|
Một
vài suy nghĩ về Hán Tự Trương
Văn Tân Kể
từ năm 1998 đến nay, tôi đă về
Việt Nam vài lần. Tại Úc, tôi cũng có cơ
hội được tiếp xúc với nhiều sinh
viên Việt Nam du học. Trong những dịp về nước
và giao lưu nầy tôi tiếp thu được
nhiều tiếng Việt "mới" bao gồm
cả tiếng Nôm và tiếng Hán Việt. Những
tiếng "mới" mà tôi được biết
có nhiều từ rất hay, xúc tích và chính xác
nhất là những từ khoa học kỹ thuật.
Tuy nhiên, cũng có những từ nghe không thuận tai
và ngượng ngịu làm sao. Có
một dạo ở đầu thập niên 80, nghe nói
chính phủ Việt Nam đưa ra phong trào làm trong sáng
tiếng Việt bằng cách thoát ly tiếng Hán
Việt. Tất cả đều phải được
chuyển hoán ra tiếng Nôm. Thật ra, tiếng Hán
Việt chiếm 70 % trong ngôn ngữ Việt Nam,
loại trừ tiếng Hán Việt để làm trong
sáng tiếng Việt th́ quả thật là một
"mission impossible". Thay v́ nói "Đại
Hội Phụ Nữ Toàn Quốc" th́ được
sửa lại là "Cuộc sum họp lớn cuả
đàn bà cả nước" [1], đại
loại như vậy. Nếu theo chủ trương
chuyển hoán ra tiếng Nôm th́ câu tán tụng "Anh
là người nhiệt huyết" có thể trở
thành một câu nói xỏ "Anh là người máu nóng"!!
Cho đến bây giờ tôi vẫn thích dùng từ
"phi cơ trực thăng" hơn là "máy bay
lên thẳng", "hàng không mẫu hạm" hơn
là "tàu sân bay". Không phải v́ thói quen nhưng
v́ từ Hán Việt vẫn hay hơn. Nó cho người
nói và người nghe tưởng tượng
được cái tiếng động cơ khí
cuả tác động "trực thăng" hay là cái
hoành tráng uy nghi cuả chiếc "mẫu
hạm". Mấy năm trước có dịp
về Sài G̣n, tôi thấy phi trường Tân Sơn
Nhất có cái tên "hỗ lốn" là "Ga
Đi Quốc Tế Tân Sơn Nhất". Cái sân bay
đẹp đẽ bị "xuống cấp tên
tuổi" biến thành nhà ga như ga xe lửa. Năm
sau tôi trở lại Sài G̣n, dường như
cảm thấy không ổn với cái tên vừa
cục mịch vừa quê mùa "Ga Đi Quốc
Tế", các quan chức hữu trách sửa lại
là "Cảng Hàng Không Quốc Tế TSN". Tại
sao các quan chức nầy lại "kiêng" cái
chữ "phi trường", "phi cảng",
"không cảng" quá như vậy? Nếu không thích
Hán Việt th́ ta có "sân bay", vừa gọn gàng,
vừa thanh tao và lịch sự… Mặt khác, sau 1975
người Bắc đem vào Nam những từ Hán
Việt mới, chẳng hạn như: học kỳ
(gakki, semester), học vị (gaku-i, bằng cấp),
thể lực (tairyoku), hưng phấn (kyôfun),
nghiệp dư (amateur), khuyến măi (promotion sale), đại
tu (overhaul), học hàm, quân hàm v.v… Thật là mâu
thuẫn. Việc
"thoát ly Hán tự" cũng đă xảy ra
tại Hàn Quốc, một nước chịu ảnh
hưởng tiếng Hán. Chính phủ Hàn Quốc hô hào
dân chúng dùng Hangul (như hiragana, katagana cuả
tiếng Nhật) thay cho Hán tự. Việc nầy
đưa đến một thế hệ mù Hán
tự, lẫn lộn những chữ đồng âm
dị nghĩa. Trươ'c nguy cơ nầy, chính
phủ lại khuyến khích dùng Hán tự trở
lại bằng cách chua tiếng Hán bên cạnh Hangul
cho những từ chính trị, triết học, khoa
học v.v…Việt Nam, Nhật Bản và Hàn
Quốc/Triều Tiên nằm trong hệ văn hoá Hán
tự, nhưng điều nầy không có nghĩa
những nước "ngoại vi" phải
rập khuôn Hán tự Trung Hoa. Người Nhật
đă "phát minh" một số chữ Hán riêng
cho họ gọi là "kokuji" (quốc tự).
Nhiều từ ngữ đă được địa
phương hóa, chẳng hạn như tiếng Hán
Nhật "benkyo" (học hành, study) dịch ra âm Hán
là "miễn cưỡng" (có lẽ việc
học hành là một việc miễn cưỡng hay
chăng?!). Trong tiếng Trung Quốc "hoan lạc,
khoái lạc" nói đến sự vui vẻ về
mặt tinh thần nhưng khi chuyển sang tiếng
Việt th́ trở thành một chuyện "vui
vẻ" về mặt …. nhục thể. Khu
Footscray cuả thành phố Melbourne là nơi có
nhiều cư dân Việt Nam . Ở đây có một
tiệm bán bàn ghế giường chiếu. Ông
chủ tiệm có lẽ là người Hoa. Bảng
hiệu cửa tiệm có đề một ḍng
chữ Hán "Hoan Lạc Gia Cụ Điếm"
đọc theo tiếng Trung Quốc th́ không có ǵ
phải thảng thốt cả. Ông chủ lại
viết thêm một ḍng tiếng Việt "Tiệm
giường Hoan Lạc" mà mỗi lần tôi lái
xe đi ngang cũng phải vừa gật gù vừa
buộc miệng ph́ cười…… Câu "Kim
ngọc măn đường" (vàng ngọc đầy
nhà) là một câu chúc tụng cực kỳ phong nhă nhưng
mà đem tặng cho người Nhật Bản th́
quả là không nên! Ai học tiếng Nhật cũng
biết rằng phát âm cuả chữ "kim
ngọc" là "kintama" (tinh hoàn, testicle)! Mặc
dù có vài phân biệt trong ư nghĩa Hán tự ở
mỗi nước, nhưng sự giao lưu văn hóa
cuả các nước "đồng văn" cũng
đưa đến nhiều mặt tích cực trong
việc phát triển ngôn ngữ. Trong hệ văn hoá
Hán tự, Nhật Bản là nước đầu tiên
canh tân theo Âu Tây. Họ đă dịch những từ
khoa học sang Hán tự như: vật lư, hóa học,
lượng tử, qủi đạo, cố thể, lưu
thể, nguyên tử, phân tử, vi tích phân v.v…
hoặc những từ chính trị như: diễn
thuyết, kinh tế, dân chủ chủ nghĩa, xă
hội chủ nghĩa…. [2]. Những từ nầy
được người Trung Quốc "mượn"
trở lại dùng thoải mái và lưu truyền
đến Việt Nam. Gần
đây, tôi học lại Hán tự qua những bài
Đường Thi. Tôi bỗng "khám phá"
rất nhiều từ mà từ xưa tôi vẫn nghĩ
là tiếng Nôm mà thật ra là Hán Việt. Chẳng
hạn như: triền miên, yểu điệu, đảm
đang, xán lạn, bàng hoàng, hiểu (understand), lan can
(ex: cái lan can cầu thang)…. "La tinh" hoá
tiếng Việt thành chữ Quốc ngữ thay cho
chữ Nôm rườm rà là một cuộc cách
mạng trong ngôn ngữ Việt Nam. Nhưng chữ
Quốc ngữ càng ngày càng làm người Việt
Nam xa rời cái ư nghĩa cuả tiếng Hán Việt
cũng như người Đại Hàn đă hấp
tấp chủ trương chỉ dùng Hangul vài năm
trước đây. Nhiều người không phân
biệt được "măi" (= mua) và
"mại" (= bán) nên cứ lẫn lộn
"khuyến măi" và "khuyến mại". Cũng
có người đặt tên cho con cháu hoặc tự
đặt bút hiệu bằng những từ Hán
Việt đọc rất "kêu" nhưng ư nghĩa
th́ rỗng tuếch buồn cười, đôi lúc vô
t́nh lại có nghĩa xấu mà không hay biết! Trong
bài "Ĺ x́" [3] viết năm 1975, ông Nghiêm
Toản phân tích sự lầm lẫn và hiểu sai
trầm trọng ư nghĩa một số chữ Hán
Việt, thí dụ như có nên dùng chữ "tân
giai nhân" để chỉ cô dâu trong tiệc cưới
hay không, "tỵ hiềm" và "hiềm khích"
khác nhau như thế nào. Các ông Cao Xuân Hạo và Lê
Anh Minh đă viết nhiều bài biên khảo có giá
trị về Hán tự và ảnh hưởng của
nó đến ngôn ngữ Nhật Bản, Hàn Quốc và
Việt Nam [1, 4]. Ba
mươi năm trước đây ông Nghiêm Toản
đă nhiều lần hô hào học tiếng Hán để
làm giàu tiếng Việt v́ ông biết "người
học chữ Việt mà không biết ǵ về
chữ Hán th́ sẽ đưa đến một
kết quả tai hại vô cùng" [3]. Tôi nghe Bộ
Giáo Dục Việt Nam cho phép dạy tiếng Nhật
như là một sinh ngữ trong các giáo tŕnh cấp
hai cấp ba. Tại sao không dạy kèm vào đó vài
giờ Hán tự để "nhất cử tam
tứ tiện" và cũng để tránh những ḍng
chữ khập khễnh đọc chướng tai
ở những nơi công cộng: "Ga đi quốc
tế" "Cảng Hàng Không" hay là "Phi Trường"
"Không Cảng"?! Melbourne,
Easter 9 April 2004 Trương
Văn Tân Chú
Thích
|