Người chiến binh cuối cùng

Vũ Đăng Khuê


Năm 2011, khán giả tại Nhật đă được xem phim “The Last Samurai” (Taiheiyou no kiseki: Fokkusu to yobareta otoko: Kỳ tích của Thái B́nh Dương, người đàn ông được gọi là Fox) của đạo diễn Hirayama Hideyuki (khác với phim cũng cùng tên do tài tử Tom Cruise đóng vai chính). Phim kể lại câu chuyện của một tướng Nhật Bản tên Sakae Oba đă chiến đấu tại Saipan từ năm 1944, khi nghe tin Nhật đầu hàng vào tháng 9/1945 ông tướng này đă trốn vào rừng, tiếp tục chỉ huy 47 người lính và một nhóm người dân địa phương, liên tiếp mở các cuộc tấn công du kích khiến lính Mỹ vô cùng khiếp sợ và đặt cho ông biệt danh "The Fox". 
Không biết đạo diễn Hirayama Hideyuki đă lấy h́nh ảnh của nhân vật nào mà dựng thành phim? tuy nhiên đă có một điểm vài tương đồng với một nhân vật vừa tạ thế tại Nhật Bản vào ngày 16 tháng 1 năm 2014 vừa qua, người được báo chí Nhật Bản mệnh danh là “chiến binh cuối cùng của thế chiến thứ hai”, và cũng là người được một website của Trung Quốc tên “
ifeng
” (
鳳凰網), luôn luôn hằn học chỉ trích Nhật Bản đă nhận định: “Ông là một quân nhân đích thực”“cả thế giới phải học hỏi tinh thần của người chiến binh này”. Ông là người thế nào và đă sống ra sao? Xin mời đọc tiếp.


Ông tên Onoda Hiroo, chào đời vào ngày 19 tháng 3 năm 1922 tại làng Kamekawa thuộc tỉnh Wakayama, là con trai thứ tư của một gia đ́nh mà bố là nghị viên tỉnh, mẹ là cô giáo. Cuộc sống ấu thơ của ông b́nh thường như những trẻ trong làng khác, nếu gọi là nổi bật th́ chỉ là chuyện ông là một tuyển thủ kiếm đạo được cử đi thi đấu khi c̣n  học bậc trung học đệ nhất cấp. Sau khi học xong lớp 9, ông làm việc cho một công ty mậu dịch có chi nhánh đặt tại Trung Quốc, nhờ đó biết thêm tiếng Trung Quốc. Anh em của ông đều là quân đội, anh cả là bác sĩ quân y, anh thứ là đại úy, em là thiếu úy.
Tháng 12/1942 lúc đang làm việc tại Thượng Hải, th́ tṛn 20 tuổi, đến tuổi động viên nên “ông đi vào quân đội, mà ḷng…. th́ chưa hề yêu ai”. Kinh qua nhiều trường lớp huấn luyện quân sự, tháng 12/1944, với cấp bậc thiếu úy, nói được tiếng Anh và tiếng Tàu, ông được cử đến Phi Luật Tân nhận công tác t́nh báo, truy t́m những tin tức của “địch”. Khi tŕnh diện đơn vị mới, trước hàng quân, trung tướng Yokoyama Shizuo, tư lệnh sư đoàn 8 thuộc quân đoàn thứ 14 đă ra khẩu lệnh: “Không được tự sát cho dù oanh liệt đến đâu. 3 năm hay 5 năm, chắc chắn sẽ có quân tiếp viện, dù chỉ c̣n 1 người gặm cùi dừa để sống, vẫn phải cố gắng chiến đấu. Ta nói lại một lần nữa: không chấp nhận các ngươi tự sát dù oanh liệt”. Tại đây, ông đă được bộ chỉ huy cung cấp tất cả những tin t́nh báo của đối phương và kế hoạch chiến đấu với lực lượng Hoa Kỳ ngay cả trong trường hợp Nhật Bản bị chiếm đóng.
Ngày 31 tháng 12/1944, ông được điều đến đảo Luwang. Trong lúc đang chuẩn bị cho một kế hoạch chiến đấu trường kỳ th́ có lệnh phải rút một phần lực lượng để tăng cường cho chiến trường khác, ngày 28/2/1945, lực lượng c̣n lại của ông bị dồn vào ngơ bí
, v́ sự truy kích của một đại đội Hoa Kỳ mới đổ bộ lên đảo cộng thêm hỏa lực của những chiến hạm Hoa Kỳ khiến ông và đồng ngũ đă phải lẩn trốn vào rừng, tiếp tục du kích chiến để chờ đoàn quân tiếp viện trở lại theo kế hoạch.

Chiến đấu và Sinh tồn

Đến tháng 8/1945 dù quân Nhật đă thảm bại nặng nề trên khắp các chiến trường, nhưng vẫn chưa có lệnh tan hàng, ông và 3 binh sĩ dưới quyền là Akatsu Yuichi, Shimada Shoichi, Kozuka Kinshichi vẫn tiếp tục mở các cuộc đột kích vào căn cứ radar Mỹ đặt trên đảo v́ nghĩ rằng: Phi bị Mỹ chiếm đóng và chính phủ Phi đương thời chỉ là bù nh́n của Mỹ. Nếu tính lại th́ số lần đột kích lên đến hơn 100.
Vũ khí của các ông dùng là loại súng trường kiểu 99, kiểu 38 và lưỡi lê… đạn dược th́ lấy thuốc súng từ đạn của chiếc máy bay bị bắn rớt rồi chế lại thành đạn cho vũ khí của ḿnh. Với một radio transistor, nhờ theo các khóa huấn luyện kỹ thuật, các ông đă sửa lại thành máy nhận tin sóng ngắn có thể nghe được tin tức các đài phát thanh thế giới, rồi dùng ăng ten dây cáp đánh cắp được từ căn cứ Mỹ để tiếp tục nhiệm vụ t́nh báo, nghe ngóng tin tức bên ngoài hoặc….. t́m cách liên lạc với quân tiếp viện mà mấy ông vẫn nghĩ là c̣n ở đâu đó.
Để sinh tồn, cả 3 đă tự mở những cuộc tấn công vào làng, vào căn cứ Mỹ để “cướp lương thực”, săn bắn thú hoang lấy thịt phơi khô, ăn dừa để sống….
Sau vài năm chiến đấu, Akatsu đă ra hàng vào tháng 6/1950 (cũng có tin trong một cuộc  đụng độ Akatsu bị thương bất tỉnh được quân Mỹ cứu sống), Shimada chết vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, c̣n Kozuka th́ chết vào ngày 19 tháng 10 năm 1972 trong các cuộc giao tranh với lực lượng Phi. Khi thấy xác Kozuka, chính phủ Phi đă liên lạc với chính phủ Nhật. Bộ Y Tế Nhật cùng với gia đ́nh ông Kozuka đến “hiện trường” để nhận mặt, chị ruột của ông Onoda cũng có mặt để kêu gọi Onoda ra hàng, nhưng ông này vẫn biệt vô âm tín.



Kozuka


C̣n một ḿnh, ông tiếp tục mở những cuộc tấn công lẻ tẻ vào căn cứ Mỹ, tiếp tục “nhiệm vụ” thu thập tin tức của “đối phương”.

Phát hiện

Nhờ việc binh nhất Akatsu hàng phục vào năm 1950 và trở về Nhật năm 1951 mà chính phủ Nhật biết là vẫn c̣n 3 người c̣n trốn trong rừng, từ năm 1954 trở đi, Nhật đă dùng nhiều h́nh thức như trực thăng kêu gọi, rải truyền đơn, tổ chức các nhóm t́m kiếm, nhưng không có kết quả. Nghĩ là ông không nắm vững t́nh h́nh bên ngoài nên những toán t́m kiếm đă cố t́nh để lại trong rừng những báo chí Nhật có đăng tin tức của Nhật Bản như tin Hoàng Thái Tử đương thời lấy vợ (bây giờ là Thiên Hoàng Akihito) (1959), Tokyo tổ chức Olympic (1964), Nhật Bản đă có Shinkansen (1964) v.v…. để ông “mở mắt”. Đến ngày 20/2/1974, Suzuki Norio, một lăng tử trẻ thuộc “thế hệ không biết chiến tranh” , v́ yêu cái tính bi hùng của những người lính bị lăng quên đă vào rừng t́m kiếm, phát giác rồi tiếp xúc được với ông. Suzuki đă nói rất rơ về t́nh trạng bên ngoài và khuyên ông ra đầu thú, Onoda cho biết là đă nhặt và đọc được những tài liệu của ai đó để lại trong rừng và biết Nhật có nhiều thay đổi nhưng từ chối ra hàng v́ chưa có lệnh.




Lúc Suzuki gặp gỡ ông Onoda trong rừng


Quân Lệnh… tan hàng

Suzuki đă mang tin này về Nhật Bản và ngày 9/3/1974, thiếu tá Taniguchi Yoshimi, người trực tiếp chỉ huy ông đă đến Luwang. Gần khu rừng mà Onoda đang ẩn náu, thiếu tá Taniguchi dùng loa kêu gọi Onoda ra tŕnh diện. Phải chờ một ngày sau (10/3) th́ thiếu úy Onoda, trong bộ quân phục bạc màu nhưng rất chỉnh tề được ghép bằng nhiều mảnh mới chịu xuất hiện. Sau khi ông báo cáo t́nh trạng của đài Radar Mỹ trên đảo sau nhiều năm thu thập, thiếu tá Taniguchi đọc quân lệnh chấm dứt nhiệm vụ chiến đấu của nhóm do đại tướng Yamashita Tomoyuki ban hành vào thời chiến.
Với tâm trạng sẵn sàng chịu tử h́nh v́ đă giết và làm bị thương trên 30 người gồm dân Phi, lính Mỹ, ông đă chính thức… “từ bỏ vũ khí”. Buổi lễ tiếp nhận đầu hàng tại một căn cứ Phi đă diễn ra vô cùng trang trọng dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Marcos Phi Luật Tân.

            

Tŕnh diện và trao vũ khí đầu hàng


Ông hô to “Thiên Hoàng Vạn Tuế” rồi trao thanh kiếm cho một vị tư lệnh quân đội Phi, vị này nhận rồi trao lại cho ông và nói: “Chúng tôi trả lại cho ông, v́ kiếm này biểu hiện cho sự trung thành của một người lính”. Tổng thống Marcos đă gọi ông là “một quân nhân tuyệt vời”. Chiếu theo luật pháp Phi th́ ông là người có tội và phải chịu xét xử, nhưng v́ lư do: “ông không tin là chiến tranh chấm dứt và tiếp tục chiến đấu”, nên những hành động của ông chỉ là hành động v́ nhiệm vụ, v́ sống c̣n, cộng thêm lời yêu cầu của chính phủ Nhật nên chính phủ Phi quyết định ân xá.

Về lại cố hương

Ngày 12/3/1974, ông trở lại Nhật, câu nói đầu tiên của ông là: chiến tranh đă thực sự chấm dứt. Đài truyền h́nh NHK trực tiếp chuyện ông trở về trong suốt 66 phút, đă có 45.4 % dân chúng theo dơi sự kiện này, một trong những kỷ lục rất cao từ trước tới nay.


Trong cuộc họp báo, ông đă tŕnh bày lư do không ra hàng là v́ chưa có lệnh tan hàng, và ông rất buồn v́ sự hy sinh của 2 đồng đội. Một nhà báo đặt câu hỏi:

-         “nếu không gặp được ông trong rừng th́ ông sẽ làm ǵ sau đó?

Ông trả lời:

-         “Tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ của một người lính. Năm nay tôi đă 51, tôi nghĩ là sẽ sống cho đến 60 rồi mở một cuộc tấn công cuối cùng vào căn cứ radar Mỹ và sẽ chết ở đó”.

Ông được chính phủ Nhật tặng 1 triệu yen và rất nhiều tiền tặng từ những người Nhật để “làm lại cuộc đời”, lúc đầu ông không nhận nhưng sau đó th́ phải nhận và đă cống hiến tất cả số tiền cho đền tử sĩ Yasuguni. Cũng có dự định sắp xếp để ông gặp Thiên Hoàng Hirohito, nhưng ông từ chối v́: “tự tôi quyết định việc trốn trong rừng nên tôi nghĩ ngài sẽ không có điều ǵ để nói với tôi cả”. Một trong việc mà ông làm đầu tiên khi về nước là đến viếng mộ của hai đồng đội Shimada, Kozuka.

Gầy dựng cuộc đời

Khác với Yokoi Shoichi, sau 28 năm trốn tránh trong rừng núi Guam, trở lại Nhật hai năm trước (1972) đă nhanh chóng hội nhập đời sống mới, ông Onoda th́ cảm thấy ngộp với sự chật hẹp, không thênh thang như trong…. rừng, chưa quen với cuộc sống quá đầy đủ tiện nghi, thỉnh thoảng phát sợ khi nghe tiếng trực thăng của giới truyền thông mà cứ nghĩ là trực thăng địch. Tháng 4.1975, ông đă cùng người vợ mới cưới sang Ba Tây lập nghiệp chung với người anh trai trong một trại nuôi ḅ có diện tích lớn hơn phi trường Narita.
Năm 1980, ông đă bị shock khi nghe tin tại Nhật xảy ra một vụ giết bố mẹ mà thủ phạm là một học sinh trẻ bị ở lại lớp, đưa ông đến suy nghĩ “Các trẻ em đă làm mất chính ḿnh trong một Nhật Bản giàu mạnh”, ông trở lại Nhật và quyết định “sẽ phải làm một việc ǵ hữu ích với quăng đời c̣n lại.
Năm 1984 ông thành lập “tư thục thiên nhiên Onoda” nằm trong núi thuộc tỉnh Fukushima, dùng kinh nghiệm sống của ḿnh trong suốt 29 năm trong rừng dạy cho các học sinh trẻ tinh thần trân quí thiên nhiên. Hăy nghe “đệ tử” thuộc lứa tuổi 15 hay 16 tâm sự: “Ông bắt chúng tôi đi chân không trong suốt mấy ngày trời, lúc đầu th́ đau, nhưng vài ngày th́ không c̣n cảm thấy” hay “b́nh thường th́ ông rất hiền nhưng ông rất khó khi dạy chúng tôi cách dùng lửa”.
Có thể tóm gọn châm ngôn sống của ông là: “Vấn đề quan trọng là khả năng, nghĩa là phải hiểu rơ: biết ḿnh có cái ǵ và không có cái ǵ, rồi hành động trong tinh thần trách nhiệm”.
Ông vẫn đi đi về về giữa Ba Tây và Nhật Bản để vừa làm việc vừa thực hiện ư nguyện của ḿnh.

Onoda lúc trở lại đảo Luwang


Những giai thoại

-         Trước khi lên đường, mẹ ông đă trao một đoản kiếm ngắn và dặn ḍ: nếu sợ sa vào tay giặc, bằng đoản kiếm này, trong những giây phút cuối cùng con hăy xử sự sao cho xứng đáng. Tuy nhiên, ông đă không phải dùng đoản kiếm này để tự xử và đă trả lại cho “khổ chủ” 29 năm sau đó.

-         Trong cuộc chạm súng với cảnh sát Phi vào tháng 12/1972, đồng đội Kozuka đă bị bắn trúng vai khiến khẩu súng trường rơi xuống đất, sau đó lại bị bồi thêm mấy phát vào ngực, Onoda nhặt súng của Kozuka bắn trả 5 phát, dùng súng của ḿnh bắn thêm 4 phát mở đường máu định mang Kozuka theo. Ông lay mạnh nhưng mắt Kozuka đă trắng dă và máu phun ra từ miệng, ông đành ngậm ngùi bỏ Kozuka ở lại chỉ đem theo được khẩu súng của đồng đội, sau đó khẩu súng này đă được trao lại cho gia đ́nh Kozuka khi ông ra hàng. Chứng kiến trước mắt cái chết của đồng đội, Onoda nổi điên nhất quyết “trả thù”, ṿ xé nát tờ truyền đơn của Bộ Y Tế Nhật Bản kêu gọi ông ra hàng mà ông nhặt được, giữ trong người từ năm 1959. Lễ truy điệu ông Kozuka đă được cử hành tại Hachioji vào tháng 11 năm 1972.

-         Tại đảo Luwang, nơi ông lẩn trốn, nhà cầm quyền tại đó đă quyết định xây dựng “con đường mang tên ông” để chiêu mời khách du lịch, khi được Ông Furanton, nhân viên phụ trách du lịch thông báo ư định này, ông rất vui vẻ và giúp đỡ tài chánh để hoàn thành con đường, nhiều năm sau đó ông vẫn đều đều gửi tặng cho trẻ em trong các ngôi làng trên đảo piano, dụng cụ học sinh.

-         Ông không ra hàng v́ nghĩ rằng những lời kêu gọi hàng phục chỉ một sự lừa dối để kết thúc chiến tranh, sản phẩm tuyên truyền của quân “chiếm đóng”, chính quyền ở Nhật chỉ là chính quyền bù nh́n của Mỹ, c̣n chính phủ lưu vong Nhật Bản th́ bản doanh đặt ở Măn Châu đang chuẩn bị tái chiếm những vùng đất bị mất. Từ đảo Luwang, khi nh́n thấy các máy bay quân sự của Mỹ bay đến mặt trận Triều Tiên, ông tin là chính phủ lưu vong đă bắt đầu phản kích, khi nh́n thấy máy bay quân sự của Mỹ bay đến chiến trường Việt Nam từ căn cứ quân sự Mỹ ở Philippines, ông tưởng là Mỹ đang tấn công Nhật Bản. Những điều này trùng hợp với kế hoạch mà  ông đă được học và nghe tại căn cứ Futamata hay tại các chiến trường.
Được biết, Luwang là một ḥn đảo nằm gần “cửa” ra vào hải cảng Phi Luật Tân, từ ḥn đảo này có thể quan sát sự di chuyển của các quân hạm, máy bay của lực lượng Hoa Kỳ.

-         Tuy nhiên cũng có một số nhỏ báo chí đă nêu ra nghi vấn: ông biết hay không biết Nhật đă đầu hàng? Trong số người nghi ngờ có nhà văn Tsuda Shin, trong quyển “3 tháng trời với anh hùng ảo tưởng-thiếu úy Onoda” đă chỉ trích và nêu giả thuyết: ông không dám ra đầu thú v́ sợ bị dân làng trả thù, v́ đă “lỡ” giết và làm bị thương nhiều người. Cũng v́ một vài nghi ngờ “nho nhỏ” đó, đă là một lư do khiến ông bỏ Nhật sang Phi sinh sống tháng 4/1975.

-         Thú vui duy nhất của các ông là nghe trực tiếp truyền thanh chương tŕnh đua ngựa tại Nhật và hay “cá độ” với đồng đội của ông là Kozuka là ngựa nào về nhất.

-         V.v….

Vĩnh biệt ông

Bà Onuki Kazuko em vợ của ông kể lại: V́ viêm phổi nặng, đầu tháng 1 năm nay, anh cảm thấy trong người khó chịu, gia đ́nh đă đưa anh vào bệnh viện. Vài ngày sau đó, h́nh như biết trước ngày đă gần kề, anh ra hiệu bằng ánh mắt muốn gặp mọi người thân. Hỏi, anh chỉ trả lời bằng cách gật đầu hay lắc đầu. Nhưng khi nghe nói là có giới báo chí muốn thu tin, mắt anh bỗng sáng lên như muốn ngồi dậy trở về nhà. Tôi nghĩ là anh sẽ nói rất chi tiết lúc anh c̣n chiến đấu trong rừng nhưng anh sẽ không nói ǵ về cá nhân anh v́ con người anh là như vậy, nghiêm khắc với chính ḿnh và không bao giờ thổ lộ những ǵ bất măn.
Và “người chiến binh cuối cùng” của một dân tộc: “phải anh hùng lắm th́ mới là người Nhật được”* đă trút hơi thở cuối cùng vào ngày 16 tháng 1 năm nay, hưởng thọ 91 tuổi để lại hậu thế bao niềm kính phục.
Kính chúc hương hồn ông b́nh yên an nghỉ ngàn đời nơi cơi ấy.

 

Vũ Đăng Khuê

Tháng 2/2014

-------

*Trích trong bài viết: “Nhật Hoa trong năm Giáp Ngọ” của tác giả Vơ Thành Văn đăng trong số báo Việt Báo Xuân Giáp Ngọ.

< Trên lănh thổ ấy, diện tích có thể canh tác chỉ được 12%, tại ba b́nh nguyên lớn, lại chia cắt bởi núi rừng và nhiều con sông ngắn, ít thuận lợi cho vận chuyển. Là một quần đảo, nước Nhật thật ra chỉ có một số ốc đảo khả dĩ sống được giữa núi và nước. Mà sống khá chật vật v́ thiếu tài nguyên thiên nhiên. Giữa các ốc đảo và biển cả, dân Nhật phải dùng thuyền bè và tự nhiên phải giỏi về nghề nước.

Được trời cho mảnh đất hẩm hiu này, họ tin rằng phải là siêu nhân th́ mới tồn tại được. Dân Tầu có thể cho rằng ḿnh là cái rốn của vũ trụ, là trung tâm văn hóa của thế giới. Hay dân Mỹ thường nghĩ là ai ai cũng muốn thành người Mỹ. Dân Nhật lại nói ngược: phải anh hùng lắm th́ mới là người Nhật được. >