Hoàng Hạc Lâu



Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

Thôi Hiệu




Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Băi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai

bản dịch của Tản Đà




Hoàng Hạc Lâu

Người xưa cưỡi hạc đă cao bay,
Lầu hạc c̣n suông với chốn này,
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Ngh́n năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dầy.
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

bản dịch của Ngô Tất Tố





Hoàng Hạc Lâu

Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay măi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương c̣n nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán ?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi !

bản dịch của Vũ Hoàng Chương



ĐÔI GỈNG VỀ THI SĨ THÔI HIỆU ( Ts'ui Hao , Cui Hao):

Thi sĩ Thôi Hiệu ( 704? – 754) người Biện Châu ( hiện nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), đậu Tiến Sĩ niên hiệu Khai Nguyên (725, đời Đường Huyền Tông), làm đến chức Tư-huân viên-ngoại-lang. Thi sĩ Thôi Hiệu có bản tính lăng mạn, nhiều lần kết hôn và ly dị. Cùng thời với Vương Duy, ông gia nhập nhóm văn đoàn Kỳ Vương Lư Phạm. Thơ Thôi Hiệu phóng khoáng, tao nhă. Hai bài nổi tiếng của ông là khúc nhạc phủ Trường Can Hành và bài thơ Hoàng Hạc Lâu đă đưa ông lên đỉnh cao sáng chói của nghệ thuật thơ Đường.




GHI CHÚ CÁC ĐỊA DANH:

Hoàng Hạc Lâu: Lầu Hạc Vàng ở đầu cầu Vũ Xương, phía Tây Bắc phủ Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, bên sông Trường Giang.
Hán Dương: huyện Hán Dương thuộc tỉnh Hồ Bắc, ở phía nam sông Hán Thủy thành phố Vũ Hán ngày naỵ
Anh Vũ châu: cồn Anh Vũ giữa sông Trường Giang, phía bắc lầu Hoàng Hạc, phía Tây Nam thành phố Vũ Hán





TRUYỀN THUYẾT VÀ KIẾN TRÚC LẦU HOÀNG HẠC:

Theo sách Hoàn Vũ Kư, Phí Hôi từ lầu nầy cưỡi hạc vàng đi tu tiên. Sách Tề Hài Chí th́ ghi Vương Tử An thành tiên cưỡi hạc vàng bay ngang lầu nầy. Sách Nguyên Ḥa Chí th́ ghi lầu nầy được dựng trên mỏm đá có tên Hạc Vàng.
Theo truyền thuyết, khu đất lầu Hoàng Hạc cổ xưa vốn là một quán rượu của một người tên Tân. Một hôm có một vị thiền sư theo Lăo Giáo ghé quán nầy nghỉ chân, và được chủ quán mời rượu không tính tiền. Để đền ơn chủ quán, vị thiền sư vẽ h́nh một con hạc vàng lên bờ tường và khi vỗ tay khi con hạc nhảy múa rất đẹp mắt. Từ khi có hiện tượng kỳ lạ nầy, quán rượu thu hút rất nhiều khách thập phương và vị chủ quán trở nên giàu có. Khoảng 10 năm sau, vị thiền sư trở lại thăm quán rượu, lần nầy vị thiền sư thổi sáo và sau đó vỗ tay gọi cánh hạc bay ra và cưỡi lưng hạc về trời. Để ghi nhớ cảnh tượng kỳ lạ và cơ duyên trong việc gặp gỡ vị thiền sư huyền bí nầy, người chủ quán giàu có gọi nhân công xây một căn lầu gọi tên là Hoàng Hạc Lâu (lầu Hoàng Hạc). Theo sử liệu ghi chép th́ lầu Hoàng Hạc được xây vào năm 223 (AD) sau Công Nguyên . Sau khi hoàn thành xong th́ lầu Hoàng Hạc là nơi các vị hoàng tộc triều đ́nh và các văn thi sĩ, tao nhân mặc khách thường lui tới chốn nầy để ngắm cảnh và làm thơ. Theo tài liệu văn học Trung Quốc th́ có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng chỉ có bài thơ của Thi Sĩ Thôi Hiệu là xuất sắc nhất, phổ thông nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền măi cho đến ngày nay.





Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy được làm bằng gỗ, sau khi bị hỏa hoạn nhiều lần, lầu được trùng tu lại nhiều lần. Công việc trùng tu được bắt đầu từ năm 1981, và hoàn thành năm 1985, và cũng trong năm này được mở ra cho công chúng vào thăm viếng. Hoàng Hạc Lâu nguyên thủy là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Lầu Hoàng Hạc ngày nay trông lộng lẫy hơn, gồm năm tầng, cao 51.4 mét (cao hơn kiến trúc cũ 20 mét). Tầng thấp nhất có kích thước 20 mét mỗi bề (lầu cũ chỉ có 15 mét), nên du-khách biết ngay đây là một kiến trúc xây lại hoàn toàn mới, chứ không phải tu bổ từ căn lầu cũ. Tuy lầu Hoàng Hạc mới được xây lại dựa trên quan điểm thẩm mỹ hiện đại và kỹ thuật kiến trúc tân thời, nhưng vẫn c̣n giữ lại những đặc tính văn hóa và nét đẹp cổ truyền của lầu Hoàng Hạc cổ xưa.
Lầu Hoàng Hạc đă được nhiều thi-văn-sĩ đến thăm viếng cảnh và đề thơ. Học giả Trần Trọng San đă ghi chép: "Trong số những câu đối đề lầu Hoàng Hacï, câu sau nầy được coi là hay nhất, v́ có t́nh thú đậm đà, dùng được nhiều chữ trong thơ xưa liên hệ với lầu nầy, miền nầy:

Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiêu châu chử thiên niên mậu thảo;
Đản kiến bạch vân phi khứ, dữ thùy xuy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa.





Bao giờ hạc vàng trở lại, hăy cùng rót chén vàng, tưới cỏ tươi ngàn năm trên băi;
Chỉ thấy mây trắng bay đi, với ai thổi sáo ngọc, mai tháng năm rụng xuống thành sông."

Trích "Hoàng Hạc Lâu" (Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng) của Hải Đà - Vương Ngọc Long



Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
TTY




Thơ gởi TH

Riêng về Colombo

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu"(*)
Ngồi buồn vớ vẩn nghĩ đâu đâu
" Gác Hoàng hạc"(**) lôi ra họa vận
Quân tử khó,bên trời lận đận
Quân tử cùng ,tuổi sắp quy tiên
Nhớ bạn rầu rĩ kinh niên
Muốn thămm nhưng túi không tiền,tính sao ?
Họa rằng::
Tổng hội ǵờ ở nơi nào
Phù Tang một băi âu sầu nằm trơ
Bạn bè đôi ngả xác xơ
Kẻ Âu người Úc,bao giờ gặp nhau
Nghĩ thân tầm gửi mà rầu
Cũng ta đành đoạn qua cầu nước tuôn
Quê xưa hun hút dặm ṃn
Bữa rau bữa cháo thêm buồn ḷng aỉ

Vũ Quyên

(*) Hai câu cuối trong bài Hoàng hạc lâu
cuả Thôi Hiệu

(**) Gác Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Băi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai

bản dịch của Tản Đà

_________________
VuQuyen


(bài đă posted trên [Diễn Đàn] của ERCT ngày 23/10/2005)