng dụng.

Liên quan đến việc học toán, có một số người trong nước thường thắc mắc hỏi tôi "Người Việt Nam ở nước ngoài làm nghiên cứu khoa học chắc giỏi hơn người nước khác?" "Tại sao ḿnh lại giỏi hơn người khác?" tôi hỏi lại, "V́ ta giỏi toán"! Thật ra, người Việt Nam nghiên cứu không thua cũng không hơn, học không giỏi cũng không kém hơn người nước khác. Nhưng sinh viên Việt Nam có cái khuyết điểm chung là dễ tự măn, không có sự khiêm tốn của sinh viên Nhật, sự cần cù của sinh viên Trung Quốc và sự trầm lặng hiền ḥa của sinh viên Thái Lan. Ta đă tự tạo cho ta một huyền thoại "giỏi toán" và để huyền thoại vây quanh ta, trở thành người tù của ảo tưởng "đỉnh cao trí tuệ". Học sinh Mỹ không giỏi toán như học sinh Việt Nam, nhưng Mỹ là cường quốc khoa học kỹ thuật đứng đầu thế giới. Học sinh Ấn Độ, Nhật Bản chắc chưa bao giờ có huy chương vàng Olympic Toán nhưng là những nước nhất nh́ thế giới về công nghệ thông tin, điện tử và những công nghệ tiên tiến khác. 

Một người quen, bây giờ là giảng viên đại học, thổ lộ với tôi rằng anh đă từng là học sinh giỏi toán. Anh đă được chọn vào những "ḷ" luyện toán để cuối cùng được tuyển chọn tham gia thi Olympic Toán. Anh đă được dạy giải những bài tích phân sao cho thật nhanh nhưng không ai nói cho anh biết ư nghĩa của tích phân là ǵ. Măi đến sao nầy anh mới biết tích phân chẳng qua là một dạng của phép tổng (summation). Hóa ra khi những cuộc thi Olympic được xem như những cuộc thi giao hữu ở những nước khác th́ chính phủ Việt Nam xem như là một "quốc sách" đào tạo những học sinh chỉ biết làm toán như cái máy để đi thi lấy tiếng, nhưng không biết áp dụng.

Tôi vào một hiệu sách xem qua một số sách đại học. Những kệ sách giáo khoa đại học tại các nhà sách phản ảnh khuynh hướng học nặng về lư thuyết, phần lớn bày bán những sách bài giải Toán, Lư, Hóa. Sách giải toán chiếm gần 80% bao gồm đủ mọi đề tài: H́nh học, Đại số, Vi tích phân v.v... Sách giáo khoa viết ở một tŕnh độ b́nh thường, không hơn những quyển sách xuất bản vài chục năm trước. Tác giả vẫn c̣n lấn cấn trong việc giải thích một khái niệm khó hiểu bằng một ngôn ngữ giản dị. Các sách giáo khoa tiếng Anh rất thành công về mặt nầy, v́ mỗi lần tái bản người học có thêm dữ liệu, h́nh ảnh minh họa, nhiều thí dụ, bài tập liên quan và đề nghị các sách tham khảo đọc thêm. Không có sách giáo khoa chuyên đề cho những năm cuối đại học hay sau đại học. Trừ một vài quyển sách Vật lư của hai nhà Vật lư Nga nổi tiếng, L. Landau và E. Lifshitz, rất ít sách dịch từ tiếng nước ngoài. Bản dịch tiếng Việt từ những quyển vật lư và khoa học đại chúng tiếng Nga là những bản dịch đồ sộ rất công phu, dễ hiểu. Giá cả lại phải chăng, nếu không nói là quá rẻ (sách dày 800 trang, giá $8 USD). Sách dịch không thịnh hành có lẽ v́ độc giả quá ít, không bán được. Điều nầy rất khác biệt với Nhật Bản, hầu hết những sách nổi tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc... của tất cả mọi môn học, ngành nghề, từ khoa học đến văn học đều có bản tiếng Nhật. Sách dịch trở thành một nguồn tri thức ngoại nhập và món ăn tinh thần không thể thiếu của người Nhật Bản hơn hai trăm năm nay. 

Các đại học Việt Nam hiện nay chỉ là nơi cung cấp nhân lực có học vị kỹ sư hoặc cử nhân cho những doanh nghiệp. Mặc dù nhiều đại học đă có kinh nghiệm giáo dục, nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và khoa học tự nhiên với chiều dài hơn nửa thế kỷ, cộng với vài chục ngàn tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ, đại học Việt Nam vẫn chưa đạt đến tŕnh độ là nơi cung cấp một nền tảng tri thức cần thiết trong quá tŕnh "nghiên cứu và phát triển" cho việc phát minh và biến phát minh thành những sản phẩm thương măi hữu dụng. 

Nguyên nhân chính đầu tiên vẫn là tiền đâu. Cái ṿng luẩn quẩn v́ không tiền nên không thể nghiên cứu sản phẩm bán ra tiền. Đâu là bước đột phá? Tiếp xúc với đồng nghiệp làm việc tại đại học và các viện nghiên cứu Việt Nam, tôi được biết có những đề án nghiên cứu rất hấp dẫn nhưng kinh phí nhận được từ trung ương chỉ có vài ngàn USD cho một đề tài, trong khi với đề tài tương tự tại các nước Âu Tây số tiền cần thiết phải 50 đến 100 lần nhiều hơn. Có một điều phấn khởi và đáng mừng là nghe đâu Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tăng gia kinh phí nghiên cứu khoa học theo đúng tiêu chuẩn quốc tế. Có nghĩa là kinh phí sẽ được tăng lên gấp 10 hoặc thậm chí 100 lần cho các đề án cấp nhà nước. Nếu theo phương thức "nghiên cứu khoa học là quá tŕnh biến tiền thành tri thức", th́ tri thức gặt hái được sẽ tỉ lệ thuận với số tiền cung cấp nếu được sử dụng đúng chỗ. V́ nguy cơ tham nhũng, ta cũng chớ vội mừng khi tiền có gia tăng nhưng hội đồng thẩm định đề án nghiên cứu và cơ chế giám sát sử dụng kinh phí chưa được thành h́nh. 

Tham nhũng trong khoa học [1] sẽ rất khó phát hiện v́ những thành quả và thất bại trong nghiên cứu khoa học phần lớn vượt ra ngoài sự hiểu biết và cách lư giải thông thường. Nếu không có một hội đồng chuyên môn độc lập thẩm định các đề án và cơ quan giám sát kinh phí khi đề án được chấp nhận thực thi, và nếu không có những biện pháp phát hiện và trừng trị những vi phạm tài chính, tham nhũng trong khoa học sẽ lan tràn và xảy ra trong nhiều t́nh huống ngụy trang rất tinh vi. Với các đề án cấp nhà nước, hội đồng thẩm định cần phải có ư kiến phản biện của chuyên gia nước ngoài về mục tiêu, phương pháp nghiên cứu, kết quả có thể gặt hái và các khoản kinh phí của đề án.  

Đại học tại chức và đại học địa phương là một hiện tượng đặc thù Việt Nam nhưng khá phổ biến, manh nha từ nhu cầu kinh tế, sự tôn vinh bằng cấp hơn là v́ học thuật. Ở nhiều đại học, số "sinh viên" tại chức cũng gần bằng sinh viên thực thụ. Nhu cầu có bằng cử nhân, kỹ sư nở rộ trong giới quan quyền cho việc trang sức địa vị và thăng quan tiến chức. Người dạy có thêm thu nhập, người được "dạy" sẽ có mảnh bằng với điều kiện thi cử dễ dăi, đôi bên đều có lợi đúng theo nguyên tắc bách chiến bách thắng "win - win" của chủ nghĩa kinh tế thị trường. Chỉ có nền học thuật th́ suy đồi và bị thui chột. 

Đại học địa phương được lập nên chỉ cần một ṭa nhà với một vài phân khoa. Gần Sài G̣n, người ta thấy có đại học B́nh Dương, đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, đại học Tiền Giang. Ở miền Tây, cách đại học Cần Thơ non 100 km th́ là đại học An Giang. Đại học Bạc Liêu gần đó rồi sẽ được thành lập. Tôi nghĩ không lâu cũng sẽ có đại học Kiên Giang, đại học Đồng Tháp v.v... Nó đi ngược khuynh hướng tập trung hóa các đại học nhỏ thành một đại học lớn để thống nhất giáo tŕnh, nâng cao chất lượng giáo dục và đơn giản hóa cung cách quản trị hành chính. Việc nầy chính phủ Úc thực hiện rất thành công và hiệu quả 15 năm trước. Nó cũng đi ngược lại chính sách thành lập đại học đẳng cấp quốc tế mà các bậc trí giả trong, ngoài nước bỏ nhiều công sức hoạch định, bàn tán sôi nổi từ mấy năm qua. 

Trong một thập niên gần đây, chính phủ đă liên tục kêu gọi sự đóng góp và hợp tác chất xám Việt Kiều. Thậm chí, có những đại học như đại học Cần Thơ viết thư ng kêu gọi hợp tác quốc tế trên b́nh diện tổ chức cũng như cá nhân. Cũng theo chiều hướng nầy, không ít những người Việt Nam làm công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật tại nước ngoài đều mang một hoài băo phục vụ quê hương. Tuy nhiên sự kêu gọi của chính phủ như một lời chào khách sáo, chỉ mang tính chất tuyên truyền không cụ thể. Thói quen ngửa tay nhận viện trợ vô h́nh trung đă thâm nhập rất sâu vào tư duy của giới giáo dục và làm công tác khoa học. Muốn tận dụng chất xám Việt Kiều th́ chính phủ phải có một ngân khoản đầu tư cho những vấn đề hợp tác cụ thể lâu dài bao gồm từ việc nhỏ như chuyện đi lại ăn ở, chi phí hội thảo, mở những lớp học chuyên đề, tổ chức dịch thuật sách giáo khoa đến chuyện lập ra những tiện nghi giáo dục cho con cái, nhà ở cho những người muốn trở về hợp tác trung hạn hoặc dài hạn.

Phần lớn cá nhân những người làm công tác khoa học tại nước ngoài chỉ ở mức lương trung b́nh. Họ có thể rất giàu về kiến thức chuyên môn, nhiều nhiệt t́nh nhưng không sung túc trên mặt tài chính. Những cá nhân nầy thường tận dụng những chuyến đi hội thảo hoặc thăm nhà tại Việt Nam bỏ th́ giờ và tiền túi tự nguyện đến các đại học và viện nghiên cứu trong nước để trao đổi chuyên môn. H́nh thức tự nguyện nầy đă có từ nhiều năm qua nhưng v́ bản chất "tự nguyện" nên thường chỉ là cục bộ, ngắn hạn. Hiệu quả như cơn gió thoảng trên mặt nước hồ thu.

Từ những kinh nghiệm cá nhân, tôi cảm thấy có một sự chênh lệch về mục đích giữa chủ và khách. Phía chủ cần tiền, cần tri thức, cần sách vở, cần tài liệu nhưng có lẽ tiền là quan trọng hơn hết, trong khi khách chỉ có thể cung cấp tri thức, tài liệu trong ngành chuyên môn của ḿnh mặc dù những tri thức nầy biết sử dụng khéo léo cũng có thể là nguồn tiền của vô tận. Cho đến bây giờ, lời kêu gọi hợp tác và lợi dụng chất xám Việt Kiều chỉ là lời nói suông không có giá trị thực tế ngay trên b́nh diện giao lưu đơn giản.

Một cơ duyên đă đưa tôi đến tỉnh B́nh Dương. B́nh Dương đứng đầu cả nước trong việc thu hút những khoản đầu tư của các công ty nước ngoài chủ yếu là Đài Loan và Hàn Quốc. Ngoài vị thế chiến lược ở gần Sài G̣n, B́nh Dương xây dựng nhiều hạ tầng cơ sở và tạo nhiều điều kiện kinh doanh dễ dăi cho công ty nước ngoài. Khu công nghiệp "Vietnam Singapore Industrial Park" trên quốc lộ nối liền Sài G̣n - B́nh Dương là một biểu hiện thành công chính sách đầu tư của tỉnh B́nh Dương.

Trên những hương lộ dẫn đến những huyện Tân Uyên, Tân Lương tiếp giáp với chiến khu D khi xưa, xuất hiện rất nhiều nhà máy sản xuất phần lớn của các trung tiểu xí nghiệp Đài Loan. Nếu không có những hàng chữ Hoa và chữ Anh bên ngoài ṭa nhà th́ không ai biết đó là những công ty Đài Loan. Đọc được tên công ty nhưng bảng hiệu không cho biết họ sản xuất những sản phẩm ǵ. Phương thức "úp úp mở mở" nầy có lẽ phản ảnh lối kinh doanh âm thầm không khoa trương, làm giàu trong im lặng cố hữu của người Hoa, khác hẳn kiểu "chơi nổi" của một vài doanh nhân nước ta; chưa vào "top 100" hay thậm chí "top 1000" người giàu nhất hành tinh th́ đă có người mua chiếc xe hơi Maybach 62 đắt nhất thế giới đáng giá 1 triệu USD chạy rong làm thiên hạ lác mắt cho vui! Những người Đài Loan, Hàn Quốc làm việc ở đây dễ dăi chấp nhận với nếp sống yên b́nh của một tỉnh lỵ. Các quán ăn đặc sản Đài Loan mọc lên rải rác trên quốc lộ. Thực khách ra vào dập d́u ở các quán "mộc tồn" hữu nghị Hàn Việt với các món "cờ tây" làm theo khẩu vị ta lẫn khẩu vị Hàn.

Những đầu tư nhỏ đưa đến đầu tư lớn. Trong những ngày tôi ở Việt Nam, giới truyền thông đưa bản tin hàng đầu về tập đoàn Kumho sản xuất vỏ xe nhất nh́ của Hàn Quốc chính thức kư kết một văn kiện làm nhà máy tại B́nh Dương. Những đầu tư lớn nhỏ nầy đă hoàn toàn làm thay đổi bộ mặt nông thôn tỉnh B́nh Dương. Những khu rừng cao su rộng lớn âm u, có một thời là một trong những nguồn sản xuất quan trọng cả nước, bây giờ đă được san phẳng để cung cấp mặt bằng cho những khu công nghiệp tương lai. Những thanh niên, thiếu nữ ở đây bây giờ không phải những anh nông dân hay cô thôn nữ quanh quẩn trên những mảnh vườn cha ông để lại chỉ biết trồng trọt, chăn nuôi. Họ t́m mọi cách để nâng cao tŕnh độ học vấn và trau dồi tiếng Anh để xin việc ở những công ty nước ngoài. Họ sẽ được trả lương khoảng 1 triệu VND/tháng ($ 60 USD) cho lao động b́nh thường, 2 triệu ($ 120 USD) cho công việc văn pḥng. Số lương nhỏ nhưng đă được nhà nước qui định, đủ để giúp người dân thoát khỏi cảnh nghèo khó ở thôn quê.

Một h́nh ảnh thanh b́nh của nông thôn B́nh Dương:
đám cưới nhà quê có ban nhạc vườn với ca sĩ trẻ đẹp và văn nghệ karaoke giúp vui.

Những trung tiểu xí nghiệp sản xuất những sản phẩm mang tính chất "trung tiểu" như giày dép, quần áo, đồ gia dụng, các sản phẩm chế biến từ gỗ v.v... Việt Nam mang lại cho doanh nghiệp nước ngoài một nguồn lao động rẻ. Ngược lại những xí nghiệp mang công việc cho người dân địa phương, nhưng trên đường dài phát triển không mang một ích lợi kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Công nghệ điện tử, tin học, y sinh học, công nghệ nano, công nghiệp sản xuất máy móc chính xác (precision machinery) là những ngành mũi nhọn tạo nên sự giàu có cho một đất nước, vẫn chưa thấy manh nha ở các khu công nghiệp. Tất cả đầu tư nước ngoài theo sự quan sát phiến diện của tôi chỉ ở công nghệ "trung" đến công nghệ "thấp" bao gồm công nghệ lắp ráp. 

B́nh Dương không phải là nơi độc nhất có nhiều khu công nghiệp. Trên quốc lộ 1 về miền Tây đi qua tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, những khu công nghiệp lớn nhỏ mọc lên như nấm. Thành lập khu công nghiệp có lẽ thành một cái "mốt" trên toàn quốc. Dù không phải là một nhà nghiên cứu kinh tế, tôi mang một cảm giác là các tỉnh tranh nhau thu hút đầu tư, nếu không được đầu tư nước ngoài th́ đầu tư nội địa. Hệ quả là số cung nhiều hơn số cầu. Nhiều khu công nghiệp không rộng lớn nhưng đất đai thừa thải, cả khu chỉ có lèo tèo một vài nhà máy nội địa. Cũng giống như các khu phố của người Việt hải ngoại, khi có một tiệm bán phở đắt khách th́ vài tháng sau sẽ có một tiệm phở khai trương kế bên. Cứ như thế mà phát triển th́ một khu phố nhỏ sẽ có năm sáu quán phở cùng thi đua thu hút số khách ăn nhất định.

Tính sáng tạo và đa dạng hóa không thấy ở những khu công nghiệp. Cần Thơ nằm ở một vị trí chiến lược trung tâm tiếp giáp với Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang, là vựa lúa Việt Nam, một khu vực với tiềm năng vô hạn trong việc khai thác tôm cá nước ngọt, hải sản, và cũng là trung tâm sản xuất hoa quả nhiệt đới toàn quốc, nhưng tôi không thấy một khu "nông công nghiệp" nào trong đó có những nhà máy cao cấp chế biến nông phẩm, đóng hộp hoa quả ngũ cốc.  Được gọi là Tây Đô nhưng Cần Thơ đă mất đi nhiều dịp để biến thành phố nầy trở thành một trung tâm sản xuất nông ngư nghiệp cho cả nước.

Việt Nam đang chuyển ḿnh để hội nhập thế giới và thế giới cũng đang giang tay chấp nhận Việt Nam như một đối tác đáng tin cậy. Việt Nam sẽ là một con rồng châu Á, bay lên như cá vượt vũ môn. Tuy rằng có muộn nhưng c̣n hơn làm thân phận con cá chép lượn lờ lửng lơ măi trong ao! Nhưng cho đến bây giờ, con rồng Việt Nam sẽ bay được bao xa, theo phương hướng nào vẫn là một hàm số có nhiều ẩn số. Trước những thắng lợi cục bộ, nhà nước cũng không quên nhắc nhở người dân qua những chương tŕnh TV, radio, rằng "một lần nữa, những thành quả rực rỡ về kinh tế và ngoại giao là một bằng chứng hùng hồn khẳng định đường lối lănh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và nhà nước". Sao chỉ có Đảng và nhà nước, c̣n sáng kiến nhân dân ở đâu? 

Trên đường phố Sài G̣n thỉnh thoảng xuất hiện những băng rôn điện tử to đùng "Thành phố Hồ Chí Minh: thành phố của anh hùng". Vâng, theo tôi đây là thành phố của những anh hùng chạy xe ôm vài ngàn đồng cho một cuốc xe về nuôi vợ con, bất kể những buổi trưa nắng gắt hay những cơn mưa tầm tă; anh hùng là những người buôn bán nhỏ bên lề đường, ở những quán cóc bán cà phê, cơm, phở; những anh thợ hớt tóc tận tâm phục vụ khách hàng với một loạt nghiệp vụ làm đẹp kể cả cạo mặt, lấy  ráy tai với giá bèo 60 cents US; anh hùng là một đoàn quân nam phụ lăo ấu bán vé số từ 7 đến 70 tuổi nhẫn nại năn nỉ khách mua ở tất cả hang cùng ngơ hẻm. Tôi cũng thấy những anh hùng nông dân "miệt vườn" thấp cổ bé miệng sinh sống dọc theo những khúc đường liên tỉnh gần quê tôi, mịt mù bụi đường những ngày nắng ráo, lầy lội bùn đất những ngày mưa. Họ phải hít thở hàng tấn bụi mỗi ngày trong 2, 3 năm qua, con cái họ phải chịu những chứng bệnh hen suyển với một thái độ chấp nhận số phận, không một lời than văn, trên một đoạn đường đầy hang lỗ không hơn 10 km, chỉ v́ nhà nước "thiếu" tiền tu sửa. Những "anh hùng" nầy là giai cấp nghèo "mới" trong nền kinh tế thị trường, nơi mà sự phân cực giàu nghèo càng lúc càng gia tăng. Họ là những thành phần cốt cán làm xă hội chuyển ḿnh, làm ăn lương thiện, chắt bót từng đồng, nhưng bị xă hội bỏ quên.

Nh́n sự phát triển của khu công nghiệp B́nh Dương, qua sự tiếp xúc với những đồng nghiệp làm công tác khoa học và nh́n vào chính sách phát triển khoa học công nghệ của nhà nước, phải nói là chưa có sự đối thoại và liên thông giữa khoa học, kinh tế, doanh nghiệp và công nghiệp sản xuất. Nếu nhà nước không có những chính sách cụ thể, "ngôn hành hợp nhất", dùng người đúng chỗ, và nếu tiềm năng chất xám Việt Kiều không được sử dụng triệt để, hệ quả tất nhiên sẽ là nội lực quốc gia phát xuất từ những thành quả nghiên cứu của khoa học kỹ thuật tạo ra tiền của, vật chất chắc c̣n lâu lắm mới thành h́nh. Măi măi, Việt Nam chỉ là nơi tập họp của "anh hùng" xe ôm, những người mua gánh bán bưng lam lũ không biết bao giờ thoát ra được cái ṿng luẩn quẩn của đói nghèo.

Khi đề cập đến sự phát triển và giàu có của Singapore, Lư Quang Diệu có lần trả lời báo giới Việt Nam "Tôi không phải là người tài, nhưng tôi biết sử dụng người tài đúng chỗ".     

12 March 2007

Ghi chú

1. Ngụy tạo, đạo văn và tham nhũng trong nghiên cứu khoa học
 

 
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc, cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long). Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp  Bachelor Eng. (1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm những bài viết của anh Trương Văn Tân trên ERCT

Cảm tưởng xin gởi về :  tvtan@erct.com

© "Khi phát hành lại bài này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ
www.erct.com"