Bầu cử Bán Phần Thượng Viện tại Nhật

Vũ Đăng Khuê

Sau nhiều tháng chuẩn bị, và sau 1 tháng “xuống đường” vận động, sau nhiều cuộc tranh luận gay go giữa lănh tụ các đảng, các ứng cử viên, cuộc bầu cử bán phần thượng viện (参議院-Tham Nghị Viện) đă bắt đầu từ lúc 7 giờ ngày 21 tháng 7 năm 2013 để người dân chọn 121 ghế trong số 433 ứng cử viên của 13 đảng và vô đảng phái.

Vận động bầu cử (選挙運動)

Cuộc vận động đă bắt đầu 1 tháng trước, diễn ra dưới nhiều h́nh thức, gián tiếp th́  internet (mới được chấp nhận từ tháng 4 năm nay), và Facebook, Twitter, HomePage, tin nhắn… của đảng, của ứng cử viên ngập tràn máy tính, nhắm tới số người chỉ suốt ngày lấy Tablet, PC, Smartphone là bạn…, hoặc trực tiếp th́ “thân hành” đến từng nhà từng phố gặp cử tri. Đảng lớn có nhiều tiền th́ rợp trời với những xe phóng thanh có âm lượng cực mạnh ra rả suốt ngày từ đường phố cho đến tận hang cùng ngơ hẻm, đảng nghèo th́ xe đạp làm chuẩn tà tà rong ruổi khắp nơi, tất cả đều có một mục đích là tŕnh bày sao cho rơ, nói sao cho cử tri hiểu đảng ḿnh sẽ làm ǵ khi được tin tưởng “trao thân gửi phận”. Ngoài ra, đây là một cuộc bầu cử rất quan trọng để chứng minh rằng: liên minh đảng cầm quyền hiện tại đang đi đúng hướng hay chệch hướng.

Hầu hết dư luận chỉ để ư đến những đảng nổi bật như liên minh đảng cầm quyền Tự Do Dân Chủ-Công Minh (自由民主―公明), Dân Chủ (民主), Nhật Bản Duy Tân Hội(日本維新会), Cộng Sản(共産), Đảng Của Người Dân(みんなの党), Đời sống người dân (生活の党), Xă Hội Dân Chủ (社会民主), …., c̣n các đảng khác th́ chỉ nghe qua rồi để đó hoặc phải nghe v́ những lời vận động lọt vào lỗ tai một cách rất… vô t́nh.

 

Loạn đảng (乱党)

Ngoại trừ những đảng có lịch sử thành lập lâu đời như Tự Do Dân Chủ (gọi tắt là Tự Dân), Công Minh, Dân Chủ, Cộng Sản, Xă Hội Dân Chủ (gọi tắt là Xă Dân), Đảng Của Người Dân, các đảng c̣n lại đều là những đảng được kết hợp khá vội vă v́ nhiều lư do, trong đó lư do lớn nhất là bất măn với đảng ḿnh rồi liên danh với đảng khác thành một…. đảng khác nữa. Chỉ trong ṿng một tháng, trước ngày bầu cử Hạ Viện tháng 12 năm ngoái, đă có cả gần chục đảng ra đời, rồi giải tán, rồi lại ra đời, có đảng mới hôm trước là “Thái Dương”, vài hôm sau lại thành “Nhật Bản Duy Tân Hội”, hoặc “Giảm Thuế Nhật Bản – chống TPP – không hạt nhân” rồi biến thành đảng “Tương Lai”, rồi lại giải thể chia thành Gió cây xanh (みどりの風) và “Đời sống Người Dân” v.v… và ông hay bà đảng trưởng nào cũng đều có câu tuyên bố tương tự: "Chúng tôi muốn bắt tay với nhau bởi v́ đường lối của chúng tôi tương đồng." . Tuy thế, dù “loạn đảng” nhưng ảnh hưởng trực tiếp lên cuộc sống người dân được coi là không đáng kể. Được như vậy là nhờ ư thức cao độ của người dân v́ Nhật Bản vốn là một quốc gia có một nền dân chủ vững vàng, Cho nên dù bên trên có “lung tung” thế nào đi chăng nữa, guồng máy điều hành bên dưới cũng chạy đều đặn không bao giờ bị khựng lại.

 

Lời hứa công khai (公約-Công Ước)

Lần này, người dân đă rất cẩn trọng trong việc “chọn mặt gửi vàng”, những nơi mà họ nghĩ rằng những “lời hứa công khai” không phải là hứa chỉ để hứa hoặc là hứa cuội. Một cách ngắn gọn, trọng điểm của cuộc bầu cử này là:

-         Làm sao để kinh tế Nhật Bản thoát khỏi đường hầm sau gần 2 thập niên tŕ trệ.

-         Phúc lợi của người dân sẽ ra sao (chế độ bảo hiểm y tế, tiền hưu…..) khi số người trẻ càng ngày giảm so với số người già

-         Nhật Bản sẽ đối phó thế nào đối với những hiểm họa bên ngoài như từ Trung Quốc, Bắc Hàn

-         Cách giải quyết Năng lượng hạch nhân

-         Hiệp định Kinh tế Đối tác Chiến lược xuyên Thái B́nh Dương (TPP)

-         Phục hưng, tái thiết các vùng bị nạn động đất, ṛ rỉ ḷ nguyên tử

-         Sửa đổi điều 9 và 96 trong bản hiến pháp hiện tại

-         Chủ trương một nước Nhật hùng mạnh, vơ trang để tự vệ, thay từ ngữ có vẻ yếu đuối là Tự Vệ Đội (自衛隊) thành quân đội (軍隊) v.v…

Chủ trương đảng cầm quyền
Mỗi đảng đều có những đường lối và giải thích theo cách nh́n của ḿnh về những vấn đề trên. Tuy nhiên để dễ so sánh, xin đưa chủ trương của đảng cầm quyền Tự Dân-Công Minh là đảng được mọi người chú ư nhất, v́ dầu sao liên minh này cũng đă cầm quyền được gần 8 tháng và không bị “dũa” nhiều v́ “nói th́ nhiều nhưng chẳng làm được bao nhiêu” hay “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” trong quá khứ của đảng Dân Chủ lúc c̣n nắm quyền (2009-2012). Liên minh này chủ trương:

-         Kinh tế: tiếp tục áp dụng chính sách kinh tế mà mọi người hay gọi là Abenomics, v́ chính sách này tạm coi là được mọi người chấp nhận khi liên minh này thắng lớn qua kỳ bầu cử hội đồng nghị viên đô thành tháng 6 vừa qua.

-         Gia nhập TPP, trong khi vẫn quyết tâm bảo vệ những lănh vực sống c̣n hay c̣n gọi “thánh địa” của Nhật; như gạo, thịt ḅ v.v…

-         Phúc lợi: để đảm bảo có đủ tiền chi cho các mặt an sinh, sẽ tăng thuế tiêu thụ 8% từ tháng 8 năm 2014 và 10% từ tháng 4 năm 2015 v.v…. Để tránh t́nh trạng người có thu nhập thấp sẽ “vất vả” với thuế tiêu thụ, đảng cầm quyền đang nghiên cưu cách hoàn lại bằng một h́nh thức nào đó: tiền mặt, phiếu mua hàng v.v…

-         Năng lượng hạch nhân: chủ trương tiến tới việc giảm thiểu dùng điện hạch nhân nhưng trong hiện tại v́ sự tồn vong của kinh tế Nhật, song song với việc t́m kiếm nguồn năng lượng rẻ và mới, vẫn phải duy tŕ điện hạch nhân, tuy thế sẽ bỏ ra một thời gian là 10 năm để nghiên cứu tất cả mọi mặt kỹ thuật để bảo đảm an toàn.

-         Ngoại giao: chủ trương ḥa hoăn thân thiện với tất cả các quốc gia, hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ trên căn bản đôi bên cùng có lợi, nhưng nhất quyết không nhân nhượng với những đ̣i hỏi phi lư điển h́nh là của Trung Quốc về lănh hải.

-         Sửa đổi hiến pháp: Đảng cầm quyền chủ trương: sẽ đi từng bước một, cố gắng dành được quá bán trong Thượng Viện để sửa đổi điều 96 (1) trước: từ 2/3 thành 1/2 rồi sau đó sẽ sửa điều 9 (2) sau. Sở dĩ có dự định sửa đổi này là v́ họ cho rằng bản hiến pháp hiện tại được soạn ra bởi người ngoài chứ không phải do chính tay người Nhật. Hơn nữa đă trói buộc Nhật Bản rất nhiều trong vấn đề tự vệ.
Tưởng cũng nên nhắc lại rằng sau khi Nhật Bản đầu hàng vào tháng 8/1945, Nhật đă phải chịu sự kiểm soát của lực lượng chiếm đóng mà đứng đầu là Hoa Kỳ và được khuyến cáo sửa đổi hiến pháp. Tháng 1 năm 1946 chính phủ Nhật Bản đưa ra bản dự thảo hiến pháp, tuy có khác bản cũ nhưng chủ yếu vẫn đặt quyền lănh đạo tối cao vào tay Thiên hoàng. Hoa Kỳ không chấp nhận và đề ra bản dự thảo khác MacAthur yêu cầu chính phủ Nhật Bản chấp thuận. Cuối cùng, Nhật Bản đă dựa trên bản dự thảo MacAthur để soạn ra Tân hiến pháp vào ngày 6 tháng 3/1946  trong đó qui định rơ Thiên Hoàng không có thực quyền mà chỉ là một biểu tượng của quốc gia. Ngày 3 tháng 5 năm 1947,  Nhật Bản chính thức thực thi bản hiến pháp mới.
Tuy nhiên từ khi bản hiến pháp có hiệu lực (năm 1947)  đến nay chưa lần nào việc sửa đổi hiến pháp được nhấn mạnh nhiều như trong lúc này. v.v......

Đường lối của đảng đối lập
Đối lại với đảng cầm quyền, đường lối của các đảng đối lập cũng rất đa dạng, đồng ư th́ ít nhưng phản đối th́ nhiều, thường là chống và chê trách và đưa ra những lư do nghe qua th́ cũng có lư. Chẳng hạn như chính sách Abenomics đă không mang lợi ích thiết thực mà người dân cảm nhận được, các đảng này đă trưng dẫn các con số từ bản thống kê của giới truyền thông. Theo đó th́ có khoảng 60% đều có cùng câu trả lời: “chưa có cảm giác thực sự yên tâm trước chính sách Abenomics”. Về việc dùng năng lượng nguyên tử th́ trừ Duy Tân Nhật Bản Hội, c̣n lại các đảng khác đều phản đối v́: “cứ nh́n thảm họa Fukushima th́ thấy, không cần phải giải thích”.

Kết quả bầu cử (選挙結果)

8 giờ tối cùng ngày (21/7), cuộc bầu cử chấm dứt nhưng kết quả hầu như đă có ngay cùng lúc bằng phương pháp thống kê ngay trước pḥng phiếu (出口調査) cho thấy đúng như dự đoán, liên minh đang cầm quyền thắng lớn. Dân Chủ, Nhật Bản Duy Tân Hội, Xă Dân, Đời sống Người Dân th́ đại bại. Kết quả chính thức sau khi khai phiếu 100% được ghi nhận như sau:

Tự Do Dân Chủ: 65 ghế
Công Minh: 11 ghế
Dân Chủ: 17 ghế
Cộng Sản: 8 ghế
Đảng của Người Dân: 8 ghế
Đời sống Người Dân: 0
Nhật Bản Duy Tân Hội: 8
Xă Dân: 1
Các đảng khác: 3
Tính luôn những nghị sĩ c̣n tại chức, Liên Minh cầm quyền chiếm được 135 ghế, các đảng đối lập 107 ghế (so với trước cuộc bầu cử là 103 và 134) chấm dứt t́nh trạng Nejiri Kokukai (
ねじり国会). (3)
Phe chiến thắng mà đại diện là Ông Ishiba Shigeru, Tổng Thư Kư đảng Tự Dân đă mạnh miệng: chiến thắng của liên minh đảng cầm quyền đă chứng tỏ là chúng tôi đă đi đúng với sự kỳ vọng của người dân, xin hăy cùng chúng tôi đoàn kết để mau chóng đưa Nhật Bản thoát ra sự tŕ trệ suốt 20 năm qua.
C̣n phe đại bại th́ đại khái cùng chung một “nhận định”: Thật là đáng tiếc, chúng tôi đă không đủ sức để thắng trong lần tranh cử này. Nhưng sẽ cố gắng giải thích cho mọi người hiểu hơn về đường lối của chúng tôi. Hẹn kỳ sau”.
Và rồi thế nào cũng có màn ra đi của chủ tịch , tổng thư kư đảng của các đảng phe đại bại theo đúng văn hóa từ chức của người Nhật v́ “chúng tôi đă không làm tṛn nhiệm vụ”.
Người dân Nhật đang bắt đầu hy vọng về cuộc sống sẽ khấm khá bằng năm bằng mười năm.. ngoái.



----------------------------------------------

(1)   Điều 96:
1/ phải có 2/3 số phiếu của cả 2 viện đồng ư (
議院において、それぞれ総議員の3分の2以上による賛成)
2/ phải được trên quá bán trên tổng số người đi bầu đồng ư. (国民投票による過半数の賛成)

(2)   Điều 9: Người dân Nhật Bản thành tâm mưu cầu một nền hoà b́nh quốc tế dựa trên chính nghĩa và trật tự, cam kết vĩnh viễn không phát động chiến tranh, không đe dọa bằng vũ lực, không hành sử vũ lực như là một phương tiện giải quyết các xung đột quốc tế.
Để thực hiện mục đích ghi ở trên, hải lục và không quân cũng như các tiềm lực chiến tranh khác sẽ không được duy tŕ. Quyền tham chiến của đất nước sẽ không được công nhận.
第9条 日本国民は、正義と秩序を基調とする国際平和を誠実に希求し、国権の発動たる戦争と、武力による威嚇又は武力の行使は、国際紛争を解決する手段としては、永久にこれを放棄する。
 前項の目的を達するため、陸海空軍その他の戦力は、これを保持しない。国の交戦権は、これを認めない。

(3)   ねじり国会: là t́nh trạng đảng cầm quyền có số ghế chỉ đạt quá bán trong Hạ Viện, c̣n Thượng Viện th́ không. V́ thế một dự luật dù được hạ viện thông qua nhưng nếu bị thượng viện phủ quyết th́ phải chuyển lại hạ viện thảo luận một lần nữa.

 

-------------------------------

Quốc hội Nhật Bản và cách vận hành

Quốc hội Nhật Bản (国会) là cơ quan lập pháp  gồm có 2 viện: hạ viện (衆議院、Chúng Nghị Viện - Shugiin) và thượng viện (参議院tham nghị viện Sangiin)

Hạ viện: có 480 ghế (tiểu khu tuyển cử 300, khu tỉ lệ 180) được bầu từ 130 đơn vị, trên nguyên tắc có nhiệm kỳ là 4 năm, nhưng v́ một lư do nào đó, giữa chừng Thủ Tướng (chủ tịch đảng cầm quyền) có quyền giải tán (解散選挙) để bầu ra một hạ viện mới. Tính cho đến nay, trong tất cả 46 nhiệm kỳ tính từ (1892-2012) chỉ có 4 nhiệm kỳ là 7, 10, 11, 21 là được duy tŕ đúng 4 năm, c̣n hầu hết là giải tán giữa nhiệm kỳ, tính trung b́nh là 1 nhiệm kỳ là 2 năm rưỡi. Bất cứ công dân nào trên 25 tuổi đều có thể ứng cử.

Thượng viện: có 242 (tiểu khu tuyển cử là 146, khu tỉ lệ là 48) ghế được chọn từ 47 đơn vị bầu cử, có nhiệm kỳ cố định là 6 năm và cứ 3 năm một lần sẽ được bầu lại để chọn một nửa là 121 ghế gọi là bầu cử bán phần. Khác với hạ viện không có việc giải tán nửa chừng. Số tuổi tối thiểu để có tư cách nộp đơn ứng cử là 30.

 

Vai tṛ của 2 viện

Nói chung th́ vai tṛ của 2 viện là làm chung một công việc: thảo luận những dự án dưới nhiều góc độ rồi thông qua hoặc phủ quyết. Nói rơ hơn th́ Hạ Viện thảo luận và biểu quyết, c̣n Thượng Viện th́ có nhiệm vụ xem xét lại những dự án đă được thông qua. Trên nguyên tắc, các dân biểu hạ viện là những chính trị gia thuần túy, c̣n nghị sĩ thượng viện bao gồm nhiều thành phần nổi tiếng được nhiều người biết đến như học giả, nhà kinh doanh, nghệ sĩ, nhà thể thao…. Sở dĩ có sự phân chia như thế là v́ nghị sĩ thượng viện là đại diện nhiều tầng lớp nhân dân không có chân trong đảng phái nào nên việc xem xét, check lại những phán quyết của hạ viện bằng cách nh́n của người dân sẽ chính xác và công b́nh hơn. Nhưng đó chỉ là h́nh thức và là chuyện xa xưa, trên thực tế th́ đảng nào cũng cố đưa người của ḿnh vào cả 2 viện sao cho quá bán để tránh trường hợp một bên th́ thông qua, c̣n một bên th́ phủ quyết. Tiếng Nhật gọi t́nh trạng này là “quốc hội nejiri”ねじり国会. Hơn nữa sự có mặt của những người nổi tiếng như ca sĩ, tài tử sẽ thu được nhiều phiếu hơn từ những fan của những nghệ sĩ này.

 

Sự khác biệt giữa Hạ Viện và Thượng Viện về mặt phán quyết:

-         Đối với các dự luật về pháp luật, nếu phán quyết của 2 viện không giống nhau th́ dự luật sẽ chuyển lại Hạ Viện để xem xét lại một lần nữa và sẽ được thông qua khi có 2/3 dân biểu hiện diện chấp thuận...

-         Đối với 3 dự luật đặc biệt: ngân sách, điều ước, chỉ định Thủ Tướng. Nếu phán quyết của 2 viện không giống nhau, th́ phán quyết của hạ viện sẽ coi là ưu tiên và tự động thông qua sau khi qua một vài thủ tục đơn giản..

-         Đối với việc sửa đổi hiến pháp (憲法改正)hoặc việc bổ nhiệm các nhân sự quan trọng của ngân hàng quốc gia, viện kiểm soát tài chánh, viện nhân sự, phái cử lực lượng tự vệ đội ra nước ngoài v.v... th́ phải được sự đồng ư của 2 viện

-         Chỉ hạ viện là có thể ra quyết nghị để phủ quyết việc bất tín nhiệm (不信任) hay thông qua nghị quyết bất tín nhiệm nội các chính phủ, trường hợp này th́ nội các phải từ chức. C̣n thượng viện th́ chỉ có thể ra nghị quyết “khiển trách nhân sự của nội các” (官僚など問責決議)hoặc “khiển trách thủ tướng (首相問責決議),  các nghị quyết này chỉ là một h́nh thức cảnh cáo chứ không có bắt buộc phải thi hành..

Nh́n qua những sự khác biệt trên, ta thấy rằng hạ viện có ưu tiên hơn thượng viện. Điều này đă được giải thích:

1/ nhiệm kỳ của hạ viện (tuy là 4 năm) nhưng trên thực tế th́ ngắn hơn nhiều, nên sẽ có những dự luật đi sát với người dân hơn v́ t́nh h́nh đôi khi xảy ra rất nhanh chóng.

2/ thượng viện chỉ giữ vai tṛ check lại và khuyến cáo, nên nếu có quyền như hạ viện th́ những dự án cần thiết như ngân sách, chỉ định thủ tướng v.v… sẽ không bao giờ thực hiện được nếu thượng viện nhất định phủ quyết.
Tuy nhiên, xét về mặt tích cực th́ dù cả 2 không có cùng phán quyết và cuối cùng Hạ Viện sẽ cũng thông qua, nhưng những chỉ trích của Thượng Viện sẽ làm cho dự luật hoàn hảo hơn, v́ khi được biểu quyết lại tại Hạ Viện th́ dự luật được biểu quyết này sẽ có thêm hoặc bớt những điều mà thượng viện chỉ trích. Hơn nữa nhiệm kỳ của Thượng Viện th́ cố định nên không có việc các dự luật cần thiết phải xếp xó v́ Hạ Viện bị giải tán giữa chừng.

Đă có nhiều ư kiến của nhiều giới cho rằng: vai tṛ của thượng viện thực ra không cần thiết. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này th́ ư kiến này vẫn chưa được đồng t́nh v́ những lư do nêu trên

Cách bầu cử 2 viện

Cả 2 viện được bầu theo thể thức: tiểu khu tuyển cử (小選挙区), nghĩa là bầu trực tiếp cho ứng cử viên tại khu tuyển cử, ai cao phiếu nhất th́ người đó đắc cử, và theo khu tỉ lệ (比例区), nghĩa là bầu bằng tên của đảng ḿnh chọn hoặc tên ứng cử viên của đảng ḿnh chọn, theo phương thức Victor D’Hondt.  Số phiếu đạt được là tổng số phíếu bầu  tên đảng và bầu tên ứng cứ viên, được chia cho 1, 2, 3, 4, 5 hoặc hơn nữa theo số ghế đắc cử đă qui định tại từng khu tuyển cử. Kết quả đắc cử sẽ được tính theo tỷ lệ ứng cử viên có số phiều nhiều hay ít.
Lấy thí dụ trong 1 khu tuyển cử có 4 đảng A, B, C, D tranh 10 ghế: đảng A được 1500 phiếu, B là 700, C là 300 và D là 200. Nh́n theo bảng dưới th́ 10 ứng cử viên có số phiếu cao nhất là 1500, 750, 500, 375, 300, 250 (đảng A), 700, 350, 233 (đang B), 300 (đảng C) sẽ đắc cử. Cách bầu cử này có điều lợi là những đảng nhỏ (C) có số phiếu thấp nhất cũng có thể có chân trong quốc hội.

 

 

Đảng A

Đảng B

Đảng C

Đảng D

Chia cho 1

1500 (1)

700 (3)

300 (7)

200

÷ 2

750 (2)

350 (6)

150

 

÷3

500 (4)

233 (10)

450

 

÷ 4

375 (5)

175

225

 

÷ 5

300 (7)

 

 

 

÷ 6

250 (9)

 

 

 

÷ 7

214

 

 

 

Kỳ họp của quốc hội: Mỗi năm có từ 2 đến 3 kỳ họp được chia thành:
Họp thông thường
 (通常国): thời gian họp là 150 ngày bắt đầu từ trong tháng giêng đến cuối tháng 6, có thể kéo dài nhưng chỉ 1 lần
Họp lâm thời:
臨時会: được triệu tập khi được 1/4 dân biểu, nghị sĩ của 1 trong 2 viện hoặc nội các chính phủ yêu cầu để đáp ứng với t́nh h́nh, thời gian sẽ được quyết định bởi dân biểu, nghị sĩ của 2 viện, có thể kéo dài tối đa là 3 lần.
Họp đặc biệt (
特別会): được triệu tập trong ṿng 30 ngày kể từ khi bầu cử hạ viện, có mục đích chỉ định chủ tịch, phó chủ tịch quốc hội và Thủ Tướng….
Chúng tôi sẽ phân tích chi tiết khi có dịp.

Trần Thái Huy