TỪ THÚ THƯỞNG THỨC TRẦM HƯƠNG Đ́N SỰ HÌNH THÀNH

HƯƠNG ĐẠO (KD) Ở NHẬT BẢN 

Vĩnh Snh

Mai sau d̀u có bao giờ
Đ́t lò hương ́y so tơ phím này.

Kiều

D lu năm d cũng thnh kỳ,
Đ kia lăn lc c khi thnh vng.

Ca dao

Cc chất liệu c hương thơm (香料hương liệu) nói chung thường lấy từ thực vật (hoa, tri cy, rễ cy, l cy, hay nhựa cy), động vật hay khong vật. Từ trước tới nay, loại hương liệu được yu chuộng nhất vẫn l cc thứ gỗ thơm (香木hương mộc). Quế (cinnamon) v trầm (aloeswood hay agalloch) l hai loại gỗ thơm tiu biểu của Việt Nam.

Theo ć học giả Phạm Hong Hộ, loại trầm thường thấy ở Việt Nam l do cy d bầu (aquilaria crassna) bị su ăn, tiết ra nhựa, đng cứng lại rồi lu năm mà biến thnh. Gỗ mang bộng nhựa của cy d c tỷ trọng lớn, thả vo nước sẽ  chm. Trầm chữ Hn c nghĩa l chm, v tn trầm bắt nguồn từ đ.

Tr̀m hương (沈香jink, sinking fragrance), theo định nghĩa của từ đỉn Kjien, là hương lịu thin nhin ĺy từ loại cy cao thường lục. Cy thục vùng nhịt đới Á chu, cao đ̣ chừng 10 mét, thn cứng và chìm dưới nước. Hoa màu trắng. Chn cy dưới đ́t, hoặc làm th́i ra, cy sẽ thành già la 伽羅có màu đen mướt, mùi thơm ưu vịt và giá ŕt đắt.[1]

Cy cao ở đy đúng là cy dó b̀u mọc trong những cánh rừng già.  Trầm hương chính l phần thn cy chứa nhiều nhựa thơm. Dó b̀u sống lu trở nn to lớn và thnh đại thụ.[2] Ca dao có nói: Dó lu năm dó cũng thành kỳ, nhưng ta c̀n nói thm là khng phải cy dó nào cũng thành tr̀m, may lắm mới có được. [3]

Kỳ nam được coi l loại trầm tốt nhất. Trầm khng c ở Nhật Bản v Trung Quốc m chỉ c ở Đng Nam . Kỳ nam đặc biệt chỉ c ở mìn Trung Việt Nam từ Thanh Hóa vào đ́n Khánh Hòa mảnh đ́t có cái tn h́p d̃n, nhưng đúng với sự tḥt, là Xứ trầm hương!

*

*                 *

Trầm ở cc tỉnh ở miền Trung nổi tiếng khắp thế giới với hương thơm tao nhã, thoát tục. Tài lịu xưa nh́t v̀ tr̀m hương của Nḥt Bản là Nihon Shoki (日本書紀Nḥt Bản thư kỷ; soạn xong năm 720 sau CN).

Theo sách này, vào năm 595 sau CN có khúc tr̀m tri dạt vào đảo Awaji-shima [Đạm-ḷ đảo], g̀n thành ph́ Kobe hịn nay. Khúc tr̀m này có chu vi là 1 mét 80. Cư dn trn đảo khng bít đó là tr̀m, đem ra đ́t đ̉ ńu ăn. Hơi khói xng ln thơm ngào ngạt và mùi hương tỏa ra xa. Dn ĺy làm lạ [nhưng đoán bít là quý], đem dng ln Thin hoàng [lúc này là Thin hoàng Suiko].[4] Khi đó, có Thái tử Shtoku[5] bít ngay là đó tr̀m hương (jink).

Chúng ta có th̉ phỏng đoán khúc tr̀m này đi từ mìn Trung (vào th́ kỷ VI thục Chămpa) và theo dòng nước ́m Kuroshio tri dạt ln phía Bắc đ̉ r̀i tạt vào Nḥt Bản. C̀n nói thm là dòng hải lưu Kuroshio này cũng bắt ngùn từ mìn Trung Vịt Nam.

 Khi mới du nhập vo ở Nhật Bản, trầm được dng trong cc tế lễ Thần đạo (Shinto/Shintoism) v Phật gio. Sau đó, tr̀m hương ngày càng đóng vai trò trọng ýu trong các bủi l̃ Pḥt giáo. Bước sang thời Nara (710-794 sau CN), nghi thức này được trở thành bủi l̃ có tính cách qúc gia và còn típ tục mãi cho đ́n Minh Trị Duy Tn (1868).

Điều t người ch l vai tr quan trọng của trầm hương trong lịch sử giao lưu giữa Việt Nam v Nhật Bản. Kỳ nam được xem là đi từ vùng đ́t nay là Vịt Nam, thường được người Nḥt gọi là kyara伽羅

Theo Nakata Kyzabur thục cng ty Baieid (Mai-Vinh Đường), sáng ḷp từ năm 1657, tn kỳ nam nguyn là tíng Chămpa bởi Chămpa là những người đi bun kỳ nam từ lúc ban đ̀u. Tn kỳ nam là t̉ng hợp của tíng Phạn (Sanskrit) kara nghĩa là màu đen, và chữ bak tíng Tàu nghĩa là cy, g̃ (ṃc).[6] Với sự t̉ng hợp của hai ngn ngữ, chúng ta có từ kalambak, r̀i d̀n dà từ này được rút ngắn lại đ̉ trở thành kỳ nam, tức là g̃ đen,[7] như chúng ta có ngày nay.

Cũng c̀n nói thm là khng phải ngẫu nhin m loại trầm đặc biệt ny c gốc từ tiếng Phạn, bởi lẽ con đường tơ lụa trn biển (Sea Silk Road) cũng chnh l con đường truyền b Phật gio từ Ấn Độ, v trầm kỳ nam đ đi theo con đường đ cng với Phật gio. Chămpa thuở ́y cũng chịu ảnh hưởng của văn minh ́n Đ̣, thay vì văn minh Trung Hoa như Vịt Nam.

C kh nhiều giai thoại về sự đam m trầm kỳ nam của cc nhn vật  lịch sử ở Nhật Bản. Ở Shsin (正倉院 Chính Thương Vịn) nh lưu trữ cc bảo vật v kinh điển Phật gio toạ lạc trong khun vin cha Tdaiji (東大寺 Đng Đại Tự) ở Nara c một khc trầm kỳ nam gọi l Ranjatai (蘭奢待  Lan xa đi) di chừng 1 mt rưỡi. Cả ba nhn vật gp phần vo cng cuộc nhất thống Nhật Bản vo cuối thế kỷ XVI l Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi v Tokugawa Ieyasu đ từng lăm le dm ng khc trầm được xếp vo hng linh bảo ny. Chắc hẳn bảo vật ny được xem l một biểu tượng của uy quyền. Tương truyền Nobunaga cho người đẽo hai miếng, mỗi miếng di chừng 40 phn; một miếng dng thin hong, một miếng dùng đ̉ xng ln trong những buổi úng tr đạo. Hideyoshi hnh như cũng bắt chước Nobunaga cho người đến đẽo v nh thin ti qun sự ny cũng thch giao du với cc tr nhn. Người ta tin rằng khúc Ranjatai này đã do Thin hoàng cúng cho chùa Tdaiji vào năm 756. Hịn nay, Ranjatai có th̉ xem cứ m̃i 10 hay 15 năm qua trỉn lãm của Shsin ở Vịn Bảo tàng Qúc gia tại thành ph́ Nara. Khúc Ranjatai này theo Yoneda Kaisuke, ṃt chuyn gia v̀ tr̀m hương thục Vịn Bảo tàng Osaka, đoán định là đã đi từ Lào hoặc Vịt Nam.[8]   

Ring về Tokugawa Ieyasu vị shgun (tướng qun) đầu tin của chnh quyền Tokugawa tuy người ta biết chắc l Ieyasu c sai người vo xem khc trầm Ranjatai, nhưng khng ai biết r l ng ta c cho đẽo đem về hay khng. Tuy nhin, qua những văn thư m hiện nay cn lưu lại, chng ta biết r l Ieyasu rất m thch trầm v đ từng gửi thư cho quốc vương Chămpa v cha Nguyễn xin gửi trầm kỳ nam.

Thư của Tokugawa Ieyasu gửi quốc vương Chămpa năm 1606 có ghi r : Chúng ti muốn c trầm loại thượng hảo hạng. Những loại c phẩm chất vừa vừa hay dưới trung bnh th xin đừng gửi v chúng ti đ c nhiều lắm rồi.[9] Qua văn thư, chng ta cũng biết rằng t nhất trong hai năm 1605 v 1606, cha Nguyễn Hong đ gửi một số tặng vật đp lễ cho Tokugawa Ieyasu, mỗi lần gồm 1 miếng trầm kỳ nam, cả hai l̀n m̃i l̀n ṃt cn. Trước đó, vào đời Genroku (Nguyn Lục), tức là từ 1592 đ́n 1595, chúa Nguỹn đã gửi tặng Nagasaki Bugy (ṃt chức gíng như Tŕn thủ) nửa cn kỳ lam và những tặng ph̉m khác. Một chi tiết th vị v c nghĩa l trong danh sch cc tặng phẩm giữa cc nước Đng , trầm lun lun được liệt k đầu tin và tr̀m thường được xem là ṃt ṿt tặng quý giá trong quan ḥ ngoại giao với Nḥt Bản và Trung Hoa.[10] Sau khi Ieyasu mất, nghe ni trong cc di vật của ng c đến hơn 100 kil trầm kỳ nam v hơn 180 kil cc loại trầm khc. Điều ny cho ta thấy Ieyasu đ thch thú thưởng thức trầm hương đến mức độ no.

Theo nghin cứu của Ogura Sadao, trầm l mặt hng Nhật Bản nhập khẩu từ cc nước Đng Nam (Việt Nam, Cămpuchia, Siam [nay là Thi Lan], Borneo, v.v.) trong thời kỳ giao thương bằng thuyền bun c giấy php chu ấn (Shuinsen 朱印船) vo cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII m hiện nay Nhật Bản vẫn cn tiếp tục nhập khẩu. Theo Ogura, lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu từ Việt Nam chiếm 70% tổng số lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu vo thời chu ́n, v cho đến năm 1987, lượng trầm Nhật Bản từ Việt Nam l 16 tấn, vẫn chiếm khoảng 50% tổng số lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu (khoảng 32 tấn).

Tuy trong quá khứ, Vịt Nam và In-đ-n-xi-a đóng vai trò quan trọng trong vịc xút kh̉u tr̀m sang Nḥt, hịn nay vai trò đó được thay th́ bởi Hong Kong, Singapore, và Thái Lan.

*

*                 *

So với cc nghệ thuật nổi tiếng của người Nhật như tr đạo (sad), thư đạo (shod; tức ngḥ thụt vít chữ Hán), kiếm đạo (kend), võ sĩ đạo (bushid) hoặc nhu đạo (jud), kd (香道hương đạo) t được người nước ta biết đến. Một điều th vị l ngay ở Nhật Bản cũng khng mấy ai bít l lịch sử Kd cn ghi d́u mối giao lưu giữa mảnh đ́t mìn Trung với Nhật Bản từ thuở xa xưa.

Kd (Way of incense / Voie de lencens) l nghệ thuật thưởng thức trầm hương, ni nm na l ngḥ thụt ngửi mi trầm hương một nghệ thuật độc đo chỉ thấy ở Nhật Bản chứ khng c ở cc nước khc. Mặc dầu đến thế kỷ XV Kd mới được định hnh, nhưng trn thực tế th thưởng thức tao nh ny đ bắt nguồn từ khi Phật gio du nhập vo Nhật Bản từ khoảng thế kỷ VI.

Trong những bủi l̃ Pḥt giáo, l̃ quan trọng nh́t thường được dng bằng tr̀m hương. Từ 1500 năm trước, dng tr̀m hương là l̃ cúng dường đ̉ lau sạch các tượng Pḥt, hoặc khi các sư tăng tụng kinh.     

Đ́t tr̀m ở chùa Tdaiji, Nara, Nḥt Bản

Dần d, mi hương trầm thanh nh ngy cng được người Nhật yu chuộng, giới qu tộc ở Kyoto thời Heian (794-1185) thch đốt trầm trong nh cho thơm nh thơm cửa v thơm y trang. Theo đ pht triển của th chơi đốt trầm ny (người Nhật gọi l sora-dakimono空炊きもの), cc cuộc thi đấu trầm gíng như thi lm thơ hay thi cắm hoa được tổ chức để định loại trầm no c mi hương tao nh nhất.

Những ch́t lịu dùng làm sora-dakimono là các ṿt lịu còn tươi tắn của y học truỳn th́ng. Thú đ́t tr̀m d̀n dà khng những ph̉ bín trong giới quý ṭc mà người thường cũng đua nhau phỏng đoán loại nào thơm nh́t và những đỉm đặc bịt giữa các loại tr̀m hương.

Với sự ra đời của chnh quyền của giai cấp v sĩ (samurai) vo cuối th́ kỷ XII, ảnh hưởng của Thiền đối với văn ha người Nhật ngy cng đậm nt. Do ảnh hưởng của thú tr̀m hương đời T́ng (Trung Qúc), người Nḥt Bản chuỷn sang nerik (煉り香) với cách thức tṛn l̃n tr̀m hương với nhau gíng như jink lúc ban đ̀u. Với cách thức này, nghệ thuật thưởng thức bằng cách ngửi mùi trầm hương (聞香bunk hay monk, tức văn hương) tín thm ṃt bước nữa đ̉ r̀i được định hình dưới dạng Kd (hương đạo) vào đời Muromachi (1336-1573).

Từ lúc này, th chơi đốt trầm sora-dakimono t nhiều mang vẻ ho nhong, được thay thế bằng cch thưởng thức hương trầm trong khng kh u huyền tĩnh mịch ph hợp với đời sống tinh thần hướng nội v thức mỹ học thấm đượm Thiền vị của người v sĩ.

Tr̀m hương Rikkoku (Sáu nước)

Theo Kd, mùi tr̀m hương từ đó được phn loại thành ngũ vị lục qúc (五味六国, tức là năm mùi vị và sáu nước) . Năm mùi vị là ngọt, chua, cay, mặn, và đắn. Sáu nước nói nm na là sáu nơi sản xút tr̀m hương; đó là Kyara, Rakoku, Manaban, Manaka, Sasora and Sumatora. Theo cách phn chia của những người sành địu tr̀m hương do Shgun Ashikaga Yoshimasa (1436-1490) b̉ nhịm, sáu nước đó là :

Kyara (伽羅 Già la) Như đã nói ở trn, chữ kara có ǵc là tíng Phạn, nghĩa là đen. Loại t́t nh́t trong tr̀m hương, có mùi hương tao nhã. Chỉ có ở Vịt Nam.

Rakoku (羅国 La Qúc) Mùi hăng vị đắng, mặn và cay. Chỉ có ở Thái. 

Manaban (真南蛮 Chn Nam Man) Có nhìu hương và nhựa, vị g̀n như ngọt, nhưng khng có vẻ đỉm trang. Có ở mìn Đng của ́n Đ̣, hoặc giữa Mã Lai và ́n Đ̣. 

Manaka (真那伽 Chn Na Già) Trong những hương thơm, đy có lẽ mùi hương nhạt nh́t. Có ở Malacca (Malaysia). 

Sasora (佐曾羅 Tá Tăng La) Có mùi hương nhẹ. Với ṃt loại sasora t́t, người ta d̃ tưởng l̀m là kyara, đặc bịt khi mới đ́t. Có ở mìn Ty ́n Đ̣.

Sumatora (寸聞多羅 Th́n Văn Đa La) Ŕt nhìu nhựa và có vị chua. Có nhìu ở Sumatra (In-đ-n-xi-a).[11]  

Dưới đời Muromachi, nghệ thuật thưởng thức trầm hương bắt đầu pht triển song song với nghệ thuật uống tr.

Nhiều loại thi đấu c nội dung v hnh thức khc nhau đua nhau ra đời. Trước hết l cc cuộc đấu tr (tcha闘茶) đi hỏi người tham dự đon định phẩm chất cc loại tr. Sau đ, người ta tổ chức cc buổi thi đấu cả tr lẫn trầm nhằm xem ai c thể phn biệt được 10 loại tr v 10 loại trầm khc nhau. Trong cc buổi thi phn định hương trầm, người tham dự được chia lm hai nhm, thi nhau đon xuất xứ, lai lịch, đặc tnh của từng loại trầm nổi tiếng, chẳng hạn như mi hương, ln khi bốc ln c hnh dạng như thế no, v.v...

Dần d, ngoi khả năng thưởng thức hương trầm, người thi đấu cn phải c kiến thức văn ho v khả năng cảm thụ mỹ học ni nm na l khả năng cảm nhận những ci g đẹp. Trước mặt người đến xem, trầm sẽ được xng ln từ loại ny đến loại khc, giống như những vế khc nhau trong một bi thơ renga (連歌lin ca). Mỗi lần trầm được xng ln, người dự thi phải lm một vế thơ tn thưởng mi hương đồng thời phải nhắc đng tn loại trầm vừa đốt. Cuối cng, người ta sẽ c một bi thơ renga nhiều vế về cc mi hương trầm trong cuộc thi.

Sự kết hợp giữa th thưởng thức tr̀m hương với khuynh hướng truy cầu những ci g đẹp, gọi chung là bi (mỹ) hay bigaku (美学mỹ học), trong truyền thống văn học Nhật Bản c thể ni l nhn tố quyết định sự hnh thnh của Kd.

Kd vừa phản nh chiều su văn ho của người thưởng thức, vừa thể hiện vẻ đẹp u nh của hương trầm, m cũng vừa c thể diễn tả nhiều chủ đề văn học khc nhau. Chnh v thế, Kd được xem l một nghệ thuật độc đo của Nhật Bản.

 

Đ̀u tháng 4, 2010

Vĩnh Snh


[1] Shinmura Izuru, Kjien (Quảng từ uỷn) (Tokyo: Iwanami Shoten, 1993), trang 1328.

[2] Xem Khanh Hoa Aquilaria Company, http://www.tramhuongkhanhhoa.com.vn/index.php/tramhuong/tramhuonglagi.

[3] Ngoài ra còn có cy chin đàn栴檀, chữ chin cũng có th̉ vít chữ Hán bằng ḅ phương thay vì ḅ ṃc . Hán Vịt Từ đỉn của Đào Duy Anh giải thích chin đàn là Ṃt loại g̃ thơmChin đàn tíng Phạn gọi là Candana, là ṃt loại cy có mùi hương ở ́n Đ̣ (Daijigen, Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 797). Từ đỉn này có cho bít thm xút xứ là ́n Đ̣; bởi ṿy khng phải ng̃u nhin mà trong kinh Pḥt, chúng ta th́y thường xút hịn chữ chin đàn.

Hoàng thn Min Th̉m, tức thi nhn Tùng Thịn Vương cũng có bài thơ chữ Hán v̀ cy chin đàn (Chin đàn thụ) như sau: Tuyệt hảo chin đn thụ / Phồn hương qunh bất quần / Hận cừ thin tnh biệt / Chỉ tại nghịch phong văn. Nguỹn Sĩ Đại dịch qúc văn ra là: Cy chin đn tốt tuyệt / Hương su vượt bọn bầy / Tinh đặc th, đng tiếc / Ngược gi th mới hay ! Có lẽ cy mà Hoàng thn Min Th̉m mún nói ở đy chính là cy dó b̀u, nhưng vì chữ Hán khng dùng chữ nm na như ṿy, mà già la hay kỳ nam (là chữ Hán) thì thời đó còn xa lạ quá với người Vịt !

[4] Xem bản dịch tíng Anh : Nihongi: Chronicles of Japan from Earliest Times to A.D. 697 (Nḥt Bản kỷ [hay Nḥt Bản thư kỷ] từ thời nguyn thủy đ́n năm 697 sau CN), translated from the original Chinese and Japanese by W. G. Aston. Tokyo: Charles E. Tuttle Company, 1980, II, 123.

[5] Tương truỳn là ṃt chính trị gia l̃i lạc của Nḥt Bản. Thái tử Shtoku đã đóng vai trò trọng ýu trong vịc củng ć vị trí của thin hoàng và típ thu Pḥt giáo.

[6] Tíng Bắc Kinh (pinyin) ṃc đọc là mu, trong trường hợp này người ta phát m theo giọng mìn Nam mới đọc là bak.

[7] Xem Baieido Ltd, http://www.japanese-incense.com/aloeswood.htm.

[8] Như trn.

[9] Trích lại từ Okura Tadao, Shuinsen jidai no Nihonjin (Người Nḥt Bản thời thuỳn chu ́n). Tokyo: Ch Kron Shinsho, 1989, trang 174.

[10] Như trn, trang 174-175.

[11] Xem Kaori no tech (S̉ tay v̀ hương thơm). Sheid Kabushiki Kaisha, 1991.