Những quả ổi cuối mùa

Lê Thiệp

Trích từ “Chân ướt chân ráo”
Do tủ sách Tiếng Quê Hương phát hành.

Lời giới thiệu của Vũ Đăng Khuê: “Chân ướt chân ráo” là tựa đề của một quyển sách mà tác giả Lê Thiệp gọi đơn giản là “Kư” được Tủ Sách Tiếng Quê Hương tại Hoa Kỳ phát hành vào năm 2003. “Kư” gồm tất cả 38 bài kể về những cảnh đời của người mới nhập cư, tái tạo cuộc sống từ đôi bàn tay trắng sau cuộc đổi đời. Tuy là một phóng viên chiến trường của hai nhật báo lớn tại miền Nam trước 1975 là Chính Luận và Sóng Thần, nhưng Lê Thiệp lại có lối kể truyện rất tài, lôi kéo người đọc chú ư vào ngay những ǵ xảy ra trong đời sống thường ngày để rồi chợt t́m thấy những thú vị hoặc ră rời, đưa đến những trăn trở dứt không ra. khiến Tác giả đă phải thú nhận. Cả chục năm qua và nay thấy ḿnh vẫn là người đứng bên lề cuộc sống ở đây.... Có những lúc cố gắng, có những lúc quên đi để đùa bỡn cợt. Đi uống rượu và bàn về rượu vang. Đi ăn cơm tàu th́ kiếm Tả Tướng Quân. Nhưng đâu lại vào đấy. Xem ra không thể gột được cái cốt Mít để biến thành Mẽo....  Lúc nào đầu óc cũng c̣n những băn khoăn về bạn bè anh em ở nửa bên kia địa cầu, nó là cái nhức nhối không phải chỉ là quá khứ mà là một hiện tại đang nhọc nhằn kéo dài ở đâu đó, Saigon, Hà Nội…..và ḿnh vẫn c̣n là.... chân ướt chân ráo.

Nhà thơ Du Tư Lê cũng đă nhận định về tập “Kư”này:

“Với thời gian, khi ông cầm bút lại, nhiều năm sau biến cố tháng 4, 1975, với tập bút kư nhan đề “Chân Ướt Chân Ráo” do Tủ sách Tiếng Quê Hương của Uyên Thao, ở Virginia, xuất bản năm 2003, tôi mới có dịp nh́n rơ hơn, thấy rơ hơn tính chất nhà văn, nơi con người nhà báo này.
Ở đây, tôi không muốn nói tới vốn sống ngồn ngộn rói tươi của ông. Tôi cũng không muốn nhắc tới cái kiến thức sâu rộng của ông về nhiều phương diện, từ văn học tới chính trị, lịch sử, xă hội... Tôi chỉ muốn nói tới khía cạnh văn chương như những nhát dao dứt khoát, sấn sổ trên một khối gỗ xù x́ để h́nh thành chân dung một nhân vật, một sự kiện.

 

Ngày 6 tháng 7 vừa qua, bạo bệnh đă đưa Lê Thiệp về chốn vĩnh hằng. Văn đàn đă mất đi một ngọn bút tài hoa, làng báo đă mất đi một kư giả uyên bác. Tuy không c̣n nữa, nhưng tác phẩm, tâm t́nh của ông sẽ c̣n măi măi.

Xin mời quí vị theo dơi một truyện ngắn được trích trong tập Chân Ướt Chân Ráo nói về quăng đời thơ ấu của ông tại một làng quê vùng châu thổ sông Hồng nơi tác giả đă trải qua một giai đoạn lịch sử khốc liệt của những năm đầu thập niên 50 với những cuộc đấu tố Trí Phú Địa Hào dă man tàn khốc v.v… và vị đắng chát dịu dàng của ba quả ổi bói ở quê xưa đất Bắc mà tác giả cho là ngon nhất được ăn trong chuyến rời làng ra Hà Nội xuôi Nam t́m Tự Do. Bài viết có tên:

 

Những quả ổi cuối mùa

Tôi ngẩn người ra nh́n. Trong cái siêu thị Mỹ khang trang sạch sẽ này cũng có bán ổi. Những quả ổi được bọc trong lưới xốp màu trắng trang trọng nằm giữa cam lê nho táo, những loại trái cây phổ thông hàng ngày của dân bản xứ. Cầm trái ổi lên ngắm nghía. Ổi xá lị to cỡ cái bát ăn cơm, da hơi sần ś bóng lưỡng, chắc nịch. Giá $1.95 một pound. Không hiểu người Mỹ ăn ổi có chấm muối ớt không? Có gọt vỏ không? Có khi họ lại cắt bỏ cái phần thịt ruột có hột ở trong cũng nên. Bỗng đâu những trái ổi tự xa thẳm trong kư ức ào về.

* * *

Trong cái làng quê nhỏ bé ở châu thổ sông Hồng, cuộc sống - dù đang chiến tranh Việt Pháp - vẫn trôi đi lững lờ rất thanh b́nh dưới con mắt tụi tôi. Đối với bọn con nít th́ Quốc, Cộng, Điện Biên Phủ, Kháng Chiến là những chuyện thiên hô bát xát, chẳng có nghĩa ǵ cả. Khi người lớn trong gia đ́nh xầm x́, tụi tôi hiểu là nên lỉnh đi. Và tất nhiên là bắn chim, câu cá, đi ṃ củ ấu, đi săn cồ cộ. Cồ cộ là tiếng địa phương vùng tôi gọi giống như con ve sầu, nhưng mầu sắc rực rỡ và to hơn nhiều, to cỡ con cà cuống. Nó đậu cao ở những cây cau và tiềng kêu cồ cộ cồ cộ lảnh lót. Muốn bắt cồ cộ th́ phải kiếm được nhựa cây bôi vào đầu một cây sào tre dài, lừa lúc cậu ta lảnh lót kêu, chắc là để t́m bạn lứa đôi, dính đầu có nhựa vào cánh lôi cậu ta xuống. B́nh thường khi bắt được một chú cồ cộ, chúng tôi rất ác độc, bóp ngang chỗ ức và cồ cộ bị tức thở, kêu vang trời. Giữa trưa hè im, thiếu gió và nóng như thiêu, tiếng cồ cộ vang xa như muốn lay động cái vắng lặng của ngôi làng nhỏ bé.

Những tṛ chơi của tụi tôi hoàn toàn là tṛ của lũ trẻ nhà quê và trong cái quê mùa đó có ổi. Ờ nhỉ, tại sao ổi lại không được liệt vào những thứ trái cây đáng giá, sang trọng, có thể bán, ít ra cũng để biếu xén? Có thể đem tết nhà cụ Bá một nải chuối, chục cam. Có thể đưa dâu bằng cau, có thể lễ đ́nh làng bằng chục hồng trứng, nhưng ổi th́ hoàn toàn thuộc quyền của tụi tôi.

Nhà nào có ổi, chúng tôi biết rơ và chủ nhà xem ra cũng không kỹ lưỡng đối với tụi nhỏ lẻn vào hái ổi. Ổi thôi, không được sờ đến na, đến hồng, đến thị, đến nhăn.

A, có ai phân loại ổi chưa nhỉ? Xoài cát, xoài tượng, xoài gịn, xoài voi, chuối tiêu, chuối hoa cau, chuối trứng cuốc, chuối ngự ... nhưng đối với quảng đại quần chúng - quần chúng người lớn - th́ ổi là ổi và măi sau này mới có thêm ổi xá lị.

Nhưng cây ổi nhà ông Đội Vơ th́ khác với cây ổi nhà ông Lư Cựu, khác với cây ổi ở chùa làng. Cây ổi chùa làng quả tṛn rất đều, chỉ nhỉnh hơn qủa chanh và khi chín màu vàng tươi, phía trong phần thịt có hột mầu hồng đào. Ổi này vô duyên nhất v́ khi chưa chín ăn chua lè, cái vị chua khó thưởng thức đến độ tụi tôi cũng chê. Đến khi chín trông th́ đẹp vô cùng nhưng mềm nhũn ăn lạt thếch, vỏ th́ dầy mà phần cùi th́ rất mỏng, phần thịt ở trong toàn hột vừa to vừa cứng. Ổi ở vườn chùa chỉ được cái thơm, mùi thơm dịu phảng phất. Sư cụ chùa lựa giống ổi này để bầy trên bàn thờ Phật cho vừa đẹp vừa thơm chăng?

Ổi doi là loại ổi nhỏ có cái đuôi nhọn ở cuống giống như trái doi. Doi là tiếng miền Bắc. Mận là tiếng miền Nam (không phải trái mận Đà Lạt) . Ổi doi cứ vừa lớn hơn cỡ ngón chân cái là có thể xực được v́ thịt mềm và ít hột, nhưng lư tưởng nhất là vừa chín tới. Cắn một phát làm đôi hay tên nào mồm rộng răng khỏe th́ chơi cả quả nhai rau ráu .

Ở chỗ lùm cây nơi giếng đầu làng có hẳn một rặng cỡ bốn năm cây ổi, tụi tôi đặt tên là ổi Trâu. Ổi chùa tuy vô duyên nhưng đến lúc chín c̣n ăn được chứ trái ổi trâu th́ không cách ǵ thưởng thức được. Nó cứng như đá, cùi dầy, xanh th́ chát khủng khiếp và thú thật tôi chưa bao giờ thấy một trái ổi trâu nào chín cả. Sao vậy hè? Có thể nó chưa kịp chín đă bị vặt, hoặc nó cứ xanh lè như vậy chăng.

Tôi không nhớ rơ nhưng biết chắc loại ổi này chỉ để ném nhau bươu đầu sứt trán. Cũng may là chỉ có rặng ổi duy nhất ở giếng là ổi trâu.

Ổi lư tưởng là ổi mỡ. Ổi này tṛn lớn lắm th́ cũng chỉ nhỉnh hơn hột vịt một chút, da nhẵn và bóng lưỡng. Ổi mỡ vỏ mỏng cùi dầy hột nhỏ vừa thơm vừa gịn vừa ngọt. Được cái may là người lớn xem ra cũng biết thưởng thức nên trong vườn của nhiều nhà có ổi thường là ổi mỡ.

Đáng yêu nhất có lẽ là hai cây ổi ở nhà ông Lư Cựu. Tên ông ta không phải là cựu nhưng từng làm Phó Lư nên gọi ông là Lư Cựu, một ông ǵa hiền lành có cḥm râu lún phún, miệng hơi móm và dáng đi ḷng kḥng như bất cứ ông Lư nhà quê nào. Vườn nhà ông rộng có cái ao nhỏ và hai cây ổi ở tận góc vườn, hàng rào dâm bụt thưa, nhà neo người nhưng không nuôi chó như nhà ông Đội Vơ. Ngay cả khi bắt gặp chúng tôi tọng teng trên ngọn ổi, ông Lư cũng chỉ nắm tay, miệng th́ lúng búng dọa giẫm nhưng không bao giờ nặng lời. Mỗi lần bị bắt quả tang, tụi tôi tụt xuống cho nhanh, toét miệng cười chạy mất. Một lần mẹ tôi có hỏi và tôi nghe ông Lư bảo: Có đáng ǵ quả ổi, nhưng sợ trẻ nó leo trèo, có ngă th́ phải tội chết !

Trái ổi có thể khác, nhưng cây ổi nào trông cũng giống nhau. Trước hết là cây ổi không cao lắm như cây sấu, cây muỗm, cây xoài. Thứ nh́ là cành ổi rất dẻo dai, có lẽ v́ sớ gỗ xoắn lại nên khó gẫy khiến tụi tôi có thể vừa đứng trên cành nhỏ vừa rung rung, cười như nắc nẻ với nhau. Một lợi ích vô song của cành ổi là có thể dùng làm trạc súng cao su. Trạc là tiếng Bắc quê tôi, ná là tiếng Nam. Trẻ lựa một trạc ba có hai nhánh đều, nếu c̣n nhỏ th́ cột hai đầu lại chờ cho lớn hoặc nếu có hơi lệch một chút th́ cũng cột giây uốn cho ngay. Trạc bằng gỗ ổi đẹp, nhẵn bóng và rất cứng, dẻo dai lại vừa tầm tay nên rất được ứa chuộng.

A, lại c̣n cái búp ổi, Vào mùa xuân ổi đâm chồi nẩy lộc và những lúc leo trèo lên cây ổi, buồn t́nh ngắt một búp bỏ vào miệng nhâm nhi. Búp ổi đắng ngọt cũng đủ giải sầu lúc vô sự không có tṛ chơi. Tôi xa những trái ổi vào giữa mùa thu năm 1954.

* * *

Khi Việt Minh tiếp thu làng, hội hè liên hoan liên miên. Tụi nhỏ chúng tôi xúm quanh những anh bộ đội tṛn xoe mắt nghe kể chuyện anh hùng kháng chiến ôm bom ba càng lao vào xe thiết giáp Tây, chuyện anh hùng lấy thân lấp lỗ châu mai, ôm bộc phá t́nh nguyện hy sinh để phá rào thép gai quanh đồn giặc. Toàn những chuyện hay ngang ngửa với truyện Tôn Ngộ Không trong Tây Du kư. Tối th́ được dậy nhẩy son đố ḿ, ḿ ḿ son son ... hay học hát " Hồ chí Minh xuất hiện trong ánh sao , xuất hiện đi cứu dân khổ đau ..." . Đôi khi c̣n được xem chiếu bóng, phim của Trung Quốc và Liên Xô như phim Bạch Mao Nữ chẳng hạn.

Nhưng chỉ độ một tháng sau, không khí trong làng khác hẳn. Những anh bộ đội đâu mất. Những tṛ liên hoan thay bằng những buổi học tập b́nh bầu và bỗng đâu có "đội phát động" xuất hiện được gọi tắt là Đội. Những cán bộ phát động theo chính sách tam cùng - cùng ăn - cùng ở - cùng làm - với dân và họ chọn những người nghèo nhất trong làng để tam cùng. Những khẩu hiệu được viết bằng vôi trắng trên cót nứa giăng khắp làng, to nhất là tấm ở ngay cổng đ́nh: "Tri Phủ Địa Hào, đào tận gốc bốc tận rễ."

Rất nhanh tôi nhận ra ngay số phận của tôi, bên nội bên ngoại tôi được b́nh bầu đủ bốn thành phần ác ôn và tôi đúng là phần rễ của bốn thành phần giai cấp này. Tôi c̣n nhớ như in cảnh bà bác thứ tư của gia đ́nh có bốn người con. Ba ông anh con bác tôi đă trở thành liệt sĩ, hi sinh trong kháng chiến. Ông thứ tư c̣n lại, ngay sau "ngày ḥa b́nh" ghé về nhà một buổi rồi lặn mất tăm, có thể cũng lại ở trong đội tại một làng quê nào đó. Bác Tư được liệt vào hàng ngũ Địa Chủ Kháng Chiến mà vẫn phải thoái tô. Thoái tô tức là phải nộp trả thuế cho Đảng và nhà nước tính từ năm 1945 đến 1954. Số thuế nông nghiệp phải trả này nếu địa chủ xoay sở nộp xong th́ lại b́nh bầu lại để nộp thêm lần nữa, nộp hoài cho đến khi không c̣n ǵ để nộp th́ tịch thu nhà cửa, đem đi đấu tố  ... bác Tư tôi treo cổ tự tử chết.

Đó là chuyện người lớn, chuyện Đảng và nhà nước. Chuyện của tôi là tôi bị ra ŕa. Bọn nhỏ không chơi với tôi nữa. Tôi không được vào đoàn thiếu nhi quàng khăn đỏ. Tôi không được tối tối cùng tụi nó vừa đi vừa gơ phèng la chửi rủa địa chủ, vác tên tộc của đại gia đ́nh tôi ra mà chửi với những ngôn ngữ tục tằn nhất. Mấy đứa con địa chủ như tôi ngơ ngác sợ sệt và chỉ đành chơi với nhau.

Nhưng rất nhanh Đội phát giác ra t́nh trạng này và lo sợ tụi chúng tôi tụ tập bè đảng nên t́m cách đập tan mọi mầm mống chống đối từ trứng nước. Tụi tôi cỡ hơn chục đứa đa số là anh em bà con bị đội gọi lên nói ngọt dọa dẫm và bố mẹ địa chủ bị cảnh cáo. Tôi trơ thân cụ, bơ vơ lạc lơng ngay giữa làng và tôi chỉ c̣n lủi thủi chơi một ḿnh. Đó là những lúc tôi trèo lên cây ổi nhà ông Lư Cựu nh́n những đám lục b́nh im lắng ở chiếc ao con nuôi cá Mè hay nh́n những tảng mây trắng dật dờ trên trời xanh về hướng núi Ba V́. Những cây ổi vào giữa thu trông cũng xơ xác như chú bé ngồi dựa gốc không biết cuộc đời ḿnh sẽ ra sao. Và ông Lư Cựu bị liệt vào hàng phú nông cũng vắng bóng trong khu vườn hoang vắng. Sau này ông Lư được đôn lên hàng địa chủ.

Một buổi tối mẹ tôi lôi tôi vào góc buồng bảo nhỏ ngày mai tôi phải dậy sớm để ra Hà Nội với bố tôi. Bà bắt tôi phải đi ngủ ngay, có lẽ sợ tôi lại hoắng lên đem chuyện này nói cho bọn trẻ chăng? Bà đâu có biết tôi đă không c̣n một đứa bạn nào, kể cả những đứa thân nhất như thằng Hùng, thằng Mai đều tránh xa tôi. Trời c̣n lờ mờ sáng mẹ tôi đă lôi tôi dậy, đưa cho tôi cái nải nhỏ và dặn "nói với Bố đi Nam ngay, không được về làng" . Người dẫn tôi đi trốn là anh Hiền. Hai anh em tắt qua ngă bờ ao ra phía bờ Mả Vù và lội ruộng lên đường cái quan.

Làng tôi không xa Hà Nội lắm, cỡ 25 cây số. Bố tôi vốn có xe chạy đường Hà Nội - Sơn Tây - Quốc Oai và tôi vẫn đi đi về về Hà Nội luôn, nhưng là ngồi trên xe vận tải.

Lần này, chưa quá 10 tuổi đầu, tôi đă cuốc bộ để đi gặp bố tôi với lời nhắn của mẹ. trời sắp hết thu khá mát. Tôi lẽo đẽo đi cạnh anh Hiền. Thỉnh thoảng anh lại hỏi tôi có mỏi chân không.

Khi ngồi nghỉ chân bên bờ đê sông Hồng, tôi lục chiếc tay nải. Ngoài hai nắm cơm khá to với một ít cá kho tiêu, c̣n có ba quả ổi. Ăn nắm cơm xong anh Hiền đưa tôi chai nước và sau đó anh em lại cắm cúi bước.

Đồng ruộng tiêu điều. Những khẩu hiệu tương tự như ở đ́nh làng tôi nhan nhản dọc đường, căng ngang căng dọc xen lẫn với h́nh cụ Hồ râu dài môi đỏ như máu và mắt đăm đăm nh́n như xem đứa nào là phản động để trừng trị.

Tôi cắn vào trái ổi, cắn một cách từ tốn chậm răi, gặm phần vỏ nhai thật kỹ. Nó hơi đắng chát, cái đắng chát dịu dàng. Tôi ăn đến phần cùi. Gịn, sần sật, nước ngọt ứa ra thấm vào tận chân răng.

Tôi nhai phần ruột có hột. Hột ổi to nhưng không cứng lắm, nhai vỡ ra kẹt vào kẽ răng. Tôi vừa đi vừa hít hà để những hạt ổi long ra.

Cứ thế ba trái ổi giúp tôi đi nhanh hơn và hai anh em đến Phùng lúc nào không biết. Tôi c̣n nhớ khi đi qua chợ Phùng, anh Hiền chỉ một căn nhà bảo: "Đó là nhà ông Tổng Phùng. Ông Tổng có con đi bộ đội làm thơ hay lắm nhưng ông Tổng đi Nam rồi."

Lớn lên về sau này tôi mới rơ người bộ đội làm thơ hay lắm là Quang Dũng.

Từ Phùng anh em tôi thuê được xe để ra Kim Mă và sau đó đă gặp bố để nhắn lời của mẹ.

Măi về sau này khi đă lớn, ngồi ôn chuyện năm xưa, tôi hỏi mẹ lấy đâu ra ba quả ổi vào lúc đó? Mẹ bảo ông Lư Cựu cho hồi chập tối. Ông Lư Cựu nh́n thấy tôi ngồi tiu nghỉu một ḿnh nơi gốc ổi hồi chiều. Đợi tối không có ai, ông lẻn vào nhà đưa cho mẹ tôi ba quả ổi bói c̣n sót lại lúc cuối thu.

* * *

Tôi lớn lên thành người ở miền Nam. Ổi xá lị miền Nam to, đều, ngon ngọt. Những miếng ổi được ngâm trong nước cam thảo vàng ươm bán ở sân trường. Khi ra chơi, năm cắc nửa trái, sát muối ớt ăn đă ơi là đă. Ổi Bắc Mỹ Thuận chục mười hai, có khi mười sáu. Ổi ở chợ Bến Thành sắp thành hàng cao đẹp ơi là đẹp. Nhưng có lẽ không có trái ổi nào trong đời tôi ngon hơn ba trái ổi bói cuối mùa của vườn ông Lư Cựu.

Năm 1975 'ḥa b́nh lại lập lại" và có những người từ làng quê tôi vào Sài G̣n. Tôi hỏi thăm th́ được bảo, ông Lư Cựu bị đôn lên hàng địa chủ, không nhận tội đă bóc lột nông dân nên bị liên đấu ngày đêm.

Ông cắn lưỡi tự tử chết như bác Tư tôi vậy.

 

Lê Thiệp

Trích từ “Chân ướt chân ráo”
Do tủ sách Tiếng Quê Hương phát hành.