|
Đọc "The
5th miracle"* của Paul Davies
Trương
Văn Tân
|
|
"Sự sống là ǵ?", "Vũ trụ được thành h́nh như thế nào?", "Con
người đến từ đâu?" là những câu hỏi tuy đơn giản nhưng lại là đối
tượng nghiên cứu đầy thách thức và phức tạp trong khoa học. Cho đến
nay chưa ai đưa ra được câu trả lời thỏa đáng.
Mặt khác, chúng không chỉ đơn thuần liên quan đến khoa học mà c̣n
là những khởi nguyên thiêng liêng của tín điều tôn giáo và cảm xúc
tâm linh. Có hay không phép mầu của Thượng Đế?
Trong sự ṭ ṃ t́m kiếm câu trả lời, bằng tư duy phân tích và
phản biện khách quan anh Trương Văn Tân đă đọc và phê b́nh quyển
"The 5th miracle" (Phép mầu thứ 5) của tác giả Paul Davies trong nỗ
lực truy t́m nguồn gốc và ư nghĩa của "sự sống".
Năm 2006, anh cũng đă phê b́nh quyển "The quantum and the lotus"
(Lượng tử và hoa sen) của Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận, đề
cập đến sự tương quan giữa Khoa học và Phật giáo.
Hai bài viết, hai góc cạnh nh́n vào một vấn đề. Anh Tân có quan
điểm "vô thần", nhưng cái vô thần của anh được đặt trên nền tảng của
sự chính xác khoa học, tuyệt không liên quan đến những giáo điều
chính trị mơ hồ. ERCT hân hạnh đăng hai bài phê b́nh thú vị này để
giới thiệu cùng các anh chị Exryu và bạn đọc gần xa.
Exryu Cuối Tuần
http://www.ERCT.com
|
|

"Con người đến từ đâu?"
hay "Sự sống là ǵ?" là những câu hỏi đơn giản nhưng hơn
2.000 năm qua nó đă làm cho người ta băn khoăn và nỗ lực t́m lời
giải đáp. Những câu hỏi đó khơi gợi lên nhiều cảm xúc sâu xa đi vào
tâm linh con người. Từ lâu, con người đă biết "Tôi tư duy nên tôi
hiện hữu" nhưng không t́m được câu trả lời về nguồn gốc hiện hữu
của ḿnh. Đối với những người không dễ dàng tin vào sự an bài cho
rằng Thượng Đế tạo ra muôn loài, th́ hành tŕnh t́m kiếm nguồn gốc
sự hiện hữu của mọi sinh linh trên quả đất dù khó khăn nhưng càng
lúc càng sôi động theo các bước tiến khoa học. Nếu ta xuất phát từ
một thắc mắc rằng: một tảng đá và các tồn tại sống như động thực vật
kể cả con người có các nguyên tố cấu tạo (ôxy, hydro, nitơ, cacbon,
phospho, lưu huỳnh, kim loại v.v…) giống nhau, th́ tại sao tồn tại
sống là vật có khả năng chuyển hóa (metabolism) để sống c̣n và khả
năng sinh sôi nẩy nở để duy tŕ ṇi giống? Ở con người, sản phẩm
đỉnh cao của sự sống, những hành động hay biểu cảm như chạy, nhảy,
đi, đứng, cười, nói, la, hét, suy tư, hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si…
xuất hiện. Con người "hữu t́nh" hoàn toàn khác biệt với tảng đá "trơ"
(non-living) dù rằng giống nhau ở yếu tố cấu tạo. Những sách giáo
khoa sinh học dạy rằng sự sống xuất hiện trên quả đất đă nhiều tỷ
năm nhưng không dạy sự sống được bắt đầu ra sao. Đơn giản là chúng
ta chưa có câu trả lời cho câu hỏi này.
Nếu nguồn gốc của sự sống không phải từ phép mầu của Thượng Đế th́
nguồn gốc này hẳn chứa nhiều việc rất kỳ bí mà trong nhiều năm qua
đă có rất nhiều nhà khoa học bao gồm sinh học, hóa học, vật lư, toán
học thậm chí thiên văn học đổ xô vào nhiều công tŕnh nghiên cứu để
truy t́m câu trả lời. Các thành quả nghiên cứu nay đă có câu trả lời
dứt khoát, hay đang tiến gần đến câu trả lời, hay vẫn c̣n mù mịt
chưa có lời giải đáp. Trong sự ṭ ṃ t́m câu trả lời, tôi đọc quyển
"The 5th miracle: The search for the origin and meaning of life"
(Phép mầu thứ 5: Truy t́m nguồn gốc và ư nghĩa của sự sống) của tác
giả Paul Davies.
Giáo sư Paul Davies là nhà vật lư lư thuyết và vật lư thiên văn đă
từng giảng dạy tại Anh (Đại học Cambridge) và Úc (Đại học Adelaide,
Đại học Macquarie). Ông được biết đến cho những công tŕnh nghiên
cứu về hiện tượng hấp dẫn lượng tử. Ngoài ra, ông viết hơn 20 quyển
sách về khoa học đại chúng. Ông là một trong những tác giả hiếm hoi
hàng đầu trên thế giới về bộ môn này.
Đặc tính của tồn tại sống và định luật thứ hai
Trong cuộc truy t́m nguồn gốc và ư nghĩa của sự sống, tác giả Davies
tiếp cận vấn đề từ góc nh́n vật lư và đưa ra những đặc tính của vật
thể/tồn tại/cơ cấu sống để phân biệt với vật thể "trơ". "Tự quản"
(autonomy) là một đặc tính trung tâm của các tồn tại sống. Từ đặc
tính "tự quản", tồn tại sống mới có khả năng "sinh sản" tự sao chép
bản thân tạo ra thế hệ kế tiếp và "chuyển hóa" (metabolism) bằng
cách biến các quy tŕnh hóa học phóng thích và sử dụng năng lượng
cho việc tự nuôi dưỡng, di động, sinh sản và xây dựng bản thân.
Khác với vật thể "trơ" từ một mớ hỗn độn của các phân tử, hay nhiều
lắm là các tinh thể khoáng chất có trật tự thô sơ được h́nh thành
theo những quy luật vật lư đă biết, tồn tại sống có quá tŕnh xây
dựng bản thân bằng một trật tự cực kỳ tinh vi với sự sắp xếp "từ
dưới lên", từ các phân tử sinh học (protein), tế bào, mô có chức
năng nhất định ở mức vi mô đến h́nh hài của các động thực vật ở mức
vĩ mô tuyệt đối theo mệnh lệnh của thông tin di truyền. Điều này
giống một đống gạch đá bừa băi tự thân đă dựng lên một ṭa lâu đài
kỳ vĩ với những căn pḥng được trang trí diễm lệ và có đầy đủ chức
năng. Theo nhà sinh vật Monod [1], những hoạt động "tự quản" hoàn
toàn tự chủ, tự phát có định hướng nội tại trong một quy tŕnh chính
xác, chặt chẽ và "độc lập tự do" trước những tác nhân ngoại tại. Hạt
cát, tảng đá, ḥn núi không có những đặc tính này. Trật tự tinh vi
của cơ cấu động thực vật là kết quả của một quá tŕnh phát triển kỳ
diệu của tồn tại sống mà từ vài ngàn năm trước con người đă nhận
thức và ngưỡng mộ dù mơ hồ. Nhưng động lực và quy luật nào đă dẫn
đến sự tự quản, khả năng sinh sản, và các quy tŕnh chuyển hoá của
tồn tại sống. Cho đến thời điểm hiện tại, không ai biết.
Khi nghiên cứu khoa học xuất hiện và khi con người biết chế tác các
loại kính hiển vi để nh́n vào các cấu trúc nhỏ, trật tự vi mô của
vật thể sống đă mang đến nhiều sự kinh ngạc. Ta chỉ có thể kết luận
rằng tồn tại sống là vật thể kỳ lạ. Trước sự kỳ lạ này tác giả
Davies đặt ra một câu hỏi: việc xây dựng và phát triển của các tồn
tại sống - từ điểm xuất phát hỗn độn của các phân tử tiến đến một
cấu trúc có độ trật tự cực kỳ chính xác - phải chăng là một điều
nghịch lư theo quan điểm nhiệt động học? Định luật thứ hai nhiệt
động học cho rằng trong một hệ thống cô lập sự hỗn độn
(entropy) gia tăng. Nó là định luật cơ bản của thiên nhiên không có
ǵ có thể đi ngược lại. Khi đề cập đến sự quan trọng của định luật
thứ hai, nhà vật lư học người Anh Arthur Eddington không một chút
khách khí phát biểu dứt khoát rằng, "Nếu lư thuyết của bạn đi
ngược lại định luật thứ hai của nhiệt động học, tôi chỉ có thể cho
bạn sự vô vọng; nó không là ǵ cả và sẽ sụp đổ trong sự sỉ nhục tột
cùng". Như vậy, việc xây dựng và phát triển của các tồn tại sống
với một trật tự vô cùng chính xác có phải là một nghịch lư của định
luật thứ hai? Điều này không thể. Có một thời kỳ khi đứng trước cấu
trúc toàn bích của tồn tại sống, các nhà khoa học tiền bối như
Helmholtz, Eddington, thậm chí Schrödinger, nghi ngờ rằng định luật
thứ hai không thể áp dụng vào hệ thống sinh học. Tác giả Davies qua
nhiều thí dụ của các quy tŕnh sinh học chứng minh rằng các tồn tại
sống là một hệ thống không cô lập mà là hệ thống mở liên
thông với môi trường xung quanh và luôn luôn tuân thủ theo định luật
thứ hai. Như vậy, các tồn tại sống đă vượt qua và đáp ứng yêu cầu
của cửa ải vật lư khó khăn này. Nhưng điều này không có nghĩa định
luật thứ hai có thể giải thích về nguồn gốc sự sống. Nó hoàn toàn
bất lực. Nó chỉ thiết lập chuẩn mực về sự hỗn độn và trật tự. Mà ở
đây, chúng ta đang truy t́m nguồn cội làm nổ ra trật tự đó.
Thí nghiệm Miller - Urey
Trong một thời gian dài hàng ngàn năm, con người từng mang niềm tin
cho rằng sự sống đă xuất hiện một cách tự phát. Đến năm 1862, Louis
Pasteur phá vỡ niềm tin này bằng một loạt thí nghiệm chứng tỏ rằng
chỉ có vật sống mới có thể sinh ra vật sống; vật trơ (sterile) măi
măi là vật trơ (trang 83). Cùng thời, Darwin xuất bản quyển sách
lừng danh "Nguồn gốc các loài". Dù Darwin loại trừ sự hiện
diện của Thượng Đế trong quá tŕnh tiến hóa bởi sự chọn lọc tự nhiên,
nhưng ông không có lời giải thích cho biết tồn tại sống đầu tiên đă
xuất hiện như thế nào.
Qua nhiều năm tháng, việc truy t́m nguồn gốc của tồn tại sống từ
những thực thể trơ không những không nguôi ngoai mà càng gay gắt.
Năm 1952, cậu học tṛ Stanley Miller là nghiên cứu sinh trong pḥng
thí nghiệm của giáo sư Harold Urey nảy ra ư định tổng hợp axit amin,
một hợp chất hóa học dẫn đến việc thành h́nh phân tử sinh học
protein, mô phỏng theo các điều kiện của quả đất nguyên thủy. Miller
cho vào hệ thống thực nghiệm các loại khí hydro (H2),
ammonia (NH3), mêtan (CH4), hơi nước mà Miller
nghĩ rằng dồi dào trong khí quyển quả đất 3,8 tỷ năm trước. Sau đó,
một tia lửa được kích hoạt trong hệ thống phản ứng mô phỏng ánh sáng
mặt trời và tia sét. Một tuần sau, Miller t́m thấy nhiều hợp chất
hữu cơ trong đó có axit amin trong dung dịch phản ứng. Miller và
Urey hy vọng những hợp chất này tương tự như "súp" nguyên thủy mà từ
đó sự sống được thành h́nh. Những năm sau đó, người ta lập lại thí
nghiệm với các nguồn năng lượng khác nhau như đèn tử ngoại hay nhiệt
để thay cho tia lửa. Hóa ra, thí nghiệm tổng hợp axit amin dễ như
trở bàn tay.
Như vậy, phải chăng từ vài hợp chất đơn giản cộng với năng lượng,
con người có thể tạo ra sự sống từ ống nghiệm? Tuy nhiên, niềm vui
này đến quá sớm. Theo thời gian, hào quang của thí nghiệm Miller –
Urey từ từ tan biến. Những dữ liệu địa chất cho thấy ammonia và
mêtan không phải là loại khí dồi dào trong bầu khí quyển của quả đất
ban sơ như Miller đă ức đoán. Khí hydro là loại khí nhẹ, chúng nhanh
chóng bay đi trước khi phản ứng xảy ra. Nhưng dù cho axit amin có
trữ lượng dồi dào, sự kết hợp của các đơn vị axit để tạo thành
protein, một phân tử sinh học chính yếu, là một hành tŕnh vô cùng
gian nan như sẽ được đề cập ở phần sau. Một đặc điểm quan trọng khác
là các axit amin được tổng hợp nhân tạo trong ống nghiệm cho thấy có
hai dạng trái (như bàn tay trái) và phải (như bàn tay phải) (H́nh
1). Axit amin dạng trái hay dạng phải đều có hóa tính giống nhau
nhưng sắp xếp h́nh học 3 chiều khác nhau. Bàn tay trái không thể
mang găng tay phải và ngược lại. Axit amin thiên nhiên trong tồn tại
sống chỉ hiện hữu ở dạng trái. Chưa ai biết tại sao, nhưng đặc tính
h́nh học rất quan trọng trong việc thành h́nh phân tử protein.

H́nh
1: Axit amin ở dạng trái và phải.
(Nguồn: Google)
"Phần
cứng" và "phần mềm"
Ba thập niên vừa qua, cộng đồng khoa học đă bỏ nhiều công sức vào
các công tŕnh nghiên cứu về công nghệ nano chế tạo nhiều loại vật
liệu và thiết bị nano. Thật ra, công nghệ nano đă xuất hiện trong
thiên nhiên từ nhiều tỷ năm ở các thực thể động thực vât. Tác giả
Davies ví tế bào như chiếc máy nano. Chiếc máy này có đầy đủ công cụ
như kéo, kẹp, máy bơm, ống dẫn, van, dây xích, mô-tô và hành xử như
một nhà máy sản xuất đồ vật. Như chiếc máy tính, tế bào được thành
h́nh bởi "phần cứng" lẫn "phần mềm". "Phần cứng" máy tính là cái vỏ
bọc, bàn phím, màn h́nh, linh kiện điện tử được làm bởi chật liệu
plastic, kim loại, thủy tinh và "phần mềm" là các lập tŕnh điều
khiển được cài trong con chip và bộ nhớ. Sự kết hợp giữa "phần
cứng" và "phần mềm" làm cho máy tính hoạt động.
Trong tồn tại sống, "phần cứng" là phân tử protein. Chúng là vật
liệu có chức năng xây dựng (collagen trong xương, sụn, gân, da), xúc
tác (enzym), chuyển tải (sắc tố đỏ trong máu), nội tiết tố
(hormone), màng tế bào, dự trữ, miễn dịch, kháng thể. Tồn tại sống
cần vài triệu protein khác nhau để có những chức năng này. Màng tế
bào là "phần cứng" tế bào từ protein giống như cái vỏ plastic của
chiếc máy tính. "Phần mềm" trong tế bào là phân tử DNA chứa các mă
di truyền (gen). DNA là phân tử sinh học, hay nói đúng hơn là pôlime
(cao phân tử) sinh học, mang các mă di truyền. Các phân tử sinh học
như protein hay DNA cũng "trơ" như các phân tử thông thường khác.
Chúng không phải là tồn tại sống. Như chiếc máy tính, khi "phần mềm"
DNA ở trong "phần cứng" tế bào th́ những hoạt động "sống" xuất hiện.
Tế bào chứa DNA là chiếc máy nano tự thân hoạt động.
Mă di truyền là nhóm hóa học có gốc bazơ trong phân tử DNA; có bốn
gốc bazơ: adenine (A), guanine (G), cytosine (C) và thymine (T).
Phân tử DNA là pôlime kép có h́nh dạng chiếc thang xoắn mà các thanh
ngang là hai gốc bazơ nối liền, đơn vị của mă di truyền (H́nh 2).
DNA rất dài chứa vài mươi triệu chiếc thanh ngang. Mă di truyền biểu
hiện đặc điểm về màu sắc, tính chất, vóc dáng, bệnh tật v.v... của
tồn tại sống. Chúng là những khúc đoạn dài ngắn khác nhau của phân
tử DNA chứa những tŕnh tự các bazơ A/G/T/C và mă đại diện cho các
axit amin (có 20 loại axit amin) để tạo ra các loại phân tử protein
cần thiết cho vật thể sống. Trong "phần mềm" tin học người ta dùng
ngôn ngữ nhị phân 0/1 để số hóa mọi thông tin. Mă di truyền trong
DNA đă được "số hóa" bằng ngôn ngữ "tứ phân" A/G/T/C của bốn gốc
bazơ. Tàng trữ thông tin bằng mă di truyền là một đặc tính của sự
sống. Không những chỉ được tàng trữ, mă di truyền c̣n được sao chép,
truyền tải và kế tục cho thế hệ sau.

H́nh 2: Phân tử DNA có cấu trúc chiếc
thang xoắn h́nh thành
bởi pôlime kép được nối bởi những cặp gốc bazơ.
(Nguồn: Google)
DNA và protein là cặp bài trùng cho sự sống. DNA như một người chỉ
đạo, khi cần thiết sẽ phát lệnh cho tế bào "Làm protein!". Để
thực hiện việc này DNA cần trợ tá là phân tử mRNA (m = messenger,
người đưa tin). Phân tử mRNA tiếp nhận các mă đại diện cho axit amin
từ DNA và đưa tin đến phân tử tRMA (t = transfer, thuyên chuyển).
Một phân tử tRMA mang trên "vai" một phân tử axit amin thực hiện
đúng như mệnh lệnh của DNA và hành xử như chiếc xe tải đi vào "nhà
máy" (phân tử ribosome) rồi dỡ hàng (axit amin). Đoàn xe tRMA cứ thế
nối tiếp nhau dỡ hàng những axit amin khác nhau; chúng lần lượt nối
kết vào nhau theo một thứ tự trong nhà máy ribosome để tạo nên phân
tử protein khổng lồ có chức năng định trước. Có hàng ngàn "nhà máy"
ribosome trong tế bào sản xuất hàng chục ngàn protein khác nhau (trang
107).
Đọc đến đây tôi hoang mang không hiểu nhân tố nào kích động DNA phát
lệnh cho tế bào để có một quá tŕnh chế tạo protein theo một trật tự
xảy ra trong một đám đông hỗn loạn tRNA mang 20 loại axit amin khác
nhau để tạo nên một sản phẩm có chức năng định trước. Ngoài ra, sự
kết hợp của axit amin tạo thành protein không những từ phản ứng hóa
học mà c̣n tùy vào sự ráp nối theo h́nh dạng của phân tử axit amin.
Như ch́a khóa và lỗ khóa, chúng chỉ ráp vào nhau khi có h́nh dạng
tương thích. Nếu axit amin là hỗn hợp có hai dạng trái và phải (H́nh
1) th́ quá tŕnh ráp nối sẽ cực kỳ hỗn loạn và sự sống không bao giờ
xuất hiện. Axit amin thiên nhiên v́ vậy chỉ có duy nhất dạng trái.
Có phải chăng đây chỉ là sự ngẫu nhiên phát sinh từ sự cần thiết của
tồn tại sống hay có những yếu tố khác?
Tác giả Davies tin rằng,
ngoài sự ngẫu nhiên và cần thiết, ta cần phải có yếu tố thứ ba. Mà
yếu tố thứ ba đó là ǵ? Tác giả e dè không diễn tả mà chỉ để độc giả
suy luận.
Nghịch lư "con gà và quả trứng"
Sự sống chỉ xuất hiện khi có "phần mềm" DNA và "phần cứng" tế bào.
Đây là một tiền đề. "Phần mềm" DNA chỉ là vật thể không sống, vô
dụng nếu không có "phần cứng" tế bào bao bọc và cho những tiện nghi.
Ngược lại, tế bào chỉ là cái vỏ không hồn nếu không có DNA. Nếu mang
sự so sánh tế bào chứa DNA với chiếc máy tính có "phần cứng" và "phần
mềm" đi ngược thời gian đến thuở ban sơ 3,8 tỷ năm trước để t́m
nguồn gốc của sự sống th́ một câu hỏi nảy sinh: cái nào xuất hiện
trước, "phần cứng" tế bào hay "phần mềm" DNA? Chúng ta đi vào luẩn
quẩn của "con gà và quả trứng".
Tiếp tục với ư tưởng mô phỏng địa cầu thuở ban sơ của Miller – Urey,
một số nhà khoa học đă đưa ra nhiều giả thuyết và thực hiện một số
thí nghiệm. Một trường phái cho rằng phân tử RNA xuất hiện trước v́
có thể làm cả hai việc vừa mang mă di truyền vừa "đeo" theo ḿnh
axit amin tạo ra protein. Trường phái khác chứng minh ngược lại là
protein phải xuất hiện trước. Trường phái thứ ba bởi Cairns-Smith đi
xa hơn cho rằng cái đầu tiên không phải RNA/DNA mà cũng không phải
protein. Phân tử RNA/DNA chẳng qua là nơi tàng trữ mă di truyền. Như
vậy, nơi tàng trữ không nhất thiết phải là một dạng đặc thù hóa học
như phân tử RNA/DNA, việc này cũng như thông tin vi tính ngày nay có
thể chứa trong băng từ tính, đĩa mềm, đĩa cứng hay USB. Theo
Cairns-Smith, vật chất mang khả năng tàng trữ mă di truyền có thể là
tinh thể đất sét (clay) đầy trên vỏ địa cầu. Tinh thể này bền chắc,
không mong manh như RNA/DNA. Đất sét cũng được biết là một chất xúc
tác tốt trong nhiều phản ứng hóa học. Nhờ đặc tính xúc tác, tinh thể
đất sét chứa mă di truyền có thể chuyển thành phân tử hữu cơ từ đó
tạo thành đơn bào thô sơ. Đây là một giả thuyết thông minh nhưng
không có thí nghiêm thực chứng. Có thể Cairns-Smith đă làm thí
nghiệm nhưng không ra kết quả, đành chọn sự im ĺm.
Điều này cho thấy các nhà hóa học trong nhiều năm đă nỗ lực t́m kiếm
sự sống từ ống nghiệm nhưng cuối cùng vẫn loanh quanh trong lẩn quẩn
"gà và trứng". Giống như "big bang" của vũ trụ, sự ra đời của tồn
tại sống đầu tiên vẫn là điều kỳ bí. Chỉ cần một tồn tại sống
đầu tiên xuất hiện th́ quá tŕnh tiến hóa của Darwin vào cuộc. Tất
cả mọi thứ sau đó sẽ xuôi buồm thuận gió. Ta chỉ cần một cơ cấu
khiêm tốn vừa đủ độ phức tạp (complexity) để kích hoạt tiến hóa
Darwin. Nhưng làm sao để có cơ cấu khiêm tốn đầu tiên? Khi nghe câu
hỏi này, các nhà khoa học thường ṿ đầu rồi th́ thầm như niệm chú,
trả lời, "Chỉ là sự ngẫu nhiên mà thôi".
Tác giả Davies không
bằng ḷng với sự ngẫu nhiên mà phải là một yếu tố khác, "Có ǵ
khác hơn hay chỉ là ngẫu nhiên?".
Hỗn độn và chất lượng
Trong vị trí của một nhà vật lư, tác giả Davies quan sát tồn tại
sống không chỉ trong phạm vi vật lư cổ điển như nhiệt động học mà
c̣n vươn tới ngành tin học của thế kỷ 20 nơi mà thông tin đă được số
hóa. Như đă đề cập, trong tin học người ta dùng ngôn ngữ nhị phân
0/1, phân tử DNA có ngôn ngữ "tứ phân" là bốn gốc bazơ. Nếu cách sắp
xếp tŕnh tự số 0 hay số 1 trong lập tŕnh tin học hay bốn gốc bazơ
A/T/G/C trong DNA càng nhiều th́ máy tính hay DNA càng tàng trữ được
nhiều thông tin, thao tác càng linh hoạt. Nói cách khác, theo tác
giả Davies, một sắp xếp có trật tự như 0101010101 rất nhàm chán (trang
116) v́ chỉ đại diện cho một thông tin, nhưng nếu ta đặt những số 0
và số 1 một cách hỗn độn (random) vô cùng không trật tự th́ ta có
càng nhiều thông tin. Thí dụ dăy số 0101010101 có 10 con số tạo
thành từ số 0 và 1. Nếu ta sắp xếp 0 và 1 một cách hỗn độn ta sẽ có
1024 dăy số khác nhau. Dăy 0101010101 chỉ là một trong 1024 dăy số
đó.
DNA cần chứa nhiều thông tin cho việc sản xuất các loại protein nhằm
duy tŕ sự tinh vi và phức tạp của tồn tại sống để đáp ứng nhu cầu
tự quản, sinh tồn và thích ứng. Mà để có rất nhiều thông tin, sự sắp
xếp tŕnh tự của bốn gốc bazơ A/T/G/C trong DNA càng phải cực kỳ hỗn
độn. DNA sẽ có nhiều thông tin về số lượng, nhưng tồn tại sống cần
nhiều thông tin về chất lượng để đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Điều
oái oăm là số lượng cao không bảo đảm chất lượng cao. Sự hỗn độn có
thể chỉ tạo ra phần lớn thông tin rác. Chúng ta đứng trước một
nghịch lư: cần hỗn độn để có nhiều thông tin chất lượng! Hỗn độn và
chất lượng là hai yếu tố đối kháng mà tác giả Davies ví như ta đổ
xuống sàn nhà những hạt đậu thành mẫu h́nh có sự sắp xếp định trước.
Không có một quy luật khoa học nào có thể chấp nhận được điều này.
Nhưng trên thực tế DNA của muôn loài sinh linh chứa rất nhiều thông
tin di truyền chất lượng và trải qua hàng tỷ năm vẫn tiếp tục tiến
hóa. V́ không có một quy luật khoa học nào khả dĩ lư giải, tác giả
Davies đưa ra một đề nghị táo bạo là DNA phải chăng là một vật thể
của phép mầu (trang 120)! Ông vô t́nh hay cố ư quay lưng trước tư
duy khoa học đưa ra một ư tưởng phảng phất lập luận "thiết kế thông
minh" của phe "Sáng thế" [2].
Suy nghĩ của tác giả Davies
Nhiều nhà khoa học đương đại kể cả Monod [1] nghĩ rằng sự sống xuất
hiện là hoàn toàn ngẫu nhiên, là định mệnh t́nh cờ như trúng lớn số
độc đắc của tṛ chơi xổ số vũ trụ. Tác giả Davies có quan điểm ngược
lại, v́ tồn tại sống có sự tổ chức cấu trúc quá phức tạp và trật tự,
chúng không thể là kết quả của sự tự phát ngẫu nhiên (trang 251).
Ngoài ra ông cho rằng khái niệm về sự sống phải được khởi đầu từ
những dạng thức hóa học và phản ứng hóa học để tạo ra thực thể sinh
học có khả năng tự quản, sinh trưởng và tiến hóa là một suy luận
đáng ngờ. Một mạng lưới hỗn độn của nhiều phản ứng hóa học khó có
thể tạo ra sự sống. Protein là một phân tử được tạo thành bằng 20
loại axit amin khác nhau. Một phân tử protein nhỏ chứa khoảng 100
axit amin. Việc sắp xếp 100 axit amin từ 20 loại khác nhau là con số
thiên hà. Ta sẽ có 10130 cách sắp xếp (sau số 1 là 130
con số zero) hay 10130 protein khác nhau [3], nhưng chỉ
có một số nhỏ protein trong con số vô cùng to lớn này có chức năng
sinh học hữu dụng cho tồn tại sống (trang 91). "Chức năng" được hiểu
trong ngôn ngữ của tác giả Davies là "đặc thù" (specific). Tồn tại
sống không những "tự quản" mà c̣n phải "đặc thù" có mục đích hoạt
động hiểu theo Monod là "teleonomy", một từ đă được dịch ra tiếng
Việt là "hướng đích" [1]. Để có một vài protein hữu dụng từ con số
khổng lồ 10130 hầu như bất khả thi nếu hiểu theo các quy
luật khoa học. Xác suất xảy ra là vô cùng, vô cùng nhỏ. Nhưng đây
chỉ nói đến một phân tử nhỏ protein.
Một tồn tại sống như con người có hàng triệu protein các loại, một
loại có một chức năng đặc thù. Để phục vụ nhu cầu này, 20 loại axit
amin có vô số cách sắp xếp để tạo ra protein theo yêu cầu. Theo sự
tính toán của tác giả Davies th́ có 1040000 (sau số 1 là
40.000 con số zero) cách sắp xếp. Một con số khổng lồ chưa từng được
biết đến. Nếu viết ra con số ta cần 20 trang giấy A4. Xác suất để
tổng hợp được một protein đặc thù là 1 trên 1040000. Một
xác suất cực kỳ nhỏ, nhỏ đến mức giống như có một cơn gió lốc thổi
qua nhà máy làm máy bay thổi tung các thứ linh kiện rồi chúng tự
động ráp thành chiếc Boeing 747 bay v́ vèo (trang 95). Nhưng tồn tại
sống đă thực hiện được điều kỳ diệu này, vượt qua và đối lập mănh
liệt với những cảm nhận thường thức. Từ kịch bản này, tác giả Davies
có lư do không tin vào hóa học như là cơ sở cho nguồn gốc sự sống và
thêm một lần nữa ông gợi ư rằng phải có một tác nhân đứng trên mọi
quy luật khoa học và can dự vào các hoạt động của tồn tại sống. Tác
nhân đó là ǵ?
Trong toàn thể quyển sách, tác giả Davies rất thành công khi dùng
định luật thứ hai và các nguyên lư chuyển hoán năng lượng (energy
transformation) của nhiệt động học để lư giải tận tường các hoạt
động của tồn tại sống như "phát triển", "sinh trưởng" và "chuyển hóa".
Nhưng khi đứng trước điểm khởi đầu của sự sống ông không có một quy
luật nào như một công cụ để diễn giải. Ông không phải người đầu tiên
đứng trước bế tắc v́ một lư do đơn giản: quy luật vật lư bất lực với
sinh học. Hay nói như Einstein, "Ta có thể cảm nhận một cách tốt
nhất rằng khi đề cập đến những vật có sự sống, vật lư học vẫn c̣n
rất sơ khai". Bế tắc này là kẽ hở của hệ thống tri thức về sinh
học. Kẽ hở đó là điều chưa giải thích được hay là điều bí ẩn kỳ diệu,
hay chỉ đơn giản là "Trời sanh" nói theo kiểu b́nh dân ngắn
gọn của người miền Tây Nam bộ. Vô h́nh trung, lập luận của tác giả
Davies lọt vào cái bẫy "God of the gaps" (Thượng Đế của những
kẽ hở). Thượng Đế tồn tại ở những kẽ hở sâu thẳm đó cho đến khi được
ngọn đèn khoa học thắp sáng nhưng cũng có khả năng không bao giờ có
ánh sáng khoa học vươn tới.
Trước những kẽ hở, tác giả Davies không bao giờ sử dụng những từ như
"Thượng Đế" hay "Đấng Sáng tạo". Dường như ông rất ngần ngại chấp
bút viết các từ này vào sách. Là một nhà khoa học, trước những bí ẩn
của thiên nhiên ông khởi đầu ở Chương 1 với một tiền đề rằng, "Công
việc của khoa học là giải quyết những bí ẩn mà không cần nhờ đến sự
can thiệp của thần linh. Chỉ v́ các nhà khoa học vẫn chưa biết đích
xác sự sống khởi đầu ra sao không có nghĩa sự sống không thể có một
nguồn gốc tự nhiên" (trang 31). Nhưng càng đi sâu vào sự truy
t́m nguồn gốc của sự sống ở những chương sau, lư luận của tác giả
Davies bị lung lạc "chân trong chân ngoài" ở đường ranh "Sáng thế"
và "Khoa học". Trước điều chưa giải thích được bằng khoa học, nếu
không phải là phép mầu th́ ông cho rằng đó là những sự kiện đầy bí
ẩn. Ông thuộc phe "Khoa học" ở bên này đường ranh, nhưng khi ông
đứng khựng trước sự kiện sinh học không thể giải thích được bằng các
quy luật vật lư th́ ông tự mâu thuẩn, duy tâm tin rằng, "chúng ta
đang thiếu vắng một thứ ǵ rất cơ bản của toàn thể vấn đề" (trang
17) hoặc "nếu không có một tác nhân từ ngoài", hoặc "nếu
không có một nhà tổng hợp hóa học điêu luyện" (trang 92, trang
131). Một thứ ǵ rất cơ bản, một tác nhân từ ngoài, một nhà tổng hợp
hóa học điêu luyện để giúp thiên nhiên, chúng là ai? Có thể ông nghĩ
đến Thượng Đế nhưng ông đùn đẩy câu trả lời đến độc giả. Nhưng cũng
có thể ông không muốn thiên hạ nh́n ông như là một người mang niềm
tin "Sáng thế", ông ḥa hoăn cho rằng khoa học cần một lư thuyết
toàn diện thỏa măn cho việc lư giải nguồn gốc của sự sống bao gồm cả
các tri thức hiện có và "những ư tưởng mới và triệt để".
Tác giả Davies là một nhà khoa học uyên bác, ông tự nhận sinh học
không phải là chuyên ngành của ông nhưng việc t́m hiểu cặn kẽ về
sinh học trong nhiều năm để viết nên quyển sách là một điều đáng
được trân trọng. Tuy nhiên, ông trích dẫn nhưng không giải thích
những ư kiến trái chiều, ông hay lan man dông dài về một vấn đề
khiến người đọc không nắm bắt được hướng chính của việc đang nghị
luận và cũng không biết ông đang đứng ở vị trí nào. Ở chương cuối
quyển sách với tựa đề, "A bio-friendly universe?" (Một vũ trụ
thân thiện sinh học?), ông đă hé lộ đôi điều suy nghĩ của ḿnh về
nguồn gốc và ư nghĩa của sự sống như một tổng kết cho quyển sách.
Ông không tin hóa học là nền tảng cội nguồn của sự sống. Ông cũng
không tin những quy luật vật lư có thể giải thích được "sự sống là
ǵ?".
Phản ứng hóa học trong thí nghiệm Miller- Urey hay những thí nghiệm
tiếp theo "con gà và quả trứng" không mô phỏng được những ǵ
đă xảy ra trên quả địa cầu của 3,8 tỷ năm trước. Thí nghiệm Miller –
Urey từng tạo nên một không khí vô cùng sôi động kéo dài gần một
thập niên trong cộng đồng nghiên cứu khoa học. Việc Miller phát hiện
trong ống nghiệm của ḿnh những axit amin từ kết quả phản ứng của
các hợp chất vô cơ trong nỗ lực mô phỏng được thứ "súp" hỗn hợp tạo
ra tồn tại sống của thuở ban sơ được xem như một kỳ tích. Không ít
người lạc quan tếu cao hứng cho rằng vào một ngày đẹp trời nào đó sẽ
có những vật thể sống ḅ ra từ ống nghiệm của Miller. Tiếc thay, bao
nhiêu kỳ vọng vào hóa học sụp đổ trong việc truy t́m nguồn gốc v́
những kết quả trong ống nghiệm chưa bao giờ cho đúng sản phẩm giống
hệt thiên nhiên. Con người bó tay. Bộ môn "Sinh học phân tử" nâng
cao tri thức về cấu trúc và hoạt động của các phân tử sinh học như
DNA, RNA, protein ở mức vi mô nhưng nó lại cho nhiều câu hỏi hơn trả
lời. Quy luật vật lư không thể giải thích được tại sao xác suất 1
trên 10130 cho một protein nhỏ, hay 1 trên 1040000
cho một vật thể sống lại có thể xảy ra để có sự nối kết hóa học tạo
ra những protein mang nhiều chức năng hữu ích cho việc kế tục và duy
tŕ sự sống.
Con số 10130 hay 1040000 cho thấy giữa đám hỗn
độn của axit amin sẽ có vô số, vô số phản ứng hóa học làm nên
protein. Việc này không xảy ra trên thực tế. Thiên nhiên không thích
ḍ dẫm; thiên nhiên lách luật t́m đường tắt. Thực tế là tồn tại sống
có đặc tính hướng đích đă "biết" chọn một vài phản ứng để tạo ra
protein có chức năng mong muốn. Đặc tính này đến từ đâu? Đă có một
số nhà khoa học suy đoán rằng nguyên tử hay phân tử sinh học từ bản
chất có khuynh hướng tác động lên nhau để cùng hướng về sự sống (trang
253). Tác giả Davies bác bỏ suy đoán duy tâm này. V́ vậy, theo ông,
cái kỳ bí của sự sống không dựa trên nền tảng hóa học mà nằm trong
quy luật lô-gic của xử lư thông tin mà ông mơ hồ cho rằng tồn tại
sống đă "biết" tận dụng từ thuở hồng hoang (trang 256). Thật sự, tôi
nhận thấy tác giả Davies cũng không kém phần duy tâm như các nhà
khoa học mà ông phê phán.
Tác giả Davies đă ví tế bào như chiếc máy tính có "phần cứng" và "phần
mềm" mà tôi rất tâm đắc. Ông đă tập trung vào "phần mềm" DNA như một
điểm nhấn trong biện luận của ông. Xuất phát từ quan điểm này, chúng
ta sẽ hiểu tại sao ông phủ nhận vai tṛ của hóa học bởi lẽ hóa học
liên quan đến phản ứng giữa các chất trơ không sống không chết tạo
ra sản phẩm vô hồn cũng không sống không chết; trong khi sinh học
nói về tồn tại sống không phân biệt kích thước lớn nhỏ nhưng chứa
đầy thông tin. Đi sâu vào cốt lơi của vật chất là nguyên tử và phân
tử. Đó là những thực thể cơ bản trong vũ trụ được các quy luật vật
lư lượng tử mà chúng ta hằng yêu mến miêu tả chính xác việc "đi đứng"
của chúng. Nhưng việc "đi đứng" không tạo ra bất kỳ thông tin sinh
học nào dù là thông tin rác vô dụng. Các nguyên tử phân tử vốn b́nh
phàm, dễ dàng được diễn tả hoàn toàn bằng ngôn ngữ của vật lư và hóa
học, kết hợp lại với nhau thành tế bào. Ngôn ngữ đó lại không giải
thích được những hoạt động và hành vi của tồn tại sống kỳ diệu từ
các tế bào tạo nên. Dù tác giả Davies có một thái độ dè dặt của một
nhà khoa học, tôi cảm thấy trước bế tắc của quy luật khoa học mạch
văn của ông bàng bạc xuất hiện h́nh ảnh của Thượng Đế và đưa người
đọc đến rất gần đường ranh phân chia giữa hai hệ phái "Khoa học" và
"Sáng thế".
Nh́n tổng quát về việc t́m hiểu sự sống, quyển sách cho thấy quy
luật cổ điển chỉ "thắng" được một trận. Đó là sự tuân thủ của tồn
tại sống đối với định luật thứ hai. C̣n lại là những hiện tượng vượt
ra ngoài sự hiểu biết của con người. Chúng ta không hiểu tại sao DNA
có thể mang thông tin vừa nhiều vừa chất lượng, protein có chức năng
sinh học được tạo thành bằng một phản ứng trong vô vàn phản ứng, và
thí nghiệm của các nhà hóa học trong điều kiện mô phỏng của quả đất
ban sơ không bao giờ cho đúng kết quả phù hợp với thiên nhiên.
Điều chúng ta có thể tạm hiểu là sự sống không cúi đầu tuân phục
trước kiềm chế của những giáo điều hay quy luật cổ điển. Nhưng nó
vẫn lịch sự, không nổi loạn trước trật tự cũ và tuyệt đối tuân thủ
quy luật đă biết (thí dụ, định luật thứ hai). Mặt khác, nó đă lách
luật rất thành công, hay không chừng nó có một bộ luật đặc thù, cái
mà Schrödinger gọi là "quy luật vật lư kiểu mới", cho sân chơi riêng
của ḿnh nhằm thoát ra khỏi ṿng kim cô của trật tự cũ để xuất hiện,
sinh trưởng rồi tiến hóa qua nhiều tỷ năm, tiếp tục tồn tại trên quả
đất.
Cuối cùng th́ các thông tin sinh học hiện hữu trong DNA trong dạng
mă di truyền đến từ đâu? Các nhà khoa học đă làm thí nghiệm, đă tính
toán, đă suy đoán, đă làm những thứ mà khoa học hiện đại cho phép
nhưng vẫn quanh quẩn bên chiếc cối xay nghịch lư: đến từ đâu? Tác
giả Davies đă nhiệt t́nh đề cao việc vận dụng khoa học để truy t́m
nguồn gốc và ư nghĩa của sự sống, nhưng sự suy nghĩ của ông dường
như chuyển dịch trong quá tŕnh chấp bút từ biện luận có lô-gic khoa
học ở vài chương đầu rồi lặng lẽ tiến đến đường ranh phân chia "Khoa
học" và "Sáng thế" ở chương cuối. Ông nhắc lại đề nghị của
Schrödinger hơn 70 năm trước về sự cần thiết của "quy luật vật lư
kiểu mới" cho sinh học. Nhưng ông nhanh chóng nói rằng không cần
phải là quy luật vật lư mà phải là "quy luật thông tin" hay "quy
luật phần mềm tin học" để t́m hiểu nguồn gốc của thông tin sinh học
hay mă di truyền mà ông tin rằng đó là một trong những yếu tố quan
trọng truy t́m căn nguyên của sự sống (trang 258).
Lời kết
Dù không có câu trả lời cho câu hỏi "Sự sống là ǵ?", tác giả
Davies tử tế mang đến cho người đọc một tổng quan về những công
tŕnh nghiên cứu trong 70 năm qua và đề nghị một số ư tưởng mới, dù
đó chỉ là suy đoán hay giả thuyết, để hiểu rơ và truy t́m nguồn gốc
và ư nghĩa sự sống. Ông xem mă di truyền là "phần mềm" được số hóa
như là môt ch́a khóa tiềm năng giải mă sự xuất hiện của vật thể "sống"
từ các nguyên tố "trơ". Ông dành gần ¼ quyển sách bàn về nguồn gốc
của sự sống mà ông cho rằng có thể từ ngoài hành tinh hay dưới sâu
ḷng đất. Cuốn sách xuất bản năm 1999 nhưng những thông tin và sự
kiện khoa học đề cập trong sách vẫn là nguồn tham khảo quư giá cho
sự hiểu biết tổng quát cũng như các công tŕnh nghiên cứu khoa học.
Cho đến nay tri thức về sự sống không có bước đột phá, vẫn b́nh lặng
trôi theo ḍng thời gian và cũng không có những tiến triển mới kể từ
ngày của thí nghiệm Miller – Urey (1952). Dù vậy, nhiệt t́nh tranh
căi của con người thuộc mọi trường phái không hề suy giảm. Những
tranh luận về nguồn gốc, ư nghĩa và tiến hóa của sự sống, "Ta đến
từ đâu?", vẫn tiếp diễn không những giữa phe "Sáng thế" và phe "Tiến
hóa" mà c̣n ngay trong cộng đồng khoa học giữa các nhà hóa học, vật
lư và sinh vật. Những cuộc tranh luận có lúc sôi động gay gắt có lúc
ôn ḥa điềm tĩnh v́ nó không chỉ đơn giản là vấn đề của khoa học mà
cũng là một phần sâu sắc của cảm xúc tâm linh. Rồi sau đó, mọi người
trở về vị trí suy tư của ḿnh, tạm thời đồng ư là có sự bất đồng
quan điểm (agree to disagree). Nhưng nếu ta tin Thượng Đế đă an bài
mọi chuyện, "Trời sanh" vậy cứ chấp nhận vậy, th́ chắc chắn
nghiên cứu khoa học sẽ biến thành một bộ môn vô vị và vô cùng ảm đạm,
tri thức con người về sự vật quanh ta, về vũ trụ bao la sẽ muôn đời
dậm chân tại chỗ.
Tháng 2, 2019
*Paul Davies, The 5th miracle: The search for the origin and
meaning of life, Simon & Schuster Paperbacks, New York 1999.
Ghi chú
1. Jacques Monod (Nobel Y
học 1965), nguyên tác tiếng Pháp "Le hasard et la nécessité",
Editions du Seuil, Paris 1970. Bản tiếng Anh, "Chance and
necessity", Alfred A. Knopf, New York 1971. Bản tiếng Việt của Hà
Dương Tuấn và Đặng Xuân Thảo, "Ngẫu nhiên và tất yếu", nxb Tri Thức,
Hà Nội 2016.
2. Sáng thế (creationism):
là niềm tin tôn giáo cho rằng vũ trụ và sự sống được sáng tạo bởi
hành động của Thượng Đế. Tiến hóa (evolutionism): là niềm tin về sự
tiến hóa theo quá tŕnh tự nhiên của muôn loài sinh linh.
3. Protein chứa 100 đơn vị
axit amin thành h́nh do sự kết nối giữa 20 axit amin khác nhau giống
như chuỗi mắt xích có 100 mắt xích. Mỗi mắt xích là một axit amin.
Số chuỗi mắt xích có được sẽ là
20100
10130.
|
|