Giă Từ Chế Độ - Phần 2

Lê Thiệp

  Chuyện vượt biên hay vượt biển th́ nhà nào chả có, nhất là vào những năm đầu khi việt cộng chiếm được miền Nam. Chuyện th́ thiên h́nh vạn trạng, đủ kiểu, v́ có thể bà con cô bác có thể đă từng là nhân vật chính hoặc đă nghe lại từ gia đ́nh, người xung quanh về cuộc vượt ngục vĩ đại trong lịch sử Việt Nam sau ngày “toàn trị”. Đă có rất nhiều sách vở ghi lại những “trang sử” đau thương đó hoặc cho chính ḿnh hoặc là những nhắc nhở cho thế hệ sau về những “holocaust” của Việt Nam.

Tháng 7 này là đúng 5 năm ngày cố kư giả Lê Thiệp ĺa đời, nhân dịp này xin giới thiệu đến quí vị hồi kư dưới đây về chuyện vượt biển của chính tác giả. Ông đă hoàn thành chỉ 1 tháng sau (6/78) khi được tàu Đại Hàn cứu vớt vào Nhật. Tất cả những chi tiết và nhân vật trong hồi kư của ông đều là người thật, việc thật

Sôi nổi, sống động, gay cấn, cảm động..... là một lối viết có một không hai của Lê Thiệp, không cần phải giới thiệu thêm v́ “nói năng chi cũng bằng thừa”. Mời bạn ta

Vũ Đăng Khuê

 
 

Giă Từ Chế Độ - Phần 2

Điểm hẹn

Xe đến bến, tôi vẫn thừ người và giật ḿnh khi nghe người lơ xe nhắc "đến bến rồi ông!" Phú Xuân giờ này đă tấp nập v́ ghe lưới chở cá về bán, ghe củi sửa soạn theo con nước xuôi. Tôi vào tiệm gọi một tô bún. Vừa cầm đưa lên th́ chị Lan dẫn hai đứa nhỏ vào. Quay sang th́ chị Nhung lếch thếch bồng bế đang hỏi đứa em gái ăn ǵ. Nh́n ra ngoài cửa, chị Điển bế con đứng bên kia đường với anh Hoài cũng toan ghé. Tôi lắc đầu và họ hiểu, đi chếch sang nơi khác. Tôi lo lắng nh́n viên công an đang đứng phất phơ trước trụ sở công an nhân dân, Thế này th́ quá lắm. Tối hôm qua đă dặn đi dặn lại phải ngồi gần bến xe, sao lại đút đầu hết vào chỗ đầy rẫy công an như vậy? Tôi im lặng ăn tiếp tô bún. Trụ sở công an trước mặt nhớp nhếch tường vôi lở, mái ngói rêu đen xẫm đầy vẻ chết chóc. Những tên công an quần xà lỏn cầm ca chạy tới chạy lui có vẻ đi đánh răng hay kiếm nước sôi pha cà phê. Hàng rào kẽm gai từ bao đời vẫn như vậy. Thật là tiện. Chế độ được thừa hưởng trọn vẹn những cơ sở cũ của "ngụy" và tôi nhớ đến Đỗ Phủ:

“Lâu đài đệ trạch giai tân chủ
Văn vũ y quan dị tích th́”

Lâu đài nhà cửa nay chủ mới. Mũ măo xênh xang khác lúc xưa. Đỗ Phủ dù là thi hào nhưng lúc này có lẽ cũng không bằng Tư Nhiễn đối với tôi. Anh lừ đừ đi vào tiệm, kéo ghế gọi một cái xây chừng. Uống xong, anh thản nhiên đi ra, lẫn vào đám đông trong chợ. Tôi gọi trả tiền, theo hút anh:

- Xong chưa?

- Rồi, ghe ở dưới cầu. Đợi tôi mua ít đồ ăn đă. Hai đứa tôi mà cả, c̣ kè và ôm một lô rau cải, cà chua ra khỏi chợ. Tôi hất đầu ra hiệu. Bà Lan, bà Chiến, bà Điển lũ lượt kéo nhau ra như đi hội.

Trước hoàn cảnh đó. Tư Nhiễn lanh trí nói bô bô:

- Ha, về chú Tư chơi nghen. Và anh đưa cánh tay gân guốc bế đứa con anh Chiến:

- Cười coi nào. Xuống ghe về chú Tư ăn cơm cá chịu không? Chú bé toét miệng cười. Tôi dắt đứa con chị Lan trong khi anh Hoài bế đứa con anh Điển. Tôi cũng giả lả:

- Cha, đông đủ. Mua thêm bánh ḿ về ăn cà ri mới đủ đa. Mấy người lận. Anh Tám ở ngách nào chui ra chẳng rơ góp tiếng:

- Đủ rồi anh Sáu. Đi không kẻo nước lên không qua được vàm, trễ đa.

Nếu có anh cớm nào ṭ ṃ th́ sẽ phải hiểu tụi tôi đi ăn giỗ, nhất là chị Điển, tay ôm ba thẻ hương. Chị cho hay có khấn hễ ra tới biển sẽ đốt hương tạ trời! Tôi lao xuống nước gh́m chiếc ghe tam bản sát bờ. Anh Tám tiếp tay tôi giúp trẻ và các bà lên. Chắc trông họ có vẻ lúng túng nên hai ba chiếc thuyền cạnh đó nhiều người nhô đầu lên ngó. Nhưng Tư Nhiễn nhanh như cắt, vừa thấy người chót lên là anh xô ghe ra. Ba phút sau chiếc ghe trôi từ từ ở giữa sông. Tôi đứng mũi, cầm chèo, chèo. Từ phía bên kia sông hai chiếc thuyền nhỏ khác lừ lừ tách bến. Như cảnh ráp vệ tinh trên không gian, tôi chụp vội chiếc dây của Cang vứt cho, gh́m chặt. Cang chui vào trong, cho chiếc máy F-4 nổ và chúng tôi lao vào sông lớn.

Nhẹ người. Tôi đếm. Trời đất. Mười một mạng già trẻ trên ghe tam bản tí teo. Bằng, Tùng, B́nh và cô bé Oanh ló đầu ra toét miệng cười với tôi. Tôi cười lại nhưng ḷng tôi không yên. C̣n quá nhiều bất trắc trước mặt. Theo kế hoạch th́ 5 giờ chiều, ghe của Thái, Chính mới gặp ghe tôi tại ngă ba Đồng Tranh. Chúng tôi đi sớm như vậy v́ thuyền ghe quá nhỏ không thể qua vàm Phú Xuân lúc nước ngược được. Tôi hỏi Tư Nhiễn.

- Ḿnh làm ǵ từ giờ cho đến 5 giờ chiều? Anh cười:

- Ủa, chứ ḿnh đi ăn giỗ mà. Yên trí.

Mười giờ sáng, ba ghe chúng tôi tấp vào bờ ruộng. Nơi đây có một căn nhà lá bỏ hoang. Có thể một gia đ́nh nào đó đi làm ruộng, để trực tiếp sản xuất nhưng chịu đói không thấu đă bán xới về thành phố. Chẳng ai c̣n ngạc nhiên v́ một chuyện như vậy.

Khi bộ đội lếch thếch vào Sài G̣n, dù thế nào dân Việt cũng thở phào "Thế là hết súng đạn!" Họ tính đến tương lai ḥa b́nh. Nhà nước hết lời cổ vơ về đồng ruộng trực tiếp sản xuất, xây dựng đất nước. Hợp lư quá nhất là đối với những ai đă phải bỏ về thành phố trước đây để né tránh bom đạn. Rất nhiều gia đ́nh ở thành phố bán nhà bán cửa gom góp vốn liếng về quê.

Thực tế đă phản lại giấc mơ nhỏ bé của họ. Hạt giống mua không ra. Phân bón chính thức không có, mua ở ngoài đắt gấp mười lần. Chế độ không biết ǵ ngoài việc đo ruộng, đánh thuế. Họ không được đảng và nhà nước nâng đỡ lại c̣n bị thiên tai liên tiếp 3 năm qua, lúc th́ hạn hán, lúc th́ mưa lũ. Cơm không có ăn, áo không có mặc, ốm đau không thuốc men, học hành là chuyện xa vời. Họ đành trở lại thành phố bất chấp mọi hậu quả. Những nạn nhân này trở thành kẻ sống bên lề xă hội v́ thiếu giấy tờ cư trú hợp lệ. Họ không có nhà nên phải ngủ lề đường, hè phố. Họ không được phép mua thực phẩm nên phải xoay sở, bữa có bữa không. Vốn là những người hiền lương chất phác, họ bị chế độ đẩy vào cuộc sống ngoài ṿng pháp luật, bất lương, trộm cắp đủ nghề. Thành phố Sài G̣n tràn ngập người ngủ đường. Tối tối, người ngủ hàng ngang dăy dọc ở nhà ga xe lửa, dọc theo các đường phố Lê Thánh Tôn, Gia Long, Công Lư, Tự Do... Thỉnh thoảng công an lại bố ráp, đem xe cây đến xúc họ vất vào một vùng hẻo lánh nào đó để "trực tiếp sản xuất". Nhưng họ lại trốn về Sài G̣n v́ chỉ ở đây, dù có đói khổ nhưng không chết. Họ không sợ hăi v́ họ không c̣n ǵ để giữ ǵn. Họ nay như con thú hoang, ḷng rỗng, chỉ mong có ǵ nhét vào cái dạ dày lép là đủ.

Chúng tôi vào trong căn lều trống nấu cơm ăn. Tôi để anh Tư Nhiễn và Bằng nhúm lửa, nhờ chị Lan, chị Điển dọn sạch căn lều và tôi đi về phiá sau xem xét. Cỏ tranh mọc kín một vùng lớn. Không một bóng người, ngoài dăm ba con c̣ trắng chao đi chao lại. Tôi tạm yên tâm trở vào. Tư Nhiễn có lẽ đă lấy lại phong độ ngày nào, vui vẻ bông lơn với trẻ con. Anh đưa tụi nó đi bắt c̣ng, tắm sông. Những gương mặt non dại bừng lên niềm thích thú. Cái ǵ đối với chúng cũng mới lạ.

- Con ǵ đây, chú Thiệp?

- Con cua.

- Sai. Bác Tư bảo con c̣ng.

- Con c̣ng và con cua khác nhau làm sao?

- Con c̣ng nhỏ, con cua lớn.

- Con này lớn sao lại là con c̣ng?

- Các cháu đừng làm chú điên đầu. Cu Tí ra nói với mẹ:

- Chú Thiệp không biết ǵ hết trơn. Tôi nh́n Oanh lắc đầu. Cô bé cười hỏi:

- Sao chú lắc đầu?

- Cháu trắng quá. Cháu đẹp thế này, lỡ công an hỏi chú biết nói làm sao. Đi ăn giỗ sao lại quờ quạng ở đây. Anh Tư Nhiễn nh́n tôi nhăn:

- Sao ǵ ông cũng sợ vậy. Nó hỏi th́ ḿnh bảo đi Phước Ḥa, bây giờ nước lớn phải táp vô mé chờ nước ṛng. Sợ quái ǵ. Giờ này tôi hết sợ rồi. Quả t́nh tôi cũng không biết xoay sở ra sao nếu đụng độ du kích. Ghe nào trông cũng có vẻ ghe địch cả. Hồi sáng một ghe tuần của bộ đội đă lướt ngang tụi tôi, ngó ngó rồi bỏ đi luôn làm mọi người đứng tim. Thôi đành vậy. Nắng mỗi lúc một nhạt. Con chim bói cá đậu trên ngọn chà là nghiêng đầu nh́n xuống sông ŕnh rập và như một mũi tên, nó lao vào mặt nước nhấp nhô. Cảnh thật thanh b́nh nhưng tâm hồn tôi xao động. Anh Tư Nhiễn nghĩ xa đi nấu một nồi cơm lớn nhưng lúc đó chẳng ai ăn một miếng. Chúng tôi phập phồng cho chiếc ghe của Thái. Năm giờ cũng lại anh Tư Nhiễn phát giác đầu tiên khi chiếc ghe cách xa chúng tôi cả cây số. Anh la nhỏ:

- “Nó tới!”. Chúng tôi tản xuống ba ghe tách bến. Nửa giờ sau, lai một vụ ráp nối nữa diễn ra trên sông. Tháng này trời mau tối. Độ nửa giờ đă không nh́n rơ mặt nhau. Chúng tôi chuyển hết đàn bà trẻ con sang chiếc ghe lớn để họ nằm trong khoang kín. Tôi cũng nhảy qua ghe lớn họp với ông Thông và anh Bé. Ông Thông kể:

- Ở Phú Xuân, tụi tôi bí quá. Xuống chỗ ghe đậu không được v́ quá nguy hiểm. Đành xuống bến chợ. Trời đất, ông nghĩ lũ lượt mười lăm người lớn bé xếp hàng trèo xuống ghe có sợ không? Chắc là có ǵ che mắt tụi nó chứ không th́ chết cả lũ. Tôi bảo:

- Ḿnh làm vụ này hoàn toàn dựa vào yếu tố bất ngờ. Công an mật vụ không nghĩ ḿnh khơi khơi vượt biển trước mặt tụi nó. Chuyện đó qua rồi, nhưng c̣n từ giờ tới đêm nữa. Tôi tŕnh bày kế hoạch dự trù. Đến ngă tư Bàn Thạch 10 giờ đêm. Đón đám ở rừng và đi moi dầu lên. Một giờ sáng đi ra băi cát vàng để gặp Chiến. Chiến hẹn sẽ chờ tối đa là đến 3 giờ sáng. Ông Thông hỏi:

- Lỡ ra không gặp anh Chiến th́ sao?

- Th́ về, ông đừng sợ. Hẳn là ông Thông sợ, nhưng đâu chỉ ḿnh ông. Tôi cũng sợ và chắc mọi người đều sợ. Ai nấy cố thu ḿnh thật nhỏ và im lặng. Những chiếc ghe chài lưới đang hành nghề nhấp nháy đèn sáng. Đoàn ghe kéo nhau đi hiên ngang như bất cứ đoàn ghe nào. Sóng nước ŕ rào. Tôi được ông Thông cho một cục kẹo thật ngon. Ông nói nhỏ:

- Kẹo cũ c̣n lại, tôi để dành măi.

Đến khúc sông lớn rẽ vào ngă tư Bàn Thạch, gió nổi dữ đội và sóng lắc các ghe nhỏ như muốn lật. Một chiếc mũ lá bị thổi bay xuống sông suưt chút nữa cuốn luôn hai người đang run lập cập. Chú bé con chị Điển khóc ré lên. Tụi nhỏ đă được uống Phenergan pha trong sữa và nửa viên Valium. Lư ra chú bé phải ngủ say, không hiểu chú mơ thấy ǵ mà khóc. Tôi dọa chị Điển:

- Chị lo dỗ nó, lát nữa tới chỗ nguy hiểm mà nó khóc, tôi quăng hai mẹ con xuống sông.

Chị Điển im lặng vỗ về đứa nhỏ. Khi đến điểm hẹn ở một ngă tư Bàn Thạch, đoàn ghe neo lại. Tôi và Tư Nhiễn lấy ghe nhỏ đi đón người. Họ ở sâu trong một lạch nhỏ. Đêm khuya, những chiếc ghe củi nằm im ĺm hai bên bờ. Thỉnh thoảng từ trong ghe có tiếng ho khan vọng ra. Tôi và anh Tư cố chèo thật êm. Vào sâu trong lạch, nước cạn, ghe không đi được nữa. Tư Nhiễn ngưng chèo. Anh im lặng quan sát rồi nói nhỏ với tôi:

- Đúng lạch này. Cây chà là ở chỗ kia. Tụi nó ở đâu hè? Tôi nh́n anh lo lắng.

Rừng Sát như người muôn mặt. Thủy triều lên, chỗ nào cũng chỉ thấy nước, thủy triều xuống, lạch trơ bùn, sông cạn c̣n một nửa. Địa thế không lúc nào giống lúc nào. Hay Tư Nhiễn lầm? Chung quanh tôi vắng lặng. Không khí mang vẻ đe dọa. Những cây chà là đen thẫm trong bóng đêm im lặng hoàn toàn. Tư Nhiễn cắm cây chèo xuống, cột ghe. Tôi hiểu ngay, cùng anh đi xuống. Bùn ngập ngang đùi rất khó đi. Hai đứa b́ bơm lội. Anh em tôi đâu? Độ nửa tiếng tôi thở dốc. Anh Tư đă lội lên phía cao t́m tôi. Tôi không biết xoay sở thế nào nữa. "́, ́, ́" Tôi nghe ngay ra giọng anh Tư và cố lắng nghe tiếng đáp lại. Giọng hú của anh ầm vang trầm đi thật xa nhưng không lời đáp. Tôi tiếp tục b́ bơm, bùn non lên đầy người, tôi ngă lên ngă xuống và lạnh run. Không lẽ họ bị rồi? Nếu bị th́ khi tôi ṃ vào, khó thoát. Ḷng rối như tơ ṿ. Tôi thấy ḿnh bơ vơ giữa đêm đen. Tôi nghe một tiếng hú nữa. Không nghe đáp lại. Một lát nghe anh Tư hét lớn: "Liễng ới ời..." Tôi bật cười, dù không có ǵ đáng cười trong hoàn cảnh này. Tôi nhớ đến lúc bị bỏ quên ở Phú Xuân và cũng hét lớn như anh Tư. Vậy là bất chấp rồi c̣n ǵ. Tôi suy nghĩ rồi quay lại chỗ cột ghe. Đành vậy. Tư Nhiễn cũng trở lại. Hai đứa nh́n nhau lo lắng. Tôi hỏi:

- Có chắc lạch này không?

- Chắc mà! Chỗ này tôi thuộc như nhà tôi vậy.

Tụi nó phải hiểu rằng tối nay ḿnh đón. Nước ṛng cạn th́ phải chèo ra ngoài lạch chứ. Kỳ quá. Tôi quyết định trở ra gặp Thái. Thái cho hay du kích vừa hỏi. Tim tôi như đứng lại khi không thấy chiếc ghe F-4 đâu và lắc lắc đầu ra hiệu. Thái cho hay tôi và Tư Nhiễn đi lâu quá nên Cang và anh Tâm đă đi đón những người kia. Họ tưởng tôi và anh Tư đă bị rắc rối.

- Thế du kích không xét thuyền à?

- May quá, chúng nó nh́n vào chiếc ghe nhỏ thấy hai người đang tát nước nên không xét. Thái nhảy sang ghe tôi và chúng tôi quyết định cứ moi dầu lên đă rồi tính sau. Nước mỗi lúc mỗi lên. Tôi nh́n. Gần một giờ sáng. Có thể Chiến đă ra điểm hẹn. Chúng tôi cho máy đuôi tôm nổ và kéo hết ga. Tiếng nổ tức tốc vang động đêm khuya. Đến bụi cây dấu dầu. chúng tôi quan sát. Vắng hoe. Tôi và anh Tư nhảy xuống ṃ và t́m thấy ngay. Mừng quá, tôi quên cả lạnh, hụp lên hụp xuống cố moi từng thùng dầu chôn dưới bùn. Thái đứng trên ghe luôn mồm giục. Khi thấy thùng chót đă moi lên. tôi lấy manh chiếu cói phủ hết ghe và trở lại. Dầu sao th́ cũng tạm yên tâm một phía và khi về đến nơi, tôi nh́n thấy chiếc ghe F-4 cột cạnh ghe ông Thông. Điển ló đầu khỏi tấm ván phủ ngụy trang ngó tôi, cười nói khẽ:

- Khá lắm. Tôi cười lại:

- C̣n gay lắm. Bấy giờ đă hai giờ sáng. Tôi ra lệnh nhổ neo. Nước lên nên chúng tôi ngược sóng. Mặc dầu Thái đă kéo hết ga, tôi vẫn thấy chậm. Đoạn đường c̣n lại, đi nhanh cũng mất 45 phút. Thấy tôi run lập cập, anh Tư đưa tôi một điếu thuốc đốt sẵn. Hơi thuốc đắng nhưng làm nóng người. Tôi yên lặng kéo từng hơi dài, đầu óc trống rỗng. Đứa bé con chị Điển ré lên nhưng tiếng ré bị chận ngang. Chắc nó bị bịt miệng. Tôi nhớ đến những câu chuyện đă xẩy ra mà rùng ḿnh. Đă có những người trưởng đoàn nghiến răng bóp cổ đứa bé đến tắt thở trước mặt người mẹ. V́ an toàn cho cả đoàn, người mẹ đành nh́n con chết không ta thán. Liệu tôi có dám? Tư Nhiễn huưt tôi nói nhỏ "Thấy rồi". Thuyền của Chiến đậu giữa ngă ba.

Sau này anh thuật lại đă chờ từ đúng một giờ sáng. Đến ba giờ không thấy chúng tôi, anh sửa soạn nhổ neo th́ đoàn ghe mới ló dạng. Anh nói "các anh trễ năm phút th́ tôi đi. Neo lâu quá e nguy hiểm". Bất chấp mọi tính toán, chúng tôi cập ngay vào thuyền lớn. Tôi, Tư Nhiễn và Thái lo chuyển dầu. Những người khác lo đưa đồ đạc, đàn bà và trẻ thơ lên các khoang phía trước. Giọng Chiến như rít giữa hàm răng "Lẹ lên! Chết cả đám bây giờ". Ai nấy đều quưnh. Bà Thông bị ôm ngang eo ếch dúi xuống khoang. Ai kiếm được chỗ nào cũng chui tuốt vào. Có lẽ chỉ độ vài phút, Chiến đă nổ máy. Thuyền rung mạnh và hướng mũi ra cửa. Tôi ở trong hầm máy nh́n ra. Trời đă lờ mờ sáng. Phía trên boong th́ chỉ có Chiến anh Bé và Nghi. Mọi người ngồi, nằm chồng lên nhau co rút trong ba khoang thuyền nhỏ hẹp.

Thuyền dài 11 thước, ngang 3 thước, quá nhỏ để chở 48 người. Mùi dầu xông lên nồng nặc trong khoang máy. Hơi máy tỏa ra hừng hực. Chỉ một lát người tôi ướt đẫm mồ hôi. Ngó sang cạnh, Hiệu đang gục xuống ói mửa. Tùng, Đàn mặt xanh như tàu lá hỏi tôi:

- Anh có dầu cù là không? Tôi an ủi:

- Cố lên! Một lát nữa lên trên khỏe ngay.

Chiếc thuyền chồm lên hụp xuống theo con sóng, làm đổ ngả nghiêng mọi thứ trong khoang. Dạ dày tôi bóp thắt. Tôi cố dằn. Chiến ngó xuống hỏi tôi:

- Thiếu ai không?

- Đủ cả. Trong này ngộp quá thở không được.

- Ráng mà thở. Lên trên này sao được. Nó có ống nḥm, thấy quá ba người trên ghe phiền lắm. Tôi ráng thở và mồ hôi túa ra. Đàn năn nỉ:

- Cho em lên một tí thôi. Em sắp xỉu.

- Không. Con thuyền vẫn nhảy sóng, nhồi tụi tôi như nhồi bông. Chiến lại tḥ đầu xuống bảo:

- Sắp qua đèn phao Cần Giờ, chỗ này đáng sợ nhất. Các ông đừng có tḥ đầu ra. Chết cả đám.

- Yên trí, biển động hả. Có PCF ở đó không?

- Không. Biển hơi động. Tí nữa là êm liền.

Chiến đă nói dối cho tôi yên ḷng. Biển hôm đó động dữ dội. B́nh thường tại đèn phao Cần Giờ, lực lượng công an biên pḥng neo một chiếc PCF tức nôm na gọi là tàu đổ bộ, tàu há mồm. Một tháng trước đây, một đám bạn bè chúng tôi đă bị chặn bắt tại chỗ này. Người trưởng đoàn nhảy xuống biển tự tử cùng với người tài công lái ghe. Tôi nhớ đến khẩu súng Colt 45 Chiến đưa tôi. Hai đứa đă đồng ư nếu bị bắt sẽ tự tử. Nhưng tôi đă vứt khẩu súng đi theo lời khuyên của ông Thông. Kinh nghiệm cho thấy có súng nhỏ đă không làm nên tṛ trống ǵ mà chỉ gây rắc rối cho người khác. Đúng lúc đó, Chiến hỏi vọng xuống:

- Qua đèn đó, khẩu súng đâu? Tôi ậm ừ

-Rơi mất lúc năy rồi. Tôi nghe anh chửi thề. Đành vậy. Nếu cần nhảy xuống biển cũng chết. Tôi nhớ những chuyện xảy ra ở ngay chỗ này. Một ghe vượt biển bị va đá ngầm, 34 người chết c̣n 4 người. Một vụ khác 27 người. Đúng là cửa chết. Từ khoang máy nh́n ra, tôi thấy chiếc đèn pha nhấp nháy. Tiếng Chiến vọng xuống.

- Có tầu đổ bộ, đừng có nhô lên. Hiệu đang ôm bụng cũng ngước nh́n tôi. Tùng, Đàn cũng ngóc lên lo lắng. Tôi xua tay. Sau này kiểm điểm lại, mọi người đi đến kết luận rằng tàu địch đă không thèm chặn tụi tôi v́ biển động dữ quá. Có thể chúng nghĩ với chiếc thuyền tí teo, tụi tôi chỉ làm mồi cho cá. Thuyền vẫn lắc dữ dội, chồm lên thật cao rồi lại hụp xuống. Người tôi bải hoải. Thấy Chiến cúi xuống, tôi thều thào:

- Cho lên không chết. Nghĩ ngợi một lát, anh đưa tay kéo tôi lên và bảo ba người kia cùng lên.

Ra khơi

Hơi gió biển ngọt ngào. Khí trời thơm tho. Bầu trời rạng sáng. Tôi nh́n lại phiá sau, Vũng Tàu lấp lánh sáng một vùng. "Vũng Tàu đó ông, bao giờ không thấy nữa mới thoát". Giă từ Việt Nam. Giă từ quê mẹ, quê cha. Giă từ Vũng Tàu, Băi Trước, Băi Sau, Ô Quắn, Roche Noir băi cát vàng và h́nh ảnh những buổi nằm dài phơi nắng xa xưa. Biển xanh lơ.

Sóng lớn hơn thuyền. Anh Bé nói với tôi:

- Nếu số chúng ḿnh không ăn mày th́ có thể nói là thoát rồi. Từ phía sau, Thái ḅ tới. Anh bảo tôi:

- Cám ơn anh. Hiệu dù xanh rũ ra cũng góp:

- Hít thấy tự do rồi. Cám ơn toi nhiều. Khá lắm. Anh Bé cũng bày tỏ:

- Đương nhiên là khá. Tôi cười. Quá mệt. Cho tôi vào cabin nằm một chút. Chiến đỡ tôi ngả lưng xuống, tôi thiếp đi trong cơn sóng dữ. Mùi nồng nặc thấm dần vào khứu giác làm tôi tỉnh dậy. Tiếng anh Tám nói lớn:

- Cabin để cho đàn bà con nít. Đàn ông xuống các khoang mà nằm. Tôi ngồi nhổm dậy. Chung quanh tôi là những khuôn mặt bơ phờ, quần áo xốc xếch, đầu tóc tơi tả. Con thuyền vẫn bị nhồi dữ dội. Sóng bạc đầu phủ thuyền, ai nấy ướt loi nhoi. Mệt dữ, tôi cũng cố lết ra. Thái, Nam, Chánh đang chuyền nhau, bế từng đứa nhỏ dựa vào cabin, nơi tương đối nhất. Đó là một khoang rộng gần 2 thước, dài 3 thước. Cổ tôi đau, chân tôi ră, tay tôi không muốn cất lên. Ông Thông nằm cạnh đó thiêm thiếp. Chị Điển, chị Chiến được d́u vào. Rồi trẻ thơ, Bi, Ti, rồi các cô Oanh, Ánh Mai... Ai cũng nh́n tôi gật. Tôi gật lại rồi chui ra ngoài hỏi:

- Anh Phúc đâu? Điển đâu?

- Gục hết, ói tới mật xanh, mật vàng.

Trời mưa nhỏ, lạnh run. Tôi hỏi anh Bé:

- Xa chưa anh.

- Chưa đủ xa, nhưng không lo. Biển như thế này, chẳng có ma nào đâu mà sợ. Theo tôi ước tính th́ sóng cấp bẩy.

- Vậy là băo à?

- Băo nhỏ.

Ṃ mẫm ra phía trước, tôi ngó vào từng khoang. Anh em tôi, bạn bè tôi đầy đủ. Mặc dù bị say sóng ngất ngư, họ đều cười với tôi. Thuốc chống say sóng Vomitop chẳng ăn nhằm ǵ. Đến khoang mui tôi ngó vào. Anh Phúc và Bằng nằm co.

- Khá không?

- Được thế này là phép lạ. Đúng là phép lạ.

- Ơ, sao ông không khen tôi giỏi?

- Tất nhiên là giỏi nhưng đúng là phép lạ. Có trời. Có trời.

Khi mọi người đă được xếp để có một chỗ ngồi xong, tôi kiếm Chánh.

- Gạo, nước ra sao?

- Bi thảm Đông Dương. Sóng đánh văng mất một khạp nước. Một khạp bị nghiêng, đổ ra ngoài một nửa. Đồ ăn bỏ lại bên ghe nhỏ mất một nửa. Ḿ vụn, bánh ḿ khô không đem đi được. Sữa th́ đủ.

- Sao vậy?

- Anh Chiến giục quá xá, ai cũng mất tinh thần hết. Nội d́u được đám đàn bà con nít lên là hết xí quách. Biết làm sao bây giờ, tôi gọi Thái lên thảo luận. Quyết định hạn chế đồ ăn thức uống ngay từ bây giờ. Thái cười bảo:

- Anh yên chí. Chưa mạng nào ăn nổi đâu. Ói tùm lum. Trời mưa nên chưa ai uống nước. Giữa lúc đó, Chiến hét lớn ở phiá sau:

- Có ghe bộ đội Phía trái chúng tôi, một chiếc ghe nhấp nhô đang đi xéo so với đường của chúng tôi. Tôi tới hỏi anh Bé:

- Phải tụi nó không?

- Có lẽ. Nếu là ghe chài lưới, biển cỡ này họ không đi nghề. Nếu đang ở biển th́ họ hướng mũi đi vào. Anh đừng sợ, nó ở xa rượt ḿnh không nổi. Nó cũng chạy cỡ ḿnh. Mọi người im lặng nh́n đối phương cũng đang trồi lên hụp xuống giữa những đợt sóng bạc đầu. Nếu nó chặn được ḿnh th́ sao. Tôi xua khỏi đầu ư nghĩ đó và có lẽ đúng như anh Bé tiên liệu, khoảng cách giữa hai bên vẫn giữ ở mức cũ. Độ hơn một giờ sau, chiếc thuyền địch quay mũi về hướng khác.

Biển vẫn động dữ dội. Tư Nhiễn t́m tới hỏi tôi có muốn ăn ǵ không, tôi lắc đầu. Mưa vẫn rơi, ai nấy ướt như chuột lột. Mọi di chuyển trên ghe đều vô cùng nguy hiểm v́ thuyền nhồi quá mức tưởng tượng. Khi ḅ lên phía mũi, tôi bị một cơn sóng hất xuống biển. May nhờ cẩn thận, tôi nắm một sợi dây nên được kéo lên. Đă có những trường hợp té xuống biển bị bỏ luôn v́ không thể nào vớt kịp. Tôi chui vào khoang đầu nằm co với anh Phúc, Bằng và Nam. Có lẽ v́ quá mệt, tôi thiếp vào giấc ngủ đầu óc lơ mơ bồng bềnh.

Sáng hôm sau, trời hết mưa nhưng vẫn âm u. Mọi người có vẻ đă quen với biển cả, tỉnh táo hẳn. Anh Bé cho hay sẽ phải bắt phía trong Côn Sơn. Cơn biển động ngày qua khiến anh không dám vượt ra xa theo dự tính, đi ṿng ra ngoài đảo Côn Sơn. Anh phải chọn lộ tŕnh sát bờ và như vậy theo anh sự nguy hiểm bị tàu địch bắt lại vẫn c̣n. Có lẽ v́ thấy tứ phía mênh mông trời nước, chẳng ai để ư đến lời báo động của anh Bé, nhưng lại phiền hà v́ điều khác. Máy bơm nước bị hư v́ dynamo ngấm nước biển không hoạt động được nữa. Tôi phân công tát nước bằng gầu. Đây là một công tác mệt nhọc v́ hầm máy nóng bức, trơn trượt và khá chật. Hai người phụ trách một giờ. Chúng tôi luân phiên tát ngày và đêm. Con thuyền ngon trớn chạy tới. Mọi người hỉ hả. Một chú bé hỏi tôi:

- Bao giờ tới chú?

- Sắp rồi, ráng đi.

- Cháu đói.

- Ăn ít thôi kẻo nôn ra mệt lắm.

- Hết nôn rồi mà. Cháu đói.

- Sắp nôn nữa bây giờ. Mai chú cho đi ăn phở.

Chú bé nh́n tôi nghi ngờ. Bỗng tôi thèm phở không chịu được. Phở bà Dậu, nước trong thịt mềm không có qua một chút mùi thịt ḅ. Phở Gia Long thanh mà ngọt. Phở Tàu Bay đẫy đà gay gắt. Phở Số Một của mụ Béo nồng mùi củ cải. Phở Pasteur với món tái sữa lùng nhùng. Phở Cao Vân không bao giờ ăn hết một tô. Ôi Phở. Ôi Việt Nam. Vừa đi tôi đă nhớ. Tôi nh́n chú bé, ḷng mềm đi:

- Đi kiếm anh Thái bảo pha cho một ly sữa. Nhớ nói đă xin chú Thiệp. Tôi biết Thái nguyên tắc, không bao giờ phát quá phần qui định cho bất cứ ai nên phải dặn kỹ chú bé như vậy.

Con thuyền vẫn lao đi trong bể cả mênh mông. Ai nấy dần dần tỉnh lại. Anh Phúc dù ít nói cũng đă cười hỏi tôi điều này điều nọ. Mọi người vẫn thay nhau tát nước trong khoang. Người yên lặng nhất bây giờ lại là Tư Nhiễn. Anh hỏi tôi:

- Liệu có trở về được không ông? Sao tôi nhớ Việt Nam quá!

- Về chứ. Nhưng đă tới đâu mà về. B́nh tĩnh anh Tư.

Con thuyền vẫn chúi xuống thật sâu rồi lại chồm lên cao tít. Có lúc tôi tưởng như nó sắp lộn mèo. Anh Bé cho hay đă cho quay mũi thuyền để đi ṿng ra ngoài Côn Sơn. Theo anh, đi như vậy chỉ phải đối phó với sóng gió chứ ít sợ bị chận lại. Anh nói với tôi:

- Đàng nào cũng ra đến đây rồi, không lùi được nữa. Nếu tôi làm hạm trưởng như xưa, tôi không dám đưa tầu ra vào những lúc như thế này. Nhưng nay khác. Có chết giữa biển cũng c̣n hơn.

- Đồng ư với anh ngay từ đầu.

Lạnh run. Ướt mèm, chúng tôi t́m chui vào những chỗ có vẻ khô hơn. Chiếc kim chỉ ṿng quay của máy vẫn hoạt động, máy vẫn nổ ḍn nhưng thuyền không đi nữa. Chiến cho ngừng máy để xem lại. Thái nhảy xuống nước và trồi lên cho hay chiếc chân vịt thẳng ra. Mọi người nh́n nhau ngạc nhiên. Tôi nhớ rơ cùng với Thái mua chiếc chân vịt này của mấy ông Tàu Chợ Lớn trước hôm đi độ hai tuần. Chiến về cho hay chiếc chân vịt cũ chỉ rộng cỡ 54 cm thuyền chạy yếu nên đề nghị mua một cái lớn hơn. Hai đứa lén lén lút lút ṃ mẫm cả buổi mới kiếm được một chiếc 64 cm, giá đắt khủng khiếp: 240 đồng. Chiếc chân vịt nặng nề bằng thau, một ḿnh tôi mang không nổi mà có thể thẳng ra được. Nam nhảy xuống coi lại và tin tiếp theo c̣n bi thảm hơn nữa. Chân vịt rơi mất rồi. Trời đă quá tối đành neo lại. May mắn là đă bớt sóng. Chúng tôi nằm dài lềnh khênh trên sạp thuyền, không biết tương lai sẽ ra sao. Có lẽ c̣n mệt, chẳng ai thèm suy nghĩ, lăn ra ngủ. Buổi sáng mặt trời lên sớm. Chiến may mắn c̣n để chiếc chân vịt cũ trong khoang máy. Chúng tôi t́m cách ráp chân vịt nhưng không con ốc nào vừa với cái trục. Anh Tư Nhiễn tháo tung các bộ phận của chiếc máy đă hư, t́m được một con ốc hơi rộng. Chúng tôi quyết định cứ ráp và cột thêm dây ch́. Trong lịch sử thuyền bè chắc chỉ có con thuyền của chúng tôi chạy với một chân vịt được ráp tân kỳ như vậy. Khi máy nổ, mọi người hồi hợp chờ. Con thuyền nhích tới và nhanh dần. Thế mà được th́ lạ thật. Mưa lại rơi với bầu trời thấp lè tè. Lạnh run. Những đứa trẻ môi tái nhợt, ḷng tôi thấp lại. Bao nhiêu áo mưa đă bị mất hết. Mọi thứ lẹp nhẹp nhưng đến tối th́ trời quang dần. Trên cao tít sao lấp lánh. - Có đèn, có tầu.

Từ xa tít phía chân trời, chúng tôi thấy có hai đốm sáng. Anh em bàn nhau và quyết định đốt đèn cấp cứu. Hệ thống điện trên thuyền bị ngâm nước biển đă hư hết. Chúng tôi đốt đuốc khua múa loạn lên, dùng một cái chăn, chơi tṛ mọi da đỏ, đánh tín hiệu SOS. Hai đốm sáng rơ dần. Mọi người reo lên mừng rỡ. Đây có lẽ là hai tàu đánh cá đi cặp. Họ tiến về phía chúng tôi, tách ra mỗi chiếc đi một bên thuyền. Ai nấy ùa ra hí hửng, kêu la om x̣m. Chúng tôi nh́n thấy thủy thủ bên tàu. Nhưng niềm vui không kéo dài. Họ từ từ rẽ sóng đi mất. Anh Bé bảo tôi:

- Tôi hi vọng chúng ta đi đúng hướng về đảo Mă Lai. Ḿnh sẽ c̣n gặp nhiều tàu nữa.

Đúng lúc vừa qua một phen thất vọng th́ Thái báo tôi một tin buồn hơn. Nước và lương thực mặc dù đă hạn chế tối đa nay lại báo động toàn diện. Tôi nhớ đến mớ thực phẩm bị bỏ lại, tiếc hùi hụi. Đành hạn chế hơn nữa. Nước uống, mỗi người được uống một nắp một lần, ba lần một ngày. Không biệt lệ. Tính ra như vậy, mỗi người chỉ được uống độ15cc nước, một vắt cơm to bằng quả quít trong một ngày. Trẻ con thật tội nghiệp.

- Cháu đói.

- Cháu khát.

- Có sữa không chú. Tôi pha tṛ cho tụi nó vui. Tôi hứa huyên thuyên. Tôi vỗ về an ủi. Nhưng chúng chỉ quên giây lát rồi lại hỏi. Tôi biết làm sao đây. Nguời lớn không ai than phiền. Tôi chui vào chiếc khoang nhỏ ở mũi thuyền cầu nguyện.

Nắng lên cao dần. Đến trưa th́ chúng tôi mồ hôi nhễ nhăi. Mặt trời chói lọi chiếu. Anh em thi nhau múc nước biển dội lên sập cho đỡ nóng. Tôi ḥ hét mấy chú bé, buộc chúng chui vào trong cho đỡ mồ hôi nhưng chúng kêu ở trong ngộp thở. Chúng tôi đă gặp, đă thấy, gần cũng như xa 13 chiếc tàu lớn. Họ không nḥm ngó ǵ đến chúng tôi, thản nhiên đi theo hướng của họ. Thái lại cho tôi biết vừa kiểm điểm lại. C̣n 12 lít nước. Tôi cũng không biết nói ǵ hơn. Đúng lúc đó, vào khoảng 3 giờ chiều có tiếng la lớn phía sau:

- Có tầu. Tôi nh́n bóng chiếc tầu từ xa, ḷng không xao động. Khó mà buộc họ dừng lại. Anh Bé quan sát rồi bảo:

- Nó đi cùng chiều với ḿnh. Để tôi chặn lại. Anh đảo tàu chạy ṿng tṛn trước hướng đi của tàu lớn. Nó ngưng. Anh em reo ḥ tở mở. Anh Bé cặp sập vào. Mọi người đă tỉnh lại. Anh Phúc và anh Bé sẽ lên "điều đ́nh". Thủy thủ và cả hành khách của tàu đó ra nh́n tụi tôi ṭ ṃ. Chúng tôi nh́n thấy tên tầu MANOZ PUSAN, A, tầu Đại Hàn. Phe ḿnh rồi. Nhưng dù là phe ḿnh, họ cũng nhất định không để anh Phúc lên. Khi anh bám vào cầu thang sắt, leo lên gần boong tầu th́ họ đưa chân ra hiệu hễ lên nữa họ sẽ đạp xuống. Anh em hét lớn:

- Water, water. Họ vứt ṿi nước ngọt xuống. Chúng tôi lôi hết thùng ra đựng. Chúng tôi cần thêm nhiên liệu v́ trong thuyền hiện chỉ c̣n khoảng 100 lít. Nhiều tiếng hét lớn:

- Gasoline Nghi vác thùng đó ra hiệu. Anh Phúc vẫn nhất định không chịu xuống. Anh đeo ṭng teng trên cầu thang như con ếch, quần áo ướt nhẹp. Tôi nghe anh hét:

- We come in peace. Trong số những người Đại Hàn quần áo tươm tất, tôi thấy một người đàn bà trẻ cúi nh́n chúng tôi ngạc nhiên ṭ ṃ. Anh Phúc vẫn hét lớn. Tiếng anh như lạc đi. Vị thuyền trưởng vẫy tay ra hiệu cho Nghi. Nhanh như cắt, Nghi cột 4 thùng vào sợi dây để thủy thủ tầu MANOZ kéo lên. Một lát, họ thả xuống hai thùng 40 lít và ra hiệu chỉ có vậy. Họ cương quyết xua tay đuổi anh Phúc. Anh Bé nghĩ đến hải tŕnh, cột tấm bản đồ to bằng bàn tay, xé ở một tấm bản đồ lớn ra, yêu cầu vị thuyền trưởng xác định hộ vị trí. Nh́n thấy trẻ nhỏ trên thuyền chúng tôi, vài thủy thủ chạy vào. Một lát, họ trở ra vất xuống một hộp sữa bột. Nhiều người khác vất ḿ gói xuống. Vị thuyền trưởng ra hiệu cho anh Phúc nếu không xuống khỏi cầu thang, họ sẽ đạp. Anh đành tụt xuống. Chiếc tàu sắt cồng kềnh từ từ rẽ sóng bỏ lại đàng sau 48 mang người lênh đênh trong chiếc thuyền tí teo. Họ cùng đi về hướng Tân Gia Ba.

Kiểm điểm, chúng tôi "xin" được 40 gói ḿ, nước và 40 lít nhiên liệu. Ngoài ra chúng tôi biết hiện c̣n cách Tân Gia Ba 360 hải lư. Vui chán, nhưng niềm vui không lâu khi xét lại số nhiên liệu chúng tôi hiện có. Tôi bảo Thái tiếp tục giữ khẩu phần ăn và nước ở mức thấp nhất v́ chưa rơ chúng tôi c̣n trôi dạt bao lâu nữa.

Đêm thật đẹp. Trăng mờ nhưng trời trong vắt. Mặt bể như một tấm gương phẳng ĺ. Ai nấy nh́n ra chung quanh. Cảnh tưởng quá vĩ đại của trùng dương làm chúng tôi run sợ. Anh Bé tiên đoán:

- Suốt đời đi biển tôi chưa gặp cảnh biển yên lặng như đêm nay. Kinh nghiệm cho thấy có thể ngày mai biển động và băo. Tôi sợ là băo lớn. Mọi người nh́n nhau lo ngại. Quả như lời anh Bé, trời mưa từ mờ sáng. Bầu trời phủ mây đen thấp tưởng như có thể với tới được. Sóng đập như muốn vỡ thuyền. Đúng lúc đó th́ tai nạn lớn nổ ra. Máy không nổ nữa. Chúng tôi nh́n nhau không ai nói một lời. Neo vậy. Sợi dây neo gần 200 thước được thả hết xuống. Tôi gọi Chánh tới:

- Tôi coi kỹ rồi. B́nh đề của ḿnh chỉ c̣n 12 kí hơi. Tối thiểu phải 16 kí mới nổ.

- Có cách ǵ khác không?

- Với hiện trạng. Không.

Chiến, Nghi, Thái, anh Bé và cả Tư Nhiễn ngó tôi làm như tôi có thể làm phép lạ. Tôi thản nhiên tuyên bố:

- Kiếm chỗ nào có thể chui được th́ chui vào mà ngủ. Nằm cho lại sức. Mấy khi được ngủ giữa cơn băo. Đứng đây lạnh, xưng phổi cả đám bây giờ. Chẳng ai nói một lời phản đối. Tôi ḅ lại khoang đầu chui vào. Bằng, anh Phúc nh́n tôi.

- Vô phương cứu chữa. Ngủ đi mấy ông.

Tôi co lên như con tôm dựa vào vách thuyền, chân gác lên mạn bên kia. Khoang đầu mũi quá hẹp, nên ba chúng tôi phải nằm trong tư thế quái đản đó từ ngày đầu. Mông tôi cấn vào cạnh gỗ, đau dần. Đốt xương cùng như bị đ̣n nặng, chạm vào đau nhói. Trời tuyệt nhà Lê rồi chăng? Tôi nằm im, mắt mở thao láo. Nước mưa nhỏ tí tách vào đầu vào cổ tôi. Anh Phúc cũng im lặng. Tư Nhiễn tḥ đầu xuống. Tôi nhăn răng cố cười với anh. Anh không cười. Tụt xuống. Ba chúng tôi cố ép lại nhường cho anh chỗ trống. Anh rút ra một điếu thuốc. Đốt lên giữa sự ngạc nhiên của mọi người. Chúng tôi đă hết thuốc từ hôm qua. Số thuốc lá đem đi mặc dầu bọc kỹ bằng bao nylong vẫn ướt sũng. Chuyền nhau điếu thuốc, chúng tôi im lặng hút. Anh Tư hỏi:

- Ḿnh c̣n cách mé xa không?

- Gần xịt. Anh Tư không hỏi thêm. Có vẻ anh biết bờ c̣n quá xa, con thuyền vẫn bị sóng nhồi. Tôi nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền ầm vang, ḷng xót xa thương những tấm gỗ mỏng manh. Thái ḅ tới phát cho mỗi người một miếng bánh dẻo to bằng nửa gói thuốc lá. Đó là khẩu phần cho cả ngày. Chúng tôi nhấm nháp chầm chậm, suy nghĩ mông lung. Tôi quay sang hỏi anh Phúc “Brandy và Cognac khác nhau ra làm sao?” Anh giảng tường tận thứ Whisky nào ngon. Anh bảo Chivas Regal. Vốn là một giáo sư đại học, đă từng đảm trách nhiều chức vụ quan trọng, anh tỏ ra rất am hiểu lễ nghi và phong tục các quốc gia trên thế giới. “Bia Đức ăn với dồi nóng là nhất. Ăn cá th́ phải uống vang trắng”. Chúng tôi đang giả vờ quên thực trạng. “Thật ra ở Luân Đôn buồn lắm. Paris th́ vui rồi nhưng phải có nhiều tiền. Song ở Ḥa Lan coi vậy mà hay. Dân xứ này hiền ḥa, hoa đẹp và nhiều, khí hậu dễ chịu, Bắc Âu à? Thụy Điển tiến lắm...” Cứ thế, chúng tôi nói tới những nơi mà có lẽ giờ này không một ai mường tượng đến hoàn cảnh của chúng tôi. Anh Tư cũng im lặng nghe những chuyện đâu đâu.

Quá trưa trời ngớt hột, nhưng sóng vẫn lớn. Những tảng sóng lớn hơn thuyền, hất chúng tôi lên cao, d́m chúng tôi xuống thấp. Tôi lần ra phía sau. Ai nấy run lên v́ lạnh và đói. Tôi cắn răng nói với Thái pha sữa cho mấy đứa bé. Nghi và Chiến t́m tôi đề nghị hâm nóng b́nh hơi máy, áp suất sẽ tăng lên. Đồng ư ngay. Anh em xúm lại lui cui đốt. Tôi nh́n đồng hồ đo kim chỉ 8 kí sau 2 giờ đốt. Áp suất nhích lên 9 kí và sau đó không tăng. Một ư kiến khác được nêu lên. Thái bớt một máy, để một piston làm việc thôi. Làm ngay. Cứ thế, chúng tôi xoay trở. Chiếc máy im ĺm, lặng ngắt. Quay tay nổi không? Thử đi, anh em ơi. Nghi, Nam và anh Tư Nhiễn ba người khỏe nhất săn tay áo. Họ quay như điên nhưng không vượt được ṿng quay tối thiểu đủ làm mồi cho bánh trớn làm việc. Tay họ trầy ra. Chánh lại gần tôi nói nhỏ:

- Em không bàn thối, nhưng máy này không thể quay tay được. Anh thấy khi chế tạo, kỹ sư nó không làm chỗ quay đâu. Đừng phí sức. Tôi nhắc mọi người ngưng. Đi ngủ đi bà con. Ba "chiến sĩ" v́ quá mệt, được phép ăn một gói ḿ và uống nửa ly sữa. Anh Tư không nỡ ăn một ḿnh, tần ngần nh́n số thực phẩm quư giá rồi gọi Cang lại, đưa hết. Cang nh́n bố lắc đầu. Trên mui thuyền có tiếng la "có tầu". Hiệu và anh Tám có nhiệm vụ kêu cứu đứng vẫy lia lịa. Một tấm SOS đă được chế tạo, nhưng chiếc tầu vẫn như những chiếc khác thản nhiên bỏ đi. Tôi leo lên mui hỏi Hiệu:

- Mấy chiếc chê ḿnh rồi?

- Không đếm nữa. Dân Việt ḿnh đúng là hủi cùn, hủi cụt, không đứa nào muốn dây vào. Trời tối dần. Ai nấy buồn thảm. Đàn, Tùng, Thịnh không đứa nào than văn nửa lời, nhưng rơ ràng chúng quá đói. Tôi vỗ về, an ủi chúng và phân công tát nước. Anh Tám và Hiệu nhận thức suốt đêm để kêu cứu khi thấy tầu. Trẻ con như lịm đi v́ đói. Hai đứa bé nhất, con Chiến và Điển, khóc luôn miệng. Một đứa con anh Bé lả đi mặc dù đă uống một ly sữa đặc biệt. Quá mệt, tôi chui vào tổ ṭ ṿ với anh Phúc và Bằng đă lịm đi trong thế nằm co, tai nghe sóng vỗ mạn thuyền ầm ĩ.

(Click vào đây xem tiếp Phần 3)