Âm thanh, sóng biển, động đất và
nhiệt
Trương Văn Tân
"Sự giản dị chính là cái tột
bực của tinh vi."
Leonardo da Vinci
Tóm tắt
Tựa đề bài viết nói về bốn thực thể là âm thanh,
sóng biển, động đất và nhiệt. Những điều thoạt nh́n như biệt lập
không có một điểm chung nào. Nhưng xem vậy mà không phải vậy. Bốn
thực thể trên mang năng lượng và năng lượng đó được truyền tải
trong môi trường bằng sự dao động ở những tần số khác nhau nhưng
tuân theo những định luật vật lư giống nhau. Môi trường có thể là
thể khí (không khí), thể lỏng (nước) hay thể rắn (đất đá). Âm
thanh gây tiếng ồn, sóng biển gây xói ṃn và sóng động đất gây vỡ
nứt. Hệ thống các ống h́nh trụ được sắp đặt theo một trật tự và
chu kỳ gọi là tinh thể phonon (âm tử) có đặc tính làm phân tán và
hấp thụ tiếng ồn, xói ṃn và vỡ nứt. Bài viết phân tích đặc tính
này trên một định luật cơ bản và giản dị – định luật nhiễu xạ
Bragg, và sự cộng hưởng. Sóng siêu âm và nhiệt dao động trong băng
tần của những tần số cao. V́ vậy, các ống h́nh trụ của tinh thể
phonon cho hai thực thể này rất nhỏ có kích thước 1 phần triệu của
mét (micromét) đến 1 phần tỷ của mét (nanomét). Ở kích thước vi mô
này, tinh thể phonon trở thành một "sân chơi" nơi siêu âm, nhiệt,
ánh sáng và electron tương tác với nhau, mở ra một bước ngoặt lớn
đem các ngành chẩn đoán y học, điện tử, vi tính và viễn thông lên
một tầm cao mới.
1.
Dẫn nhập
Âm thanh là một phần trong cuộc sống của con người
lẫn thế giới loài vật. Nó là cơ bản của việc giao lưu thông tin
cho muôn loài sinh linh. Sự kết hợp giữa các giai điệu trầm bổng
bởi các nhạc sĩ, thi sĩ biến âm thanh thành tiếng nhạc, điệu thơ
mang đến sự thoải mái cho con người. Âm nhạc phản ánh văn minh
loài người. Trên b́nh diện khoa học, những làn sóng âm ngoài vùng
khả thính của con người như sóng siêu âm được con người tận dụng
để tạo ra những thiết bị hữu ích trong y học và công nghiệp. Tuy
nhiên, cũng có những tạp âm như tiếng ồn mà con người muốn loại
trừ trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng việc loại trừ, giảm thiểu hay
uốn nắn đường đi của âm thanh không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Tiếng ồn trên đường cao tốc hay âm thanh nhạc rock phát ra từ căn
nhà hàng xóm vẫn có thể xuyên qua những bức tường dày.
Âm thanh, sóng biển, sóng động đất là những loại
sóng cơ học. Sóng dao động ở những tần số khác nhau từ thấp đến
cao. Sóng cơ học cần môi trường ở thể khí, thể lỏng hay thể rắn
như không khí, nước và đất đá cho sự truyền tải (Phụ lục a). Nhưng
sóng điện từ (sóng radio, vi ba, tia hồng ngoại, ánh sáng, tia tử
ngoại, tia X...) có thể truyền tải trong chân không. Vật liệu như
thủy tinh đă được sử dụng trong nhiều thế kỷ để chế tạo lăng kính,
thấu kính nhằm hội tụ, phân tán ánh sáng, và cáp quang của thời
hiện đại để truyền tải ánh sáng. Cuộc t́m kiếm những vật liệu mới
để chinh phục và điều khiển ánh sáng và sóng điện từ vẫn tiếp diễn.
Những thành tựu trong sóng điện từ và quang học có ảnh hưởng sâu
đậm đến nghiên cứu sóng âm v́ những định luật quang học phần lớn
có thể áp dụng vào âm thanh.
Trong một bài viết [1], người viết đă đề cập đến
một vật liệu mới có tên là "siêu vật liệu". Giáo sư Pendry
(Imperial College London, Anh Quốc) và các đồng nghiệp tại Mỹ là
những người tiên phong trong hướng nghiên cứu này [2]. Cụm từ "siêu
vật liệu" được khai sinh từ những công tŕnh nghiên cứu của Pendry.
Nhóm Pendry đă thiết kế ra những ṿng hở kim loại và sắp xếp theo
một thứ tự và chu kỳ nhất định trên một chất nền. Cấu trúc có trật
tự này được gọi là "siêu vật liệu" và thành phần đơn vị là các
ṿng hở kim loại được xem như là "nguyên tử" của siêu vật liệu.
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, kết quả này dẫn đến một phong
trào nghiên cứu sôi nổi về siêu vật liệu quang học với những đặc
tính như hằng số điện môi âm (negative dielectric constant), độ từ
thẩm âm và chiết suất âm. Những đặc tính chưa từng thấy này đưa
đến một tiềm năng là chế tạo áo choàng tàng h́nh và siêu thấu kính.
Siêu thấu kính có thể quan sát được vật nhỏ hơn ½ bước sóng (Phụ
lục b).
Tiếp nối với các công tŕnh về siêu vật liệu quang
học là siêu vật liệu âm thanh và nhiệt. Những thành quả có được từ
sóng điện từ phần lớn có thể lặp lại cho sóng âm. Các công tŕnh
liên quan đến việc uốn nắn những đường đi của âm thanh tạo ra siêu
vật liệu "tàng âm" cũng như siêu thấu kính âm học thu hút được
nhiều kinh phí nghiên cứu từ chính phủ và đầu tư từ doanh nghiệp
càng làm gia tăng sự sôi động của phong trào siêu vật liệu.
Trong những năm tháng của cao trào nghiên cứu, một
số nhà khoa học đă hào hứng tuyên bố với một chút cường điệu rằng
"siêu vật liệu là vật liệu nhân tạo có đơn vị thành phần được
sắp xếp theo một trật tự để tạo ra những đặc tính chưa từng thấy
trong thiên nhiên". Thật ra, trước các cuộc khảo sát của nhóm
Pendry th́ đă có những công tŕnh tiên phong trong hai thập niên
80 và 90 của thế kỷ 20 về tác động của sóng điện từ (bao gồm ánh
sáng) trên các vật thể nhân tạo chứa thành phần được sắp xếp có
chu kỳ và trật tự. V́ sự trật tự trong cấu trúc, người ta đặt tên
những vật thể này là "tinh thể quang tử" hay "tinh thể photon"
(photonic crystal). Chữ "tinh thể" được mượn từ cụm từ "tinh thể
khoáng chất" thiên nhiên trong đó tinh thể muối gần gũi với chúng
ta nhất. Tinh thể muối có thể nh́n được bằng mắt thường là do sự
sắp xếp có trật tự của hai nguyên tử chlorine (Cl) và sodium (Na)
(H́nh 1). Ngoài ra, c̣n vô số các tinh thể thiên nhiên khác từ kim
cương, kim loại đến những hạt cát trên băi biển cho thấy thiên
nhiên đi trước loài người rất xa về việc tạo ra tinh thể.

H́nh 1: H́nh trái: Tinh thể muối hai nguyên tử
chlorine (Cl) và sodium (Na).
H́nh phải: Tinh thể kim cương với mạng nguyên tử carbon.
Sau những công tŕnh nghiên cứu tinh thể photon,
người ta bắt đầu khảo sát "tinh thể âm tử" hay "tinh thể phonon" (phononic
crystal) (Phụ lục c). Tinh thể thiên nhiên thường cho ta h́nh ảnh
một vật chất rất nhỏ cần kính hiển vi để quan sát. Trong các tinh
thể nhân tạo để có sự tương tác giữa sóng và vật thể, kích cỡ và
khoảng cách của các "nguyên tử" nhân tạo tương đương bước sóng tác
dụng lên vật thể đó. Bước sóng của sóng điện từ hay sóng âm thanh
kéo dài từ nanomét đến vài trăm mét. Cho nên độ lớn và khoảng cách
giữa "nguyên tử" trong tinh thể photon/phonon tỏa rộng từ vi mô (nanomét)
đến vĩ mô (centimét, mét).
Siêu vật liệu bao gồm những vật liệu mang những
thành phần được sắp xếp có trật tự hay những mạng lưới có dạng
h́nh học (geometrical pattern) đặc thù. Trong ư nghĩa này "tinh
thể photon" và "tinh thể phonon" cũng có thể xem là một thể loại
của siêu vật liệu. Hiện nay không có sự phân định rơ ràng trên
phương diện thuật ngữ giữa "siêu vật liệu" và "tinh thể
photon/phonon". Chúng được dùng qua lại để chỉ định những vật liệu
hay hệ thống có thành phần được sắp xếp có trật tự và chu kỳ.
Nhưng hệ tinh thể photon/phonon có một đặc điểm lớn là sự xuất
hiện "vùng cấm" (bandgap). Vùng cấm được biết đến trong chất bán
dẫn, điển h́nh là nguyên tố silicon. Đặc tính của vùng cấm năng
lượng của chất bán dẫn đă dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp của
thế kỷ 20 và tạo nên một nền công nghiệp điện tử lừng lẫy ngày
nay. Vùng cấm trong tinh thể photon/phonon là nơi mà tinh thể "cấm"
sóng có một tần số nào đó không được đi xuyên qua. Sóng bị phản
hồi.
Với những tri thức liên quan đến siêu vật liệu và
sự hiện hữu của vùng cấm trong các tinh thể nhân tạo, liệu tinh
thể phonon, nói cách khác hệ thống có sự sắp xếp các thành phần
theo trật tự và chu kỳ, có chăng cho một tiềm năng thực tế lợi
dụng vùng cấm để "cấm" hay ngăn chặn tiếng ồn, sóng biển và sóng
động đất? Ở băng tần cao, ta có sóng siêu âm (ultrasound), siêu
vượt âm (hypersound) và nhiệt. "Nguyên tử" của những tinh thể
phonon ở băng tần cao có kích thước rất nhỏ từ micromét đến
nanomét. Ở kích thước vi mô này, tinh thể phonon là một địa bàn
cho sự tương tác giữa siêu âm, nhiệt, ánh sáng và electron.
Bài viết giải thích về khả năng ngăn chặn và hấp
thụ tiếng ồn, sự xói ṃn của sóng biển và sự tàn phá của sóng động
đất bởi các tinh thể phonon vĩ mô. Ngoài ra, hiện trạng của tinh
thể phonon vi mô cho sóng siêu âm và nhiệt cũng được đề cập với
nhiều tiềm năng lớn trong các ngành chẩn đoán y học, điện tử, vi
tính và viễn thông.
2. Âm thanh và sự uốn nắn đường đi của âm thanh
Con người liên thông với môi trường xung quanh bằng
ngũ giác. Trong đó thị giác và thính giác gần như là hai cảm nhận
chính khi con người tiếp xúc với môi trường. Thị giác là sự cảm
nhận nhờ vào phản xạ của ánh sáng được đưa lên bộ năo xử lư trước
cảm nhận của âm thanh. Thị giác qua đôi mắt cho ta sự nhận thức
tức thời đến màu sắc rực rỡ và sự hùng vĩ của thiên nhiên cũng như
sự linh động ba chiều của môi trường xung quanh. Sự phong phú và
đa dạng của những thông tin thị giác ồ ạt áp đảo thính giác. Cho
nên để có một cảm xúc toàn vẹn với thính giác chúng ta thường nhắm
mắt lại, cắt đứt quấy nhiễu của thị giác, sâu sắc lắng nghe những
nhịp điệu âm thanh len lỏi vào tâm thức. Khi âm thanh được sắp xếp
theo một giai điệu trầm bổng th́ chúng sẽ biến thành những ḍng
nhạc lời thơ khơi gợi lên nhiều nỗi hoài niệm hay cảm xúc dâng
trào. Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu chất thơ có âm điệu nhẹ
nhàng trầm bổng, "Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm
thầm, để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em…" (Nhạc
Nhật Ngân và Y Vũ). Âm thanh nối kết với cảm xúc một cách
thầm lặng.
Nh́n theo quy luật âm dương, nếu thị giác có tính
dương th́ thính giác mang tính âm.
Không
có ǵ ngạc nhiên khi các chuyên gia tâm lư hay thần kinh học dùng
âm nhạc tạo ra cảm xúc nhất định để khảo sát một trạng thái hay
phản ứng tâm lư. Tiếng động hay tiếng kêu dù đơn điệu cũng đem lại
một thoáng bồi hồi, ngược ḍng thời gian mang ta về một kỷ niệm xa
xưa gặp lại những hồi ức pha chút bâng khuâng; có thể đó là tiếng
chuông chùa hoàng hôn, tiếng dế đêm thâu hoặc tiếng gà gáy trong
sương sớm. Tú Xương từng khắc khoải trong những niềm tiếc nuối,
"Vẳng nghe tiếng ếch bên tai. Giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣".
Ngược lại, âm thanh khi là một tạp âm như tiếng ồn của xe, tiếng
rít của gió hay tiếng nổ của bom th́ cảm nhận của ta biến chuyển
từ bứt rứt đến hăi hùng. Thính giác thật sự có một tầm quan trọng
đến tinh thần và sự hài ḥa của tâm lư con người.
Cũng như quang phổ của sóng điện từ, âm phổ của âm
thanh có tần số từ thấp đến cao (Phụ lục a). Mắt con người cảm
nhận được một băng tần rất nhỏ của quang phổ sóng điện từ; đó là
vùng ánh sáng khả thị thể hiện bằng màu sắc. Tai con người cảm
nhận vùng âm thanh nghe được trong băng tần 20 Hz cho đến 20.000
Hz (H́nh 2). Băng tần này bị thu ngắn khi tuổi đời gia tăng. Có
loài vật có thể nghe được những âm thanh thấp hơn 20 Hz hay cao
hơn 20.000 Hz. Tiếng bass của nhạc, tiếng động cơ xe tải hay tiếng
lè nhè của gă say rượu là âm thanh có tần số thấp (100 – 500 Hz).
Nói đến âm thanh có tần số cao ta nhớ ngay đến giọng ca trong như
ngọc và cao vút của ca sĩ Thái Thanh hay Dolly Parton, tiếng hót
của loài chim, và cao hơn nữa th́ phải nói đến tiếng rít của gió
và âm thanh cọ xát chát chúa của hai thanh sắt. Giọng đàn ông trầm
(tần số thấp) hơn giọng đàn bà. Những nốt của chiếc đàn piano có
tần số từ 30 đến 4000 Hz. Dưới 30 Hz hay trên 4000 Hz, tai con
người vẫn cảm nhận âm thanh nhưng không biệt được độ cao thấp.
Tiếng hát của Dolly Parton có thể đạt đến 1.000 Hz. Trên tần số
này th́ tiếng ca thành tiếng hét. Ta cần trải nghiệm của Tô Đông
Pha, "hốt văn sư tử Hà Đông hống" (bỗng nghe sư tử Hà Đông
rống) từ chất giọng the thé của các bà hàng xóm lúc căi nhau, tần
số có thể chạm đến 4.000 Hz! Cho nên, những nốt nhạc trên 4000 Hz
chỉ là những "loạn âm". Sự bứt rứt khó chịu hay sự an b́nh thư
giăn gây ra bởi âm thanh đều tùy thuộc vào tần số.

H́nh 2: Vùng khả thính của tai con người chỉ chiếm
một phần nhỏ của âm phổ từ 20 đến 20.000 Hz (20 KHz). Chỉ có một
số loài vật mới nghe được vùng hạ âm (nhỏ hơn 20 Hz) hay siêu âm (cao
hơn 20.000 Hz).
(Nguồn:
Google)
Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp, tiếng
ồn như là một sản phẩm phụ phiền toái trở nên một phần của cuộc
sống. Hơn nửa thế kỷ qua, kỹ sư âm học đă áp dụng nhiều phương
pháp giảm thanh ngăn chặn tiếng ồn nhưng vẫn không bắt kịp trước
sự thay đổi nhanh chóng của xă hội và nhu cầu to lớn của con người.
Tiếng gầm thét của các loại máy bay dân dụng khổng lồ như Boeing
787 Dreamliner, máy bay vận tải Antonov hay tiếng rầm rập đinh tai
nhức óc của chiếc xe lửa cao tốc Shinkansen (Nhật Bản) chạy 350
km/h là những ô nhiễm môi trường đe dọa sức khỏe con người và sự
an vui trong đời sống. Dù những chiếc xe hơi, xe máy hiện đại được
lắp ráp với những cỗ máy êm tai và bộ phận giảm thanh nhưng số
lượng xe càng ngày càng nhiều và tiếng ồn gia tăng. Giờ cao điểm
kéo dài hơn, thời gian và không gian mà con người có thể t́m được
sự yên b́nh với những tiếng động nhẹ nhàng của thiên nhiên dần dà
thu hẹp rồi biến mất.
Con người đă chế tạo ra nhiều thiết bị hay vật liệu
để uốn nắn đường đi ánh sáng hay dập tắt nó (hấp thụ) cho nhiều
mục đích. Các nhà vật lư và kỹ sư âm học cũng làm điều tương tự
để chế ngự đường đi của âm thanh và chế tạo những thiết bị giảm
thanh phức tạp. Thật ra, sự uốn nắn đường đi của âm thanh có một
lịch sử lâu đời ngàn năm. Những kỹ sư âm học và kiến trúc sư châu
Âu từ thời Trung Cổ đă là bậc thầy trong việc điều chỉnh đường đi
của âm thanh qua sự phản hồi hay hấp thụ năng lượng âm thanh trong
các kiến trúc giáo đường. Giáo đường được xây cất sao cho lời
giảng của linh mục được phản hồi từ trần nhà, tường xung quanh để
truyền tải đến tai mọi người. Mái ṿm khổng lồ của đại thánh đường
Firenze hay chiều cao và kích thước của đại thánh đường Milano tại
Ư là những kiệt tác không chỉ của vẻ đẹp kiến trúc mà c̣n của âm
hưởng học. Sau giáo đường, xây dựng nhạc viện hiện đại là một thử
thách khác đối với kỹ sư và khoa học gia âm học. Họ nghiên cứu sự
liên hệ giữa tiếng vang (reverberation) của từng nốt nhạc với kích
thước nhạc viện và số lượng khán giả. Mỗi nốt nhạc cần có tiếng
vang không dài quá cũng như không ngắn quá. Nếu thính pḥng quá
lớn th́ âm thanh kéo dài, những nốt nhạc đi sau chồng lên tiếng
vang của nốt đi trước, trở nên "loạn âm". Con người là một thể mềm
hấp thụ âm thanh hiệu quả. Đồ đạc là vật phản hồi hay hấp thụ. Nếu
số lượng người quá đông hay đồ đạc quá nhiều trong một thính pḥng
nhỏ th́ tiếng vang quá ngắn, bài nhạc trở nên nhạt nhẽo. Trong nhà,
pḥng tắm cho tiếng vang nhiều hơn pḥng ngủ. "Văn nghệ nhà tắm"
là một hiện tượng phổ biến. Người ta thích ca linh tinh trong
pḥng tắm hơn pḥng ngủ v́ ai cũng muốn nghe tiếng vang lời ca của
ḿnh ḥa trong những ḍng nước ấm áp ngọt ngào dù giọng ca đôi khi
chỉ là chất giọng của loài vịt...
3.
Bộ lọc âm thanh từ một tác phẩm nghệ thuật
Nghệ thuật và khoa học là hai phạm trù khác nhau,
nhưng chúng có những không gian tương tác nhất định. Leonardo da
Vinci được biết như là một nhân vật nối kết giữa khoa học và nghệ
thuật. Ngoài bức tranh nổi tiếng Mona Lisa với nụ cười mỉm thánh
thiện lừng danh, ông c̣n là tác giả của những bức họa y khoa vô
cũng tỉ mỉ và chính xác. Khoa học được áp dụng vào nghệ thuật trên
nhiều phương diện như tổng hợp vật liệu hay các loại sơn bền tốt
cho hội họa, tạo ra những lớp phủ để bảo vệ các tác phẩm nghệ
thuật hay cung cấp những vật liệu cần thiết cho ngành điêu khắc.
Những định luật vật lư về màu sắc, quy luật hóa học pha chế màu từ
các loại dung môi đă giúp họa sĩ vẽ nên những bức họa nổi tiếng và
tồn tại qua nhiều thế kỷ. Nhưng hiếm khi một tác phẩm nghệ thuật
không những trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học mà c̣n dẫn đến
một đề tài "nóng" được thảo luận và khảo sát trong giới khoa học
kéo dài qua nhiều thập niên.
Eusebio Sempere (1923-1985), một điêu khắc gia, họa
sĩ nổi tiếng người Tây Ban Nha thuộc trường phái tối giản
(minimalism) đă dựng lên một vật thể nghệ thuật bằng những ống
thép b́nh thường (H́nh 3) đặt trong một công viên tại thành phố
Madrid (Tây Ban Nha). Những ống thép có đường kính 2,9 cm và đặt
theo một khoảng cách 10 cm trên một bệ tṛn. Tiến sĩ Francisco
Meseguer, nhà vật lư quang học của Viện Khoa học Vật liệu tại
Madrid, trong một buổi tối "chén chú chén anh" một người bạn đề
nghị ông khảo sát tính chất âm học cái tác phẩm "tối giản" của
Sempere. Ông và cộng sự kéo nhau ra ngoài công viên đặt ống loa và
micrô xung quanh vật thể. Một bên, ống loa phát ra những tần số âm
thanh khác nhau từ thấp đến cao. Bên kia, bộ cảm âm (micrô) thu
nhận âm từ ống loa đi xuyên qua các ống thép. Cuộc thực nghiệm dă
ngoại của Meseguer và cộng sự cho ra kết quả thú vị và được nhanh
chóng đăng tải lên tạp chí Nature qua dạng một bức thư báo
cáo ngắn xuất bản năm 1995 [3]. Ba năm sau, nhóm này đăng môt bài
báo cáo bài bản hơn trên tạp chí Physical Review Letters
[4].

H́nh 3: Tác phẩm nghệ thuật của Eusebio Sempere.
(Nguồn:
Google)
Từ quan điểm khoa học, tác phẩm của Sempere là một
cấu trúc có thành phần được sắp xếp theo một trật tự có khoảng
cách (chu kỳ) nhất định và có thể xem là một hệ thống tinh thể
phonon. Trong đó, những ống thép là những "nguyên tử" giống như
nguyên tử chlorine (Cl) và sodium (Na) trong muối hay nguyên tử
carbon (C) trong kim cương.
Nhóm Meseguer sử dụng sóng âm có tần số 1 đến 4 kHz
cho thí nghiệm. Kết quả cho thấy phần lớn âm thanh len lỏi đi qua
các ống thép, nhưng âm thanh có tần số 1,67 kHz bị ngăn chặn và
không được micrô ghi nhận. Tác phẩm của Sempere có đặc điểm như
một bộ lọc âm thanh. Như vậy, âm thanh có tần số 1,67 kHz đă đi về
đâu? Khi sóng âm tác động lên một vật thể, sóng sẽ đi xuyên qua
vật thể (truyền âm), phản hồi hay hấp thụ. Phần âm thanh đi qua hệ
thống ống thép đă được micrô ghi nhận th́ không có ǵ đáng nói.
Phần âm thanh không được ghi nhận chỉ có thể phản hồi hay bị hấp
thụ. Các ống thép quá cứng cho việc hấp thụ âm thanh nhưng chúng
lại là những vật làm phát tán sóng âm rất hữu hiệu. Cho nên, âm
thanh chỉ có thể phản hồi theo một hướng khác chệch ra ngoài vị
trí đặt chiếc micrô. Câu hỏi kế tiếp là tại sao có băng tần phản
hồi và băng tần mà sóng có thể xuyên qua như không có vật ǵ cản
trở?
Để hiểu rơ kết quả của nhóm Meseguer, hăy tưởng
tượng ta đi lang thang trong một ngôi rừng cao su, nơi những cây
cao su giống nhau được trồng thành hàng theo một trật tự. Ngoài
b́a rừng, một dàn nhạc giao hưởng đầy đủ mọi nhạc cụ đang tŕnh
diễn những bài nhạc cổ điển. Khi âm thanh của dàn nhạc chạm vào
đôi tai th́ chúng đă bị biến đổi. Hệ quả là trong rừng ta chỉ nghe
được tiếng trầm của cây đàn cello và tiếng bổng của cây violin, âm
thanh của các nhạc cụ khác giữa hai cực trầm và bổng này không
được truyền đến đôi tai. Việc băng tần "biến mất" cũng tương tự
như hiện tượng được ghi nhận bởi nhóm Meseguer từ tác phẩm Sampere.
Để h́nh dung được tác động của sóng trên các ống
thép, ta hăy h́nh tượng mặt hồ gợn sóng bởi những làn gió nhẹ.
Sóng nước tác động lên một cây cột cắm vào đáy hồ, cây cột sẽ làm
phân tán sóng theo hưóng ngược lại. Khi nhiều cây cột được cắm
theo một trật tự có hàng có dọc th́ sóng tác động lên từ cột này
sang cột khác. Nhờ vào cách sắp xếp có trật tự theo một khoảng
cách (chu kỳ) nhất định sự phân tán sóng tràn ngập trong toàn thể
hệ thống các cây cột. Sóng phân tán tác động lên nhau gây ra hiện
tượng giao thoa (nhiễu). Trong hiện tượng giao thoa khi hai luồng
sóng phân tán nhấp nhô gặp nhau có 3 trường hợp xảy ra: (1) nếu
điểm đỉnh của chúng gặp nhau ta sẽ có giao thoa tăng (constructive
interference) và (2) nếu điểm đỉnh của luồng sóng này gặp điểm đáy
của luồng sóng kia ta sẽ có giao thoa giảm (distructive
interference) và (3) những t́nh huống giao thoa đâu đó giữa (1) và
(2).
Trở lại kết quả của nhóm Meseguer, ta phải giải
thích tại sao tác phẩm ống thép ngăn chặn sóng âm có tần số 1,67
kHz nhưng cho sóng âm ở các tần số khác xuyên qua. Để hiểu rơ thí
nghiệm của nhóm Meseguer một cách định lượng chúng ta cần áp dụng
định luật nhiễu xạ Bragg. Theo định luật Bragg, khi sóng có bước
sóng bằng 2 lần khoảng cách giữa hai ống thép th́ ta có sự giao
thoa tăng (trường hợp 1) (Phụ lục d, công thức P4). Luồng sóng này
phản hồi, nghĩa là không xuyên qua hệ thống ống thép. Những luồng
sóng với bước sóng khác sẽ lọt vào trường hợp 2 và 3 và sẽ đi
xuyên qua hệ thống các ống thép.
Nói một cách khác, khi sóng tác động lên một hệ
thống có thành phần được sắp xếp có trật tự theo một chu kỳ (khoảng
cách giữa các thành phần) th́ vùng cấm xuất hiện. Nghĩa là, vùng
cấm là nơi sóng có tần số fo bị "cấm" xuyên qua
vật thể nhưng sóng có tần số lớn hoặc nhỏ hơn fo
th́ có thể xuyên qua, tương tự như chùm tia X bị nhiễu hay không
bị nhiễu trong H́nh P2 (Phụ lục d). Vật thể này có thể xem như bộ
lọc tần số, ngăn chặn một tần số nhưng cho các tần số khác đi qua.
Như được tŕnh bày trong Phụ lục e, kết quả tính toán dùng định
luật Bragg cho thấy fo = 1,715 kHz rất gần với
trị số thực nghiệm 1,67 kHz.
Sau cuộc thực nghiệm dă ngoại của nhóm Meseguer một
số thực nghiệm được triển khai cho các loại ống kim loại lớn nhỏ
[4], xen kẽ các ống thép có kích cỡ khác nhau theo một chu kỳ nhất
định [5]. Một công tŕnh khác cho thấy cách sắp xếp các ống theo
h́nh tam giác thay cho h́nh vuông (H́nh 4) sẽ có hiệu quả ngăn
chặn âm thanh trên một băng tần rộng tương đương với bức tường
gạch [6]. Cây trồng hay bụi cây có đường kính và chiều cao khác
nhau được trồng theo một trật tự cũng cho thấy hiệu quả ngăn chặn
và phân tán âm thanh [7]. Mục đích của các thực nghiệm nhằm tạo
những ứng dụng thực tế như việc giảm tiếng ồn của xe đồng thời
giảm chi phí so với việc xây dựng những bức tường gạch và tạo ra
một cảnh quan đẹp dọc theo các tuyến đường cao tốc. Trong các nhà
máy, người ta dùng các ống thép để làm giảm nguồn ô nhiễm tiếng
động cơ. Để chặn những tiếng ồn này người ta có thể thiết kế các
ống thép có đường kính và khoảng cách thích hợp theo định luật
Bragg.

H́nh 4: Cách sắp xếp của tinh thể phonon: (1) Sắp
xếp vuông, 4 cột thành một đơn vị (h́nh trái)
và (2) sắp xếp tam giác, 3 cột thành một đơn vị (h́nh phải) [8].
4.
Tinh thể phonon băng tần rộng
Một số công tŕnh nghiên cứu như đă đề cập cho thấy
hệ thống tinh thể phonon có thể ngăn chặn những tần số riêng lẻ
nhưng có một câu hỏi thường xuyên đặt ra là: liệu một hệ thống
được tạo dựng bằng những vật liệu đơn giản "công nghệ thấp" như
ống kim loại có thể ngăn chặn qua sự phản âm hay hấp thụ âm trong
tần số khả thính của con người (20 Hz – 20.000 Hz)? Câu trả lời
mang một ư nghĩa quan trọng cho các nhà khoa học, kỹ sư xây dựng,
kiến trúc sư trong việc kế hoạch đô thị, thiết kế cao ốc để t́m
một lời giải trong việc loại trừ tiếng ồn. Theo kết quả tính toán
của Kushwaha [9] th́ việc này khả thi. Mặc dù không phủ lấp được
toàn thể băng tần khả thính nhưng với ống kim loại có 6 đường kính
khác nhau th́ một bức tường ống có thể loại trừ tiếng ồn trong
băng tần 200 Hz cho đến 4750 Hz.
Sự kết hợp các ống có nhiều đường kính khác nhau
cho ra nhiều kết quả thú vị. Trong một công tŕnh của đại học Bách
khoa Valencia (Tây Ban Nha) [10], một tinh thể phonon hấp thụ âm
thanh được chế tạo bằng những ống trụ plastic có đường kính lớn
dần từ ngoài vào trong tạo thành một vành đai. Trong vành đai là
tập hợp các ống trụ tạo thành tâm lơi (H́nh 5). Khi sóng âm tiếp
cận vành đai, sóng bị bẻ cong hướng về tâm lơi giống như ánh sáng
bị khúc xạ. Tại tâm lơi, mọi năng lượng sóng bị hấp thụ bởi sự cọ
xát của sóng với các ống trụ. Người ta gọi thiết bị này là "lỗ đen
âm học" theo định nghĩa "lỗ đen" trong vũ trụ. Tiến sĩ Olga Umnova
(Đại học Salford, Anh) tạo dựng một cấu trúc tương tự nhưng to hơn
để khảo sát sự hấp thụ năng lượng gây ra bởi tiếng nổ của bom
[11]. Người ở trong hầm trú ẩn có thể tử vong v́ sức ép của quả
bom nổ. "Lỗ đen âm học" có thể hấp thụ được năng lượng sức ép này
khi đặt xung quanh hầm trú ẩn tránh được thương vong.

H́nh 5: Tinh thể phonon (nh́n từ trên)
có vành đai và tâm lơi làm bằng những ống trụ plastic hấp thụ năng
lượng sóng âm tạo ra "lỗ đen âm học".
H́nh nhỏ góc trên bên phải là kết quả của mô h́nh toán cho thấy
đường đi hướng tâm của sóng âm [10].
Tiếng ồn là tập hợp âm thanh hỗn loạn của nhiều tần
số khác nhau. Một bài nhạc cũng là một tập hợp âm thanh nhiều tần
số nhưng theo một giai điệu hài ḥa êm tai. Nhưng khi có ông hàng
xóm thích vặn nhạc to vang dội cả một khu xóm th́ dù ta có đóng
kín cửa những tiếng đệm bass "bùng bùng…" vẫn len lỏi xuyên vào
nhà. Bài ca trở nên què quặt gây ra sự khó chịu như tiếng động cơ
của chiếc xe tải chạy trên cao tốc hay tiếng c̣i hụ của tàu thủy.
Người ta xây bức tường gạch để chặn tiếng ồn nhưng các âm có tần
số thấp như tiếng bass, tiếng động cơ, tiếng c̣i vẫn có thể vượt
rào.
Việc thay thế những bức tường gạch tốn kém bằng một
barie tinh thể phonon với hàng cây xanh hay các ống thép là việc
khả thi. Nhưng ngăn chặn tiếng ồn có tần số thấp với tinh thể
phonon có nhiều khó khăn. Theo định luật Bragg, để gây ra sự phản
hồi sóng ở tần số 100 Hz, khoảng cách giữa hai ống phải là 1,7 m.
Ở khoảng cách này, đường kính của ống phải đủ lớn (~ 1 m) để lắp
vào các khoảng trống cho việc phản hồi sóng có nhiều hiệu quả hơn.
Thiết kế này cồng kềnh và không thực tế. Nhưng khi ống thép được
triển khai thành một vật có thể vừa phản hồi ở tần số cao vừa hấp
thụ âm ở tần số thấp th́ hai cơ chế này sẽ tạo ra một hệ thống có
sức ngăn chặn âm thanh trên một băng tần rộng. Việc hấp thụ âm
thanh đă được áp dụng nhiều trong ngành xây dựng. Những thể xốp
nhiều khe rănh, lỗ trống vi mô hay bông sợi thủy tinh là vật liệu
truyền thống hấp thụ âm thanh được đặt vào tường hay trên trần nhà
[12]. Sóng âm đi vào những con đường ngoằn ngoèo của các khe rănh
hay lỗ trống và dần dần bị hấp thụ qua sự cọ xát với vật liệu.
Việc hấp thụ sóng c̣n xảy ra qua cơ chế cộng hưởng.
Mọi vật thể hay cấu trúc đều có tần số cộng hưởng riêng của chúng.
Khi có một rung động tương tác lên vật thể hay cấu trúc ở tần số
rung giống như tần số tự nhiên của vật thể, nói nôm na là cùng một
nhịp đập, th́ sự cộng hưởng xảy ra. Khi đó năng lượng rung sẽ bị
hấp thụ bởi vật thể hay cấu trúc đó. Một thí dụ dễ hiểu về cộng
hưởng là một đoàn quân vài ngàn người cùng diễn hành qua một cây
cầu. Khi nhịp đi của đoàn quân có tần số tương tự như tần số cộng
hưởng tự nhiên của cây cầu th́ năng lượng va đập vào cầu của hàng
ngàn đôi chân được chiếc cầu hấp thụ và có khả năng làm sập cầu.
Một thí dụ khác mà người đọc có thể xem trên youtube là một nguồn
âm đặt trước một cái ly thủy tinh. Khi tần số âm thanh phát ra
giống như tần số tự nhiên của cái ly th́ sự cộng hưởng xảy ra, cái
ly hấp thụ năng lượng sóng khiến nó bị vỡ tan.
Vật cứng như kim loại chỉ có tác dụng phản hồi
nhưng vật mang tính đàn hồi như cao su hay các loại plastic mềm có
khả năng hấp thụ năng lượng sóng theo cơ chế cộng hưởng. Người ta
đă sử dụng các vật liệu truyền thống hấp thụ âm hay các mảnh vụn
cao su được nghiền từ vỏ bánh xe phế thải [13] lấp đầy khoảng
trống của ống thép hay viền xung quanh một lớp cao su mỏng bên
ngoài ống thép [14]. Những vật liệu này hấp thụ sóng âm nhưng
không cho hậu quả "khốc liệt" như cây cầu hay cái ly mà chỉ biến
năng lượng sóng thành nhiệt. Bề mặt ống thép cũng được sửa đổi như
cắt dọc theo chiều dài của ống để tiết diện của có h́nh chữ C hay
trên bề mặt được khoan những lỗ trống (H́nh 6) [15] để tạo sự cộng
hưởng. Khi có những thay đổi này mô h́nh toán học cho thấy ngoài
vùng cấm chính theo định luật Bragg có một vùng cấm thứ hai ở băng
tần thấp hơn xuất hiện do sự cộng hưởng.

H́nh 6: Bề mặt ống thép được cắt dọc theo chiều dài
của ống để tiết diện có h́nh chữ C
hay trên bề mặt được khoan những lỗ trống tạo ra sự cộng hưởng
[15].
Nhưng trước công tŕnh này 3 năm, một mô h́nh toán
học tương tự đă được công bố và thực chứng bởi các dữ liệu thực
nghiệm từ một "bức tường" rất độc đáo làm từ các ống tre (H́nh 7)
[16]. Nhóm này dùng các ống tre tạo thành một hệ thống tinh thể
phonon có vùng cấm phản hồi sóng như tác phẩm Sampere. Khi các ống
tre được đục các lỗ trống dọc theo chiều dài ống th́ vùng cấm thứ
hai xuất hiện ở băng tần thấp hơn vùng cấm thứ nhất. Ống tre có lỗ
trống như một ống sáo có tác dụng như vật cộng hưởng Helmholtz hấp
thụ năng lượng ở một tần số nhất định (Phụ lục f). Công tŕnh
nghiên cứu này mang đến cho ta một ư tưởng "xanh" đem hương vị của
hoa đồng cỏ nội để thanh lọc những tiếng ồn của chốn phồn hoa đô
hội. Ta có thể chọn những ống tre, ống trúc to nhỏ khác nhau, đặt
chúng ở những khoảng cách dài ngắn khác nhau, khoan những lỗ trống
nhiều ít khác nhau để tối ưu hóa "bức tường" của tinh thể phonon
ống tre. Trong ḷng một đô thị ồn ào bụi khói ta vẫn có thể tạo ra
một khu vườn Nhật Bản nhiều cây xanh được bao quanh bởi bức tường
tre đơn giản nhưng chặt chẽ tuân thủ những quy luật vật lư để cho
ta một không gian trầm lắng. Trong không gian này những tiếng động
có lẽ chỉ là tiếng róc rách của con suối nhỏ nhân tạo hay là tiếng
vẫy đuôi của con cá koi hớp nước bắt mồi. Tại sao không?

H́nh 7: Những ống tre với những lỗ trống cộng hưởng
tạo ra bức tường ngăn chặn tiếng ồn.
Ống tre có đường kính trung b́nh 4 cm, cao 2,60 m và đường kính lỗ
trống 9 mm.
Hệ thống tinh thể ống tre cho thí nghiệm gồm 9 ống x 5 dăy [16].
Ngoài lỗ trống tầm milimét, những khe hay lỗ trống
có kích thước nhỏ hơn 1 mm, trong khoảng micromét, cũng có thể
khắc trên bề mặt tấm kim loại mỏng, plastic hay giấy b́a để hấp
thụ âm thanh bởi cơ chế cộng hưởng. Ở thập niên 70 của thế kỷ 20,
một giáo sư người Trung Quốc, Dah-You Maa, đă dùng các phương
tŕnh toán học để lư giải hiện tượng hấp thụ qua các khe hở
micromét [17]. Theo ông, khe trống hay lỗ trống với kích cỡ vài
trăm micromét (100 – 300 µm) có thể hấp thụ năng lượng sóng trên
một băng tần rộng mà không cần đến những vật liệu như thể xốp, cao
su hay bông sợi thủy tinh hỗ trợ. Lư thuyết Maa đă được thương mại
hóa tạo ra những pa-nô kim loại hay plastic trong hay đục nhiều
màu sắc vừa đẹp mắt vừa hấp thụ tiếng ồn trong lĩnh vực xây dựng
[18].
Theo ḍng nghiên cứu của giáo sư Maa, một công
tŕnh gần đây đáng chú ư có ứng dụng thực tiễn do nhóm nghiên cứu
của Đại học Bách khoa Valencia (Tây Ban Nha) thực hiện [19]. Nhóm
này dùng những ống nhôm được khắc với mật độ dày đặc những khe
ngắn và hẹp (H́nh 8a). Những khe này có tác dụng hấp thụ sóng âm.
Ba dăy ống nhôm được sắp xếp theo một trật tự thành một hệ thống
tinh thể phonon phản hồi sóng. Họ hoàn thành một hệ thống vừa hấp
thụ vừa phản hồi âm thanh ở băng tần có tần số thấp (1.000 – 5.000
Hz). Hệ thống này có chức năng ngăn chặn âm thanh tương tự như bức
tường bê tông có kích thước giống nhau (H́nh 8b).

(a)
(b)
H́nh 8: (a) Khe hở trên bề mặt ống nhôm có chiều
dài b = 1,61 mm và chiều ngang a = 48,1 μm
và (b) Hàng rào hấp thụ âm thanh làm bằng 3 dăy ống nhôm khắc khe
hở có đường kính 16 cm, cao 3 m, đặt cách nhau 22 cm [19].
5.
Sóng biển và sóng động đất
Như sóng âm, sóng nước và sóng động đất là sóng cơ
học. Đây là những loại sóng có sức tàn phá to lớn gây ra sự xói
ṃn và sạt lở. Một số nhóm nghiên cứu đă lập ra những mô h́nh toán
t́m hiểu sự tác động của hai loại sóng này lên hệ thống tinh thể
phonon cho việc ngăn chặn sóng biển và sóng động đất.
Phương pháp truyền thống bảo vệ bờ biển là dùng
tetrapod, những tảng bê tông bốn chân, đặt chồng lên nhau
không trật tự dọc theo bờ làm giảm năng lượng xói ṃn của sóng.
Trong mô h́nh của tiến sĩ Hu và cộng sự [20], nhóm này tạo ra một
loại ống có bốn khe hở dọc theo chiều dài ống (H́nh 9). Những thay
đổi trên bề mặt ống như đă đề cập đều biến ống thép "trơ trơ" như
đá thành một vật biết hấp thụ năng lượng. Nhưng khác với loại ống
dùng trong không khí chỉ có một khe hở dọc theo chiều dài hay
những lỗ trống, sự hấp thụ sóng xảy ra nhờ bốn khe hở. Khi sóng
đánh vào, nước biển ùa vào ống qua khe hở mặt trước, và nước được
thải ra qua khe hở ở mặt sau. Như thế chiều cao sóng khi tác động
qua ống bị suy sụp nhanh chóng. Năng lượng sóng bị hấp thụ. Kết
quả tính toán của Hu và cộng sự cho thấy một hệ thống với 5 dăy
ống với bốn khe hở (1) phản hồi và hấp thụ 90 % năng lượng sóng
tới và (2) có thể ngăn chặn sóng có bước sóng dài (tần số thấp).
Sóng có bước sóng dài là sóng thần. Như vậy, suy diễn từ kết quả
tính toán th́ hệ thống ống của Hu và cộng sự có tiềm năng ngăn
chặn sóng thần. Lư thuyết đưa ra những kết quả lư tưởng cho những
trường hợp đơn giản nhưng thực tế th́ không hề đơn giản. Sóng biển
không chỉ đơn thuần là loại sóng bề mặt hiền lành chỉ biết đưa đẩy
ra vào mà c̣n có những luồng sóng ngầm hay ṿng xoáy. Những yếu tố
này không được bao gồm trong mô h́nh của Hu và cộng sự. Ngoài ra,
thiết lập một hệ thống các dăy ống rắn chắn dọc theo bờ có thể rất
tốn kém. Tạm thời, người ta hài ḷng với các tảng tetrapod đặt
lổng chổng dù không thẩm mỹ nhưng tiết kiệm được nhiều kinh phí.

H́nh 9: Mô h́nh tinh thể phonon với ống h́nh trụ có
bốn khe hở cho việc hấp thụ năng lượng sóng biển [20].
Trong khi việc ngăn chặn sóng biển chỉ dừng ở mô
h́nh toán th́ những nghiên cứu về sóng động đất đă được thực
nghiệm ở hiện trường. Trong tất cả những loại thiên tai, có lẽ
động đất gây nhiều tổn thất lớn về sinh mạng cũng như tài sản.
Hiện nay, tại các quốc gia phải hứng chịu nhiều thảm họa động đất
như Nhật Bản người ta thiết kế nhà cao tầng và cấu trúc hạ tầng có
khả năng làm giảm sự rung chuyển gây bởi động đất. Nhưng biện pháp
này vô hiệu đối với những trận động đất lớn. Một phương sách khác
là làm giảm cường độ sóng trước khi nó chạm đến các ṭa nhà và nơi
công cộng. Động đất gây ra bởi sự va chạm giữa hai thềm lục địa,
năng lượng va chạm được truyền đi dưới dạng sóng. Những luồng sóng
này khi chạm mặt đất sẽ trở thành sóng bề mặt dao động qua lại hay
lên xuống với tốc độ di chuyển vài km trong một giây. Liệu những
luồng sóng này có giống như sóng âm di chuyển trong không khí hay
trong nước có thể bị bẻ ngoặt theo một hướng khác hoặc bị chặn nơi
chúng ta muốn bảo vệ?
Tiến sĩ Sebastien Guenneau và cộng sự của đại học
Aix-Marseille (Pháp) và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS,
Pháp) cùng với các kỹ sư xây dựng của công ty Ménard đă thực hiện
một thí nghiệm hiện trường hoành tráng để trả lời câu hỏi trên và
t́m hiểu hiệu năng chống động đất của hệ thống tinh thể phonon
[21]. Nhóm này khoan 3 x 10 lỗ trống h́nh trụ, mỗi lỗ có đường
kính 32 cm và chiều sâu 5 m, khoảng cách giữa hai lỗ trống là 1,73
m. Nguồn chấn động được treo từ một cần cẩu (H́nh 10). Các bộ cảm
chấn được đạt xen kẽ trong và ngoài hệ thống lỗ trống. Kết quả
thí nghiệm cho thấy sóng chấn động phản hồi trở lại về phía nguồn
phát chấn. Như vậy, nếu ta xây một vành đai các lỗ trống h́nh trụ
(H́nh 11) quanh một ṭa nhà hay khu vực th́ chúng sẽ được bảo vệ
từ mọi phía.

(a)
(b)
H́nh 10: Cuộc thí nghiệm thực địa của nhóm Guenneau:
(a) chi tiết thí nghiệm và (b) hiện trường [21].

H́nh 11: Vành đai tinh thể phonon (2) bao quanh nền
nhà (3) để chống sóng động đất (1).
Thí nghiệm nhóm Genneau xác nhận hệ thống tinh thể
phonon cũng có tác dụng làm phản hồi sóng trong ḷng đất. Các lỗ
trống không khí làm phản hồi sóng ở tần số 50 Hz nhưng sóng động
đất có nhiều tần số đặc trưng khác nhau. Các nhà khoa học và kỹ sư
địa chất cần phải có đề án thiết kế để bao phủ mọi tần số như
Kushwaha đă thực hiện cho sóng âm trong không khí. Kết quả thí
nghiệm cũng cho thấy cấu trúc các lỗ trống làm phản hồi sóng có
phần hơi "ích kỷ" v́ sóng phản hồi sẽ gây thêm tác hại cho khu vực
xung quanh của vùng được bảo vệ. Để tránh trường hợp này các lỗ
trống đơn giản của nhóm Genneau được thay thế bằng ống thép hay bê
tông và tiết diện của ống có thể là h́nh tṛn hay chữ thập tùy
theo loại đất đá [22]. Các loại ống cần phải được cải tiến để có
khả năng hấp thụ năng lượng sóng như các ống kim loại được gia
công đă đề cập ở phần trên. Chẳng hạn, cao su được bao quanh ống
nhằm gia tăng sự hấp thụ.
Dữ liệu thực nghiệm và những dự đoán từ mô h́nh
toán đă nâng sự hiểu biết về công nghệ chống động đất lên một tầm
cao. Việc thực hiện một vành đai bảo vệ quả thật tốn kém nhưng so
với tổn thất to lớn mà động đất gây ra th́ kinh phí xây dựng chỉ
là một phần nhỏ. Vấn đề là chúng ta vẫn chưa hiểu hết về hiện
tượng địa chấn v́ sóng động đất vốn phức tạp. Dữ liệu của nhóm
Gennneau chỉ là kết quả của sóng bề mặt trong khi việc truyền tải
của sóng khối (bulk wave) trong ḷng đất vẫn chưa được hiểu cặn kẽ.
Ngoài ra, sóng di động trên những băng tần khác nhau và tùy thuộc
vào đặc tính của môi trường truyền tải, đó là những tầng đất đá
của vỏ địa cầu. Cho nên không có một thiết kế chung cho tất cả mọi
t́nh huống địa lư.
Sự xói ṃn bởi sóng biển là kết quả của quá tŕnh
dao động miệt mài gây bởi năng lượng sóng trong một thời gian dài.
Ngược lại, năng lượng va chạm giữa hai thềm lục địa gây ra động
đất có con số khổng lồ được thiên nhiên phóng thích trong một thời
gian rất ngắn. Một trận động đất có độ Richter 6 thả ra năng lượng
tương đương với một quả bom hạt nhân Hiroshima có sức tàn phá của
15.000 tấn thuốc nổ TNT. Ở độ Richter 7 sức tàn phá bằng 30 quả
bom Hiroshima. Thảm họa sóng thần năm 2011 tại vùng Đông Bắc Nhật
Bản gây ra bởi một trận động đất ở độ Richter 9 có sức tàn phá hơn
30.000 quả bom Hiroshima. Một sức mạnh khủng khiếp vượt qua mọi sự
tưởng tượng nhưng con số phản ánh địa chấn có mật độ năng lượng
rất cao. Trong thời đại của năng lượng tái tạo mà tiêu biểu là
năng lượng mặt trời, năng lượng gió đang phổ biến rộng khắp, cái
nhẹ nhàng của sóng biển và cái mănh liệt của sóng động đất đều nằm
trong tầm ngắm của các nhà khoa học. Hiện nay, đă có những thiết
bị tích điện cho năng lượng mặt trời để chứa điện dùng từ từ trong
một thời gian dài. Người ta cũng chế tạo được thiết
bị và vật liệu chuyển hoán cơ năng (sóng biển, sóng động đất)
thành điện năng. Những thiết bị này có thể gắn vào hệ thống tinh
thể phonon vừa ngăn chặn sóng vừa hấp thụ sóng để biến thành điện.
Nhật Bản thường xuyên có những trận rung chuyển nhỏ dưới Richter 5
không đủ sức mạnh tàn phá nhưng phóng thích ra nhiều năng lượng mà
hệ thống tinh thể phonon có thể khai thác và tích trữ.
6.
Siêu âm, siêu vượt âm và nhiệt
Nền công nghiệp điện tử với hạt electron khởi đầu
hơn 50 năm trước đă tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp của thế
kỷ 20 với những sản phẩm như máy tính và điện thoại thông minh.
Cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu này đă làm thay đổi cách sống và
bộ mặt của cuộc sống loài người. Đứng sau cuộc cách mạng điện tử
là con chip chứa hàng tỷ transistor và công cụ cực nhỏ này
được vận hành bởi vùng cấm electron của vật liệu bán dẫn silicon.
Ngoài ra, cáp quang truyền thông, những đĩa CD, DVD, máy in laser
thông dụng, thiết bị in laser tạo vật kim loại 3 chiều là thành
quả của các nghiên cứu quang tử học (photonics) từ 20 năm qua. Âm
tử học (phononics) là người em sanh sau đẻ muộn nhưng sự kết hợp
của electron, photon và phonon với vùng cấm đặc trưng của từng thể
loại sẽ dự kiến được áp dụng trong các thiết bị tương lai. Khi đó
internet sẽ nhanh hơn, máy tính và điện thoại di động sẽ đa dạng
và đa năng hơn, và vô số tiềm năng khác. Nhưng để đạt tới những
tiềm năng này chúng ta c̣n một quăng đường dài nghiên cứu trước
mắt, cần thêm ít nhất 10 năm.
Siêu âm là sóng âm có tần số trong vùng megahertz
(MHz, 1 MHz = 1.000.000 Hz) có bước sóng trong vùng micromét (μm)
nằm ngoài vùng khả thính của con người. H́nh 12a cho thấy hệ thống
tinh thể phonon làm bằng miếng (wafer) silicon với những ống không
khí có đơn vị μm. Hệ thống này cho thấy một vùng cấm siêu âm
khoảng 500 MHz nơi có sự phản hồi sóng xảy ra theo định luật Bragg
(Phụ lục d). Một trong những thiết bị quan trọng dùng trong y học
là máy ảnh siêu âm chụp nội tạng hay thai nhi. Theo ḍng thời gian,
độ phân giải của máy càng lúc càng được cải thiện để có thể quan
sát những chi tiết nhỏ hơn. Tuy nhiên, giống như kính hiển vi
quang học, máy tạo h́nh siêu âm bất lực trước chi tiết nhỏ hơn 1/2
bước sóng. Cũng như siêu thấu kính quang học của nhóm Pendry, siêu
thấu kính âm học dựa trên tinh thể phonon đă được chế tạo và khảo
sát nhằm chinh phục được sự nhiễu xạ nhỏ hơn 1/2 bước sóng [23].
Những hoạt động nghiên cứu của tinh thể phonon siêu âm bắt đầu vào
những năm đầu tiên của thế kỷ 21. Hơn 15 năm trôi qua, đă có nhiều
đề nghị ứng dụng chế tạo bộ cảm ứng siêu âm và các ứng dụng y học
khác [24]. Tuy nhiên, những dữ liệu thực nghiệm cho đến nay chỉ
dừng ở mức hàn lâm và chưa được biến thành thương phẩm.

H́nh 12: Hệ thống tinh thể phonon cho (a) siêu âm
làm từ miếng silicon với những ống không khí có đường kính 6 μm và
chiều cao 100 μm [25]; (b) siêu vượt âm có kích cỡ nhỏ hơn 1 μm và
(3) nhiệt có kích cỡ nanomét [26].
Khi khoảng cách giữa hai ống tiến đến mức vài
micromét th́ vùng cấm của tinh thể phonon sẽ lọt vào vào tần số
của vùng siêu vượt âm ở đơn vị gigahertz (GHz, 1 GHz = 1 tỷ Hz).
Micromét cũng là đơn vị của bước sóng ánh sáng. Như vậy,
những tinh thể phonon này có thể vừa có vùng cấm cho sóng siêu
vượt âm lẫn ánh sáng. Sự đồng hành và tương tác giữa phonon và
photon ánh sáng trên cùng một địa bàn mở ra một công nghệ mới cho
việc chế tạo các linh kiện vô tuyến, vi tính và viễn thông.
Sự truyền tải nhiệt xảy ra ở tần số tetrahertz
(THz, 1 THz = 1 ngàn tỷ Hz). Giống như âm thanh, nhiệt và nguyên
tử của môi trường tương tác với nhau. Nhiệt làm cho nguyên tử dao
động và sự dao động khiến nhiệt lan tỏa đi khắp mọi phía. Sự
truyền nhiệt xảy ra. Thời gian dao động qua lại một ṿng của
nguyên tử bởi nhiệt vào khoảng 10-13 giây. Nghĩa là,
trong 1 giây nguyên tử dao động khoảng 1013 lần (10.000
tỷ lần), nói theo thuật ngữ khoa học th́ tần số dao động là 1013
Hz hay là 10 THz. Bước sóng của phonon ở vùng THz nằm trong phạm
vi nanomét.
Trong một môi trường vĩ mô như môi trường chúng ta
đang sống th́ sự truyền nhiệt xảy ra do sự khuyếch tán nhiệt trong
không khí, chất lỏng hay chất rắn. Đó là những thể nghiệm hằng
ngày. Nhưng trong môi trường vi mô nanomét như trong con chip
của máy tính chứa vài tỷ silicon transistor th́ sự truyền nhiệt
không xảy ra bởi cơ chế khuếch tán mà do sự dao động của mạng lưới
nguyên tử silicon. Đối với các chuyên gia điện tử thiết kế máy
tính, điện thoại di động hay pa-nô năng lượng mặt trời, điều quan
trọng bậc nhất là t́m kiếm một phương pháp chế ngự đường đi của
nhiệt trong mạng lưới silicon. Sự phát tán nhiệt từ con chip
trong máy tính hay trong chiếc điện thoại di động là một trong
những vấn đề nổi cộm trong công nghiệp điện tử và vi tính. Sự phát
nhiệt làm giảm tính năng của vận tốc xử lư và sức chứa của bộ nhớ.
Công ty chế tạo máy tính thường để chiếc quạt nhỏ trước con
chip để làm mát những linh kiện này, nhưng đây chỉ là cách vá
víu tạm thời. Các nhà thiết kế máy tính và điện thoại di động đang
t́m hiểu cơ chế truyền nhiệt trong mạng lưới nguyên tử silicon để
t́m một giải pháp thải nhiệt ra ngoài con chip và bộ nhớ
một cách hiệu quả nhất. Ngược lại, ở các thiết bị khác nhiệt cần
được điều dẫn đến một mục tiêu mong muốn hay làm chậm lại ḍng
chảy của nhiệt. Một thí dụ là thiết bị nhiệt điện (thermoelectric
device). Thiết bị này sử dụng sự khác biệt nhiệt độ giữa hai vị
trí để sản xuất điện. Để có sự chuyển hoán tối đa từ nhiệt sang
điện, ḍng nhiệt cần phải bị chặn lại hay ít nhất di chuyển thật
chậm để duy tŕ sự khác biệt nhiệt độ nhằm gia tăng hiệu suất
chuyển hoán từ nhiệt thành điện. Nếu nguồn nhiệt là cơ thể con
người th́ th́ thiết bị nhiệt điện có thể tạo một nguồn điện cá
nhân miễn phí cho điện thoại di động hay laptop.
Việc điều chỉnh hướng đi hoặc ngăn chặn ḍng nhiệt
cần tinh thể phonon. Nhiệt truyền tải ở tần số THz tương ứng với
bước sóng nanomét, nên "nguyên tử" tinh thể cũng phải có kích
thước tương đương. Tinh thể phonon nanomét đă được chế tạo bằng
phương pháp li-tô (lithography) (H́nh 12c) [27]. Phương pháp chế
tác này vẫn gặp nhiều khó khăn v́ mặt phẳng của tinh thể phonon
cần phải có độ phẳng tuyệt đối có độ lồi lơm ở độ nhỏ nguyên tử
(10-10 m) [28]. Nếu lớn hơn, sóng phonon sẽ bị tán xạ
trước khi có cơ hội tương tác với tinh thể. Đây là một thách thức
cần khắc phục để có những ứng dụng thực tiễn.
7.
Lời kết
Vùng cấm electron của chất bán dẫn đă tạo nên huyền
thoại trong lịch sử khoa học và cũng là nhân tố của cuộc cách mạng
điện tử của thế kỷ 20. Việc phát hiện vùng cấm đặc trưng của tinh
thể photon và theo đó là tinh thể phonon đă làm bùng lên một trào
lưu nghiên cứu từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Hai mươi năm sau
vào những năm đầu của thế kỷ 21, Pendry và cộng sự tạo ra siêu vật
liệu mà thực chất cũng là những hệ thống có thành phần được sắp
xếp trật tự như tinh thể photon/phonon. Chiếc b́nh mới "siêu vật
liệu" cho thêm nhiều hương vị vào ṿ rượu cũ, đóng góp những tri
thức mới dẫn đến các ứng dụng tàng h́nh, tàng âm, chiết suất âm và
siêu thấu kính quang học lẫn âm thanh. Dù rằng, tính khả thi của
những tiềm năng này vẫn c̣n vướng mắc những yêu cầu khó khăn trong
thực tế.
Những công tŕnh nghiên cứu về những tinh thể nhân
tạo photon cho quang học và phonon cho sóng cơ học biểu hiện sự
liên hệ mật thiết giữa vật lư và vật liệu học. Chúng đă làm giàu
những kiến thức vật lư và đưa ra những thách thức cho việc thiết
kế vật liệu mang đặc tính theo các yêu cầu của dự đoán lư thuyết.
Bài viết này tŕnh bày một khía cạnh nhỏ của tinh thể phonon, một
hệ thống nhân tạo giản dị được tạo thành bởi những ống h́nh
trụ sắp xếp theo một trật tự có chu kỳ. Đặc điểm của hệ thống này
là phản hồi các loại sóng cơ học như sóng âm, sóng biển và sóng
động đất, những ứng dụng rất gần gũi đóng góp vào chất lượng cuộc
sống và sự an toàn của môi trường.
Định luật Bragg biểu hiện bởi một công thức dễ hiểu
đă soi thấu được cấu trúc của các tinh thể khoáng chất thiên nhiên
100 năm trước và giờ đây đă trở thành một mẫu mực cho các ứng dụng
của tinh thể phonon nhân tạo bao trùm từ mức vĩ mô như sóng thần,
sóng động đất đến mức vi mô của sóng siêu âm, siêu vượt âm và
nhiệt. Trên phương diện lư thuyết các nhà khoa học đă dùng nhiều
con toán phức tạp dựa trên các quy luật vật lư chất rắn để suy
đoán ra vị trí vùng cấm của tinh thể, nhưng sự so sánh với định
luật Bragg như là một chuẩn mực lúc nào cũng là điều phải có. Có
lẽ, cha con nhà Bragg cũng không ngờ đến những khoa học gia hậu
bối đă "mượn" định luật của hai ông để khảo sát các sóng cơ học
tác động lên những cấu trúc vĩ mô có kích thước 10 tỷ lần lớn hơn
những cấu trúc thiên nhiên chứa nguyên tử của tầm cỡ Angstrom (10-10
m, hay là 1 phần mười tỷ của mét).
Những vật liệu giản dị của nền "công nghệ thấp" như
ống thép, ống tre, ống bê tông, thậm chí lỗ trống không khí trong
ḷng đất trở thành các "nguyên tử" của tinh thể phonon. Nhưng sự
giản dị không ngừng ở đây. Vật liệu hấp thụ năng lượng sóng ít tốn
kém như cao su vụn từ vỏ xe phế thải hay những khe hở đơn giản
trên bề mặt ống đă biến ống thành một vật hấp thụ sóng hữu hiệu.
Những cuộc thí nghiệm trong pḥng thí nghiệm, ngoài
đường phố hay trong ḷng đất được bố trí hoành tráng và công phu
đă chứng minh tính thực tiễn của tinh thể phonon. "Bức tường" tinh
thể phonon có thể là hàng cây xanh hoặc những ống kim loại dọc
theo đường cao tốc hay là một ốc đảo tĩnh mịch được che chắn bởi
những ống tre trong ḷng phố thị ồn ào là việc khả thi trong tầm
tay. Nhưng liệu con người có chăng khả năng không chỉ thuần hóa
được những cơn sóng dữ, hay những trận động đất có sức tàn phá
khủng khiếp mà c̣n khai thác được năng lượng của chúng như một
nguồn năng lượng tái sinh khổng lồ? Đây là một thử thách to lớn và
tốn kém cần đến những nghiên cứu lâu dài với sự hỗ trợ của nhà
nước.
Khi tiến tới các tần số cao hơn như sóng siêu âm và
cao hơn nữa như sóng siêu vượt âm và nhiệt, sự sắp xếp và kích cỡ
của thành phần của tinh thể phonon sẽ thuộc về cơi vi mô của
micromét và nanomét. Hiện tượng nh́n thấy ở mức vĩ mô cũng xuất
hiện ở mức vi mô. Nhưng khi càng tiến tới tần số cao, việc chế tác
tinh thể phonon micromét và nanomét với độ chính xác của kích
thước nguyên tử trở nên khó khăn cần được khắc phục để có những
ứng dụng thực tiễn. Con đường đi đến sự thành công có thể gian nan
nhưng sự kết hợp giữa electron, ánh sáng và phonon sẽ cho ra những
thiết bị "lai" mà tiềm năng ứng dụng của chúng sẽ mở ra một bước
ngoặt lớn cho các nền công nghiệp chẩn đoán y học, điện tử, vi
tính và viễn thông.
Năm trăm năm trước thiên tài Leonardo cảm khái thốt
lên một tuyệt cú ngắn gọn, "Sự giản dị chính là cái tột bực của
tinh vi" (Simplicity is the ultimate of sophistication). Thiên
nhiên là hiện thân của quá tŕnh tiến hóa vĩ đại từ những điều
giản dị. Con người miệt mài quan sát, nhiệt t́nh t́m cảm hứng từ
thiên nhiên siêu phàm. Tinh thể photon/phonon nhân tạo là những mô
phỏng của tinh thể thiên nhiên. Mong rằng cũng như thiên nhiên,
những mô phỏng này sẽ phục vụ cho sự an vui của con người, sự hài
ḥa giữa đất trời và muôn loài sinh linh, để cho những ḍng sông
không bao giờ ngừng chảy và cho cây ngàn măi măi xanh tươi.
Melbourne/San Jose
Tháng 9 - Tháng 12, 2017.
Phụ lục
a.
Âm phổ
Tương tự như sóng điện từ, sóng âm (thanh) có tần
số trải dài từ hertz (Hz) đến tetrahertz (THz). Tần số khả thính
của con người chỉ là một phần nhỏ của âm phổ nằm trong phạm vi từ
20 Hz đến 20.000 Hz (20 kHz) (H́nh P1).

H́nh P1: Âm phổ và các ứng dụng tiêu biểu [26].
Frequency: Tần số; Infrasound: hạ âm; Sound: âm; Ultrasound: siêu
âm; Hypersound: siêu vượt âm; Heat: nhiệt. Music: âm nhạc;
Ultrasound imaging: Tạo ảnh siêu âm; Thermal devices: thiết bị
nhiệt; Sonar: máy định vị thủy âm. Phononic crystals: tinh thể
phonon.
Hertz (Hz) là đơn vị của tần số, 1 Hz = 1 dao động/giây.
1 kHz (kiloHertz) = 1.000 Hz, 1 MHz (MegaHertz) = 106
Hz, 1 GHz (GigaHertz) = 109 GHz, 1 THz (TeraHertz) = 1012
Hz.
Bước sóng
λ
và tần số f
liên hệ qua công thức
λ = c/f
(P1)
c
là vận tốc sóng âm.
Trong không khí c = 343 m/s, và tần số khả
thính là 20 đến 20.000 Hz, tương đương với bước sóng 17 m đến 1,7
cm.
b.
Độ phân giải
Kính hiển vi quang học không thể quan sát được vật
nhỏ hơn ½ bước sóng của ánh sáng trắng do nhiễu xạ. Ánh sáng trắng
có bước sóng là 550 nm (nanomét) (trung b́nh cộng của bước sóng
ánh sáng tím 400 nm và ánh sáng đỏ 700 nm) nên kính không thể nh́n
vật nhỏ hơn 225 nm.
c.
Phonon
Sóng âm là một loại sóng cơ học cần một môi trường
để truyền tải. Môi trường đó có thể là chất khí, chất lỏng và chất
rắn. Sóng âm không thể truyền tải trong chân không. Sóng điện
trường có thể truyền tải trong chân không. Đây là điểm khác biệt
giữa sóng âm và sóng điện trường. Định luật quang học phần lớn đều
có thể áp dụng cho sóng âm.
Khi sóng âm hiện diện trong không khí th́ sóng sẽ
gây ra sự di động qua lại có chu kỳ của các phân tử không khí (N2
và O2) và sự di động qua lại làm thay đổi áp suất của
không khí và sự thay đổi này khiến cho sự truyền âm xảy ra từ đầu
này sang đầu kia. Trong chất rắn các nguyên tử không di chuyển tự
do như phân tử khí nhưng chúng tạo ra một mạng lưới (lattice) như
các viên bi được nối với ḷ xo. Sóng âm tác động lên mạng lưới
nguyên tử làm mạng co giăn. Sự rung động co giăn truyền tải âm
thanh khắp trên mạng lưới nguyên tử theo một chu kỳ. Thuật ngữ
"phonon" (âm tử) chỉ là hạt "ảo" được định nghĩa là một thực thể
mang năng lượng rung động (vibration energy) được lượng tử hóa.
Cũng như một photon (quang tử) của ánh sáng mang năng lượng E =
hf, h là hằng số Planck,
f
là tần số sóng điện
từ, cho phonon f
là tần số của sự rung động của mạng lưới
trong chất rắn hay sự duy chuyển qua lại của nguyên tử trong chất
khí hay chất lỏng.
d.
Định luật Bragg
Khoa học gia lúc nào cũng có nhu cầu "nh́n" và muốn
nh́n thấu đáo đến tận cùng nguyên tử. Những hạt cát lóng lánh trên
bờ biển, hay các hạt kim cương lung linh đă được các nhà khoa học
đă dùng tia X để quan sát. Nhưng không phải tia X nào cũng có thể
quan sát được tinh thể mà phải theo định luật của William Henry
Bragg và người con trai William Laurence Bragg (công thức P2). Họ
cùng nghiên cứu và cũng là giáo sư trường Đại học Adelaide (South
Australia, Úc), và nhận giải Nobel Vật lư năm 1915 cho công tŕnh
này.
Khi chùm tia X có những bước sóng khác nhau bắn vào
tinh thể th́ sóng sẽ chạm vào nguyên tử của các tầng tinh thể gây
ra sự nhiễu xạ. Chỉ có tia X có bước sóng tuân theo công thức P2
sẽ bị nhiễu cho sự giao thoa tăng (constructive diffraction) và
phản xạ xảy ra. Tia X có bước sóng khác không bị nhiễu sẽ đi qua (truyền
xạ) tinh thể (H́nh P2).

H́nh P2: Chùm tia X (1) có nhiều bước sóng khác
nhau được bắn vào một tinh thể ở góc tới θ. Chỉ có chùm tia (2) có
bước sóng tuân theo định luật Bragg bị nhiễu xạ có sự giao thoa
tăng. Những chùm tia khác (3) không bị nhiễu đi xuyên qua (truyền
xạ) tinh thể. Chùm tia (2) và (3) tạo một góc 2θ. Đường gạch ngang
biểu hiện những mặt bằng nguyên tử.
Người đọc có thể tham khảo sách giáo khoa để hiểu
cách t́m công thức P2
dựa theo H́nh P3
nλ = 2d
sinθ
(P2)
n
= 1, 2, 3 , …;
λ
là bước sóng; d là khoảng giữa hai tầng nguyên tử; góc
θ
là góc tới của tia X.
Khi sóng tác dụng thẳng góc với bề mặt tinh thể
θ
= 90°,
sinθ = 1, ta có
nλ=
2d
(P3)
hay là d = nλ/2.
Như vậy, khi n =1 khoảng cách nhỏ nhất giữa
các tầng tinh thể thỏa măn định luật Bragg là
d=
λ
/2
(P4)

H́nh P3: Hai chùm tia X bắn vào tinh thể ở một góc
tới θ chạm vào nguyên tử tinh thể
(O) rồi phản xạ theo
định luật Bragg.
e. Ta
thử áp dụng định luật Bragg vào tác phẩm của Sempere, biết rằng
khoảng cách giữa hai ống thép là 10 cm, hay d = 10 cm. Bước
sóng phản hồi theo công thức P4 là
λ
= 20 cm. Tần số f tương ứng với bước sóng 20
cm là
f = c/λ
(P4)
c
là vận tốc của âm thanh trong không khí có trị số là 343 m/s. Ta
có
f
= 343/0,02 = 1715 Hz = 1,715 kHz
Con số lư thuyết 1,715 kHz rất gần với dữ liệu thực
nghiệm của nhóm Meseguer là 1,67 kHz.
f.
Vật cộng hưởng Helmholtz
Lỗ trống trên bề mặt của ống có tác dụng cộng hưởng
theo cơ chế Helmholtz, c̣n gọi là vật cộng hưởng Helmholtz
(Helmholtz resonator) (H́nh P4). Chai bia, lon nước ngọt, chiếc tù
và, cây sáo trúc, đàn guitar là những biến thể của vật cộng hưởng
Helmholtz. Dùng chai bia như một thí dụ, tần số cộng hưởng của
chai bia được diễn tả bởi phương tŕnh sau,
f = (c/2π)(S/Vl)1/2
(P5)
f
: tần số cộng hưởng, S: diện tích cổ chai,
l: chiều cao cổ chai và V: thể tích thân chai.

H́nh P4: Vật cộng hưởng Helmholtz.
Khi ta thổi ngang miệng chai bia ta gây sự dao động
không khí trong thân chai và khi sự dao động này đạt đến tần số
cộng hưởng của chai bia (công thức P5) th́ âm thanh phát ra ở tần
số này. Nếu ta đổ nước vào chai th́ V sẽ nhỏ hơn, theo công thức
P5 trên th́ trị số của f sẽ tăng và âm thanh phát ra ở cung
bậc cao hơn.
Tài liệu tham khảo1.
1. Trương Văn Tân, "Vật liệu và thiết bị nano", Chương 4, NXB Tổng
Hợp Tp HCM 2016.
2. J. P. Pendry and D. R. Smith, Scientific America (July 2006) 61.
3.
R. Martinez-Sala, J. Sancho, J. V. Sanchez, V. Gomez, J. Llinares,
and F. Meseguer, Nature, 378 (1995) 242.
4. J. V. Sánchez-Pérez et al, Phys. Rev. Lett., 80 (1998) 5325.
5.
D. Caballero et al, Phys. Rev. E, 60 (1999) R6316.
6. J. V. Sánchez-Pérez et al, Appl. Phys. Lett., 81 (2002) 5240.
7. R. Martínez-Sala et al, J. Sound and Vibration, 291 (2006) 100.
8. T. Miyashita, Meas. Sci. Tech., 16 (2005) R47.
9. M. S. Kushwaha, Appl. Phys. Lett., 70 (1997) 3218.
10. A. Climente, D. Torrent and J. Sánchez-Dehesa, Appl. Phys. Lett.,
100 (2012) 144103.
11. Trevor Cox, "The sound book", W. W. Norton & Company, New
York/London 2014.
12. J. P. Arenas and M. J. Crocker, Sound and Vibration, (July
2010) 12.
13. J. Sánchez-Dehesa et al, J. Acoust. Soc. Am., 129 (2011) 1173.
14. M. Hirsekorn, Appl. Phys. Lett., 84 (2004) 3364.
15. N. Kessissoglou and S. M. B. Fard, Proceedings of the 22nd
International Congresss on Acoustics, (2016).
16. C. Lagarrigue, J. P. Groby, V. Tournat, J. Acoust. Soc. Am., 133
(2013) 247.
17. Dah-You Maa, Sci. Sin., XVIII (1975) 55 & J. Acoust. Soc. Am., 104
(1998) 2861.
18. H. V. Fuchs and X. Zha, Acta Acustica United With Acustica, 92
(2006) 139.
19. V. M. García-Chocano, S. Cabrera and J. Sánchez-Dehesa, Appl.
Phys. Lett., 101 (2012) 184101.
20. X. Hu, C. T. Chan, K.-M. Ho and J. Zi, Phys. Rev. Lett., 106
(2011) 174501.
21. S. Brûlé, E. H. Javelaud, S. Enoch, and S. Guenneau., Phys. Rev.
Lett., 112 (2014) 133901.
22. M. Miniaci, A. Krushynska, F. Bosia and N. M. Pugno, New J. Phys.,
18 (2016) 083041.
23. N. Kaina, F. Lemoult, M. Fink and G. Lerosey, Nature, 525 (2015)
77.
24. J. H. Page, AIP Advance, 6 (2016) 121606.
25. V. Laude, A. Khelif and S. Benchabane, "Phononic Crystals",
www.femto-st.fr
26. M. Maldovan, Nature, 503 (2013) 209.
27.
T. Gorishnyy, C. K. Ullal, M. Maldovan, G. Fytas, and E. L.
Thomas., Phys. Rev. Lett., 94 (2005) 115501.
28. J. Maire et al, Sci. Adv., 3 (2017) e1700027.