Chủ nghĩa Xă hội Việt Nam:
di sản và đổi mới

 

Thay lời Toà soạn

Báo Đoàn kết (Paris)

Nguyễn Trọng Nghĩa

 

Những ai có theo dơi đời sống văn học ở miền Nam trong những năm 60 đều biết đến Lữ Phương, một nhà lư luận và phê b́nh có tên tuổi. Qua những bài báo của ông, người ta thấy rơ ảnh hưởng của biện chứng pháp mác-xít. Sau Tết Mậu Thân, ông tham gia Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Ḥa b́nh Việt Nam và giữ chức Thứ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Sau 1975, ông trở về với công việc nghiên cứu.

Bài “Chủ nghĩa xă hội Việt Nam: di sản và đổi mới” dưới đây, mà ông cho đăng trong mục diễn đàn của tạp chí Phát Triển Kinh Tế số tháng 5-90, đă gây xôn xao không ít trong dư luận Việt Nam, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói đây là lần đầu tiên một nhà mác-xít Việt Nam tŕnh bày một cách có hệ thống và đặc biệt cô đọng những suy nghĩ, những điều tâm đắc của ḿnh, không hẳn là độc đáo và mới mẻ lắm, về chủ nghĩa xă hội mác-xít trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Những nhận xét của ông về cốt lơi những đóng góp lư luận của Mác, Lênin, Stalin có tính cách thuyết phục. Theo ông, nếu học thuyết của Mác chủ yếu là sự phê b́nh chủ nghĩa tư bản, nếu Lênin trước hết là lư thuyết gia của “một đảng cộng sản kiểu mới có lư thuyết chặt chẽ, tổ chức thép, lănh đạo quần chúng để cướp chính quyền” trong những nước “lạc hậu, nghèo nàn” “chưa có chủ nghĩa tư bản hoặc chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển”, th́ Stalin mới chính là người đă tạo ra mô h́nh chủ nghĩa xă hội nhà nước độc quyền, trong đó Đảng đồng hóa với nhà nước và nhà nước, thay v́ tiêu vong như Mác và Lênin đă chờ đợi, sẽ trở thành tuyệt đối, vĩnh cửu. Chuyên chính vô sản được giản lược vào sự chuyên chính của một nhóm người hay của một người. Trong mô h́nh đó, người ta “nhân danh hạnh phúc của con người để tạo ra chiến tranh thường trực với con người”; kẻ thù hiện diện khắp nơi: ngoài nước, trong nước, trong Đảng và ngay trong cả mỗi người. Chính mô h́nh Stalin đó là nguyên nhân thâm sâu của sự khủng hoảng hiện nay của chủ nghĩa xă hội hiện thực.

Riêng ở Việt Nam, Đảng cộng sản đă dành được chính quyền v́ họ “đă đề xuất được một phương hướng đấu tranh rất có hiệu lực” nhằm thực hiện hai khát vọng sâu xa nhất của mọi người dân là độc lập dân tộc và phát triển xă hội. Thế nhưng, khi bước sang thời kỳ xây dựng ḥa b́nh, mô h́nh được đem ra thực hiện lại chính là “mô h́nh Stalin phương Đông là Mao Trạch Đông”, mô h́nh này đă “nhà nước hóa toàn diện đời sống xă hội, xóa bỏ mọi sinh hoạt dân chủ của xă hội công dân”, tạo ra “một bộ máy quan liêu khổng lồ”, “đóng cửa lại với thế giới tư bản” v́ “chỉ biết có “phe ta””, đưa tới sự tŕ trệ, lười biếng, vô trách nhiệm đối với toàn xă hội, khiến “dân tộc vẫn ch́m đắm trong lạc hậu, nghèo nàn”…

Vấn đề đặt ra là đi t́m một mô h́nh mới về chủ nghĩa xă hội trong thời b́nh chứ không phải là “làm trong sạch Đảng bằng “giáo dục” hoặc trừng trị” (về việc “giáo dục”, tưởng cũng không nên quên câu viết nổi tiếng của Mác: “Phải giáo dục những nhà giáo dục!”).

Muốn thế, Lữ Phương cho rằng trước hết cần “tạm gác” tất cả những kết luận về chủ nghĩa xă hội mà Mác, Lênin (nhất là Stalin) đă đưa ra. Một quan niệm mới về chủ nghĩa xă hội cần được xây dựng trên nguyên lư: “ưu tiên bảo vệ con người trong quá tŕnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa xă hội”. Ông cũng đưa ra một số tiền đề căn bản sau đây:

- Từ bỏ ư định “phất cờ”, “chính sách đóng cửa, tự lực cánh sinh theo lối cũ”.

- “Từ bỏ những phương pháp cách mạng và bạo lực”.

- “Từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp”.

- “Thể hiện chuyên chính bằng hiến pháp và pháp luật”.

- “Thực hiện tam quyền phân lập”, “xây dựng nhà nước pháp quyền”, “nền móng để giải quyết vấn đề đa nguyên, đa đảng”.

- Đảng cộng sản “phải giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, trở về xă hội công dân, tự đặt ḿnh trong pháp luật, b́nh đẳng với mọi tổ chức chính trị xă hội khác, từ đó khẳng định lại năng lực và phẩm chất của ḿnh”.

Tóm lại, ông cho rằng phải thực hiện những chủ trương đă được cụ Hồ đề ra cách đây gần đúng 45 năm trong Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định quyền của người Việt Nam được sống tự do, hạnh phúc như ở nhiều xứ khác trên thế giới vào cuối thế kỷ XX kỳ diệu này.

 

Đoàn kết số 425, tháng 7/8 năm 1990

 

***

 

Chủ nghĩa Xă hội Việt Nam:

DI SẢN VÀ ĐỔI MỚI

Lữ Phương

 

Về Mác và Lênin

 

Bấy lâu nay, chúng ta thường đưa ra khẩu hiệu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội” với niềm tin: nếu nhờ vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta đă đánh thắng được các đế quốc, th́ sau khi đánh thắng đế quốc rồi, nhờ vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xă hội. Niềm tin ấy càng vững mạnh khi xung quanh chúng ta là hệ thống các nước xă hội chủ nghĩa, có khá nhiều kinh nghiệm với khá nhiều quy luật đă định h́nh.

Tất cả những điều đó, giờ đây khi suy nghĩ lại cặn kẽ, đă tỏ ra không được vững vàng: chủ nghĩa xă hội theo như những điều mà chúng ta đă hiểu và đă làm, sau một thời gian dài đem ra thực nghiệm trên thế giới, đang rơi vào t́nh thế khủng hoảng trầm trọng. Dưới ánh sáng của thực tiễn th́ rơ rệt là vấn đề cách mạng, vấn đề chiến tranh giải phóng và vấn đề xây dựng một xă hội kinh tế, xây dựng một nhà nước xă hội chủ nghĩa là hai vấn đề không hoàn toàn giống nhau về chất. Trong thực chất của nó, cái mà chúng ta thường gọi là học thuyết mácxít về kinh tế chỉ là sự phê phán của Mác về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, c̣n về việc xây dựng cho bản thân nền kinh tế xă hội chủ nghĩa, sau khi đă có được chính quyền, th́ lại tỏ ra không hoàn toàn rơ rệt: đó mới chỉ là những phác thảo mang tính định hướng lô-gích mà Mác đă dùng phép biện chứng để suy ra trong khi phê phán chủ nghĩa tư bản và tất cả những điều đó cũng đă được đặt trên cơ sở của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XIX với những mâu thuẫn nội tại tưởng chừng như phải nổ bùng bằng cách mạng. Nhưng khi Lênin tiếp thu chủ nghĩa Mác th́ bản thân những mâu thuẫn ấy đă được xoa dịu đi trong chính những nước tư bản mà Mác đă phê phán, để rồi được ném vào những vùng ngoại vi của chủ nghĩa tư bản khi chủ nghĩa tư bản đă biến thành chủ nghĩa đế quốc. Với tư cách là một người làm chính trị đầy tài năng, Lênin đă nhận định rằng cách mạng đă chuyển vùng và những người theo chủ nghĩa Mác không thể không nắm lấy cái khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc để tiến hành cách mạng. Và quả thật là cách mạng đă nổ ra ở các vùng đất chứa đầy lạc hậu, nghèo nàn chưa có chủ nghĩa tư bản hoặc chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển. Và chính Lênin là người mở đầu cho thời kỳ mới ấy với một hệ thống quan điểm về chiến lược và sách lược tranh đấu cùng với học thuyết xây dựng một đảng cộng sản kiểu mới có lư thuyết chặt chẽ, tổ chức thép, lănh đạo quần chúng để cướp chính quyền. Chủ nghĩa Mác, trong sự tiếp thu trong thực tiễn của Lênin, chủ yếu vẫn là học thuyết về cách mạng, về chuyên chính vô sản.

Tuy vậy, khi theo dơi tư tưởng của Lênin trước và sau cách mạng Nga, chúng ta thấy quan điểm của ông không phải lúc nào cũng giống nhau. Trước cách mạng, ư kiến của ông về nhà nước chuyên chính vô sản là hoàn toàn nhất trí với Mác khi tổng kết về Công xă Paris 1871: giai cấp vô sản có thể hoàn toàn kiểm soát được nhà nước của ḿnh bằng những biện pháp dân chủ trực tiếp (đại biểu do đầu phiếu phổ thông có thể bị băi miễn bất cứ lúc nào, lương ngang với công nhân để tránh đặc quyền, cảnh sát bị tước tất cả chức năng chính trị và cũng có thể bị băi miễn bất cứ lúc nào, c̣n quân đội nhà nghề th́ bị giải tán và thay bằng chế độ vũ trang toàn dân…)[1], và do đó giai cấp vô sản có thể sử dụng được nhà nước ấy như là công cụ của ḿnh để quản lư xă hội, quản lư sản xuất. Chủ trương của Mác về tính chất hành động chứ không phải là nghị trường (không cần thực hiện tam quyền phân lập) của một nhà nước như vậy tất yếu có nghĩa rằng nhà nước đó là một nhà nước cách mạng, lập ra trong thời kỳ cách mạng. Lênin đă tiếp thu mô h́nh Công xă Paris do Mác tổng kết, để lập ra những xô-viết, trong thời kỳ cách mạng và cả sau cách mạng, cũng với niềm tin giai cấp vô sản sẽ có thể làm chủ được nhà nước đó để xây dựng xă hội mới.

 

Lênin và chủ nghĩa xă hội hiện thực

 

Nhưng thực tế đă không diễn ra suôn sẻ như những tin tưởng của Lênin. Giai cấp vô sản ở một nước chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển như nước Nga, vốn đă không nhiều, sau một thời gian cách mạng và nội chiến lại càng teo tóp lại v́ nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa bị suy sụp, trong khi đó th́ những người cộng sản, tuy đầy nhiệt t́nh (kể cả nhiệt t́nh làm “cách mạng thế giới”) nhưng lại thiếu văn hóa, thiếu kiến thức về xây dựng và đă bị lọt thơm vào cái biển những người tiểu tư sản vốn quen sống hỗn loạn, vô chính phủ. Chính v́ vậy mà sau khi thực hiện không thành công bước đi trực tiếp vào chủ nghĩa xă hội bằng mô h́nh chủ nghĩa xă hội thời chiến, ông đă chuyển sang đi đường ṿng bằng Chính sách kinh tế mới (NEP), mà cơ sở lư luận của chính sách này là: giai cấp vô sản liên minh với giai cấp tư sản chống giai cấp tiểu tư sản, thực hiện chủ trương nổi tiếng của ông về một thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt, trong đó ông gọi “nhà nước là chúng ta[2] (giai cấp vô sản). Nói cách khác, vấn đề xây dựng kinh tế, trong quan niệm của Lênin, vẫn chỉ là vấn đề cách mạng, là sử dụng những Nepmen để giải quyết những khó khăn trước mắt, là một “bước lùi” cần thiết để giải quyết t́nh h́nh trầm trọng. Hiểu điều này người ta mới hiểu được tại sao nhà nước của Lênin vẫn không phải là nghị trường, vẫn không tam quyền phân lập, v́ đó vẫn là nhà nước cách mạng, coi luật pháp là công cụ của cách mạng, một nhà nước chuyên chính cách mạng “không bị giới hạn bởi luật pháp nào cả[3]. Thật sự th́ trong dự tính của ḿnh, Lênin đă ước đoán rằng t́nh h́nh ấy chỉ kéo dài khoảng 15 hay 20 năm; v́ vậy trong khoảng thời gian ấy vấn đề tập trung sức lực của nhà nước để tổ chức và động viên quần chúng xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xă hội đă trở thành vấn đề mấu chốt. Vấn đề chính trị, cách mạng  ở đây phải  trở thành vấn đề hàng đầu. Và đó cũng chính là ư nghĩa của công thức của Lênin về vấn đề xây dựng chủ nghĩa xă hội ở một nước lạc hậu nghèo nàn: chủ nghĩa xă hội là chính quyền xô-viết cộng với điện khí hóa, trong đó chính quyền xô viết được coi như cái đă có để  thực hiện cái chưa có (công nghiệp hóa).

So với cách quan niệm của Mác về cách mạng vô sản th́ luận điểm trên đây của Lênin là những kết luận về xây dựng chủ nghĩa xă hội đă bị đảo ngược: cách mạng vô sản của Mác chỉ là việc chấm dấu chấm trên cái thân của chữ i đă hoàn thành (kinh tế tư bản chủ nghĩa) để chuyển sang một h́nh thái kinh tế xă hội mới thông qua một giai đoạn quá độ tạm thời gọi là “cải biến cách mạng” chủ yếu là cưỡng chế không cho tàn dư xă hội cũ trỗi dậy [4]; c̣n cách mạng vô sản của Lênin th́ lại chấm cái chấm (cách mạng vô sản) để sau đó sẽ tạo ra cái thân cho chữ i (kinh tế) và coi cả thời kỳ xây dựng này là giai đoạn quá độ. Và đó chính là vinh quang nhưng đồng thời cũng là bi kịch của Cách mạng tháng Mười Nga. Trong quá tŕnh thực hiện, không phải Lênin không nhận ra điều này: “Cứ lao vào đi rồi sẽ thấy” (On s’engage et puis on voit) – câu nói của Napoléon mà Lênin đă dẫn ra vào những ngày cuối đời để trả lời cho luận điểm “đợi chờ” của những người dân chủ-xă hội đă phản ánh điều đó[5]. Cái mà nước Nga lao vào th́ rất rơ: nhà nước chuyên chính vô sản đă thành lập, c̣n cái “sẽ thấy” th́ lại không lấy ǵ làm sáng sủa lắm: tất cả đều tỏ ra “cách mạng ghê gớm”, nhưng rút lại chỉ là huênh hoang, vội vă, hấp tấp, bị chủ nghĩa quan liêu đóng cáu lại, và cái nhà nước mà những người cộng sản đă tạo ra suốt 5 năm (1918-1923) cũng chỉ là một hoạt động vô hiệu, thậm chí “vô ích”, hay thậm chí “c̣n có hại là khác” – đó chính là những lời mà Lênin đă đọc cho thư kư ghi chép để đăng báo ngày 2.3.1923, khi nằm trên gường bệnh để sau đó khoảng một năm th́ mất[6]. Ở Lênin tất cả đều không đơn giản v́ ông là người rất ghét những cái giáo điều: ông vẫn tin tưởng sắt đá vào cách mạng nhưng cũng rất tỉnh táo để nhận ra bóng ma của một nhà nước quan liêu có sức bóp nghẹt toàn bộ sự sống của xă hội công dân đă bắt đầu xuất hiện. Ông đă nhận thấy rất rơ thực tế ấy và trước đó đă từng đề xuất khá nhiều ư kiến để chế ngự nó (ư kiến của ông về công đoàn, về dự tính đưa cả những Nepmen vào tham gia nhà nước, về những biện pháp nâng cao văn hóa cho những người cộng sản, v.v.); nhưng chưa có đủ thời gian nh́n rơ vấn đề một cách triệt để hơn th́ ông đă mất và để lại toàn bộ di sản cho Stalin giải quyết.

 

Stalin và chủ nghĩa xă hội nhà nước độc quyền

 

Và Stalin đă giải quyết vấn đề này một cách đơn giản hơn Lênin nhiều, bởi v́ Stalin cũng đă đơn giản hóa Lênin đi rất nhiều. Tất cả những ǵ mâu thuẫn, phức tạp, dằn vặt trong Lênin, nhất là những phát biểu mang tính chất di chúc của Lênin, đều đă bị Stalin gạt bỏ và chỉ giữ lại những ǵ cần thiết, đông đặc một khối, để tạo ra cái mô h́nh chủ nghĩa xă hội kiểu Stalin: mô h́nh chủ nghĩa xă hội nhà nước độc quyền. Luận điểm “bạo lực như một tiềm năng kinh tế” mà Mác đă dùng để phê phán thời tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản[7] và sau này đă được Ănghen nhắc lại trong một viễn cảnh rộng răi hơn[8], luận điểm ấy đă được Lênin sử dụng để biểu thị cho ư chí và kỷ luật trong xây dựng[9] th́ ở Stalin đă biến thành sự cưỡng chế tuyệt đối của nhà nước tập quyền. Với một nhà nước như vậy – và Đảng đă đồng hóa với nhà nước – th́ cũng hoàn toàn không c̣n xă hội công dân và cũng không c̣n bất cứ một sinh hoạt dân chủ thực tế nào của xă hội công dân: tất cả đều từ trên đưa xuống bằng chỉ thị và mệnh lệnh. Nhà nước, trái với dự kiến của Mác sẽ tiêu tan dần trong quá tŕnh xây dựng chủ nghĩa xă hội, th́ trong mô h́nh của Stalin đă trở thành thực thể tồn tại tự thân, vượt lên trên tất cả để trở thành Lịch sử: chuyên chính vô sản không c̣n là chuyên chính của một giai cấp mà đă trở thành chuyên chính của Đảng, và cũng không phải là chuyên chính của Đảng mà là chuyên chính của Trung ương Đảng, và cũng không phải chuyên chính của Trung ương Đảng mà là chuyên chính của một nhóm người, cuối cùng là chuyên chính của một người. Bằng bạo lực gọi là cách mạng, Stalin đă công nghiệp hóa được Liên Xô, nhưng cái giá phải trả cho nền công nghiệp ấy thật là khủng khiếp, v́ nó đă được lót bằng sinh mệnh hàng triệu triệu con người và được lót cả bằng sinh mệnh của chính bản thân chủ nghĩa xă hội mácxít nữa. Thực chất của cái mô h́nh công nghiệp hóa ấy chẳng khác ǵ với cái thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản, là dùng bạo lực nhà nước như công cụ để rút ngắn thời gian tích lũy, là một nền sản xuất không màng đến người tiêu thụ, và cũng là sự hy sinh toàn bộ các quyền tự nhiên sơ đẳng của con người. Với một nghịch lư lạ lùng này: nhân danh cho hạnh phúc vĩnh viễn của con người. Và cũng chẳng phải như thế mà thôi: đó là một mô h́nh nhân danh hạnh phúc của con người để tạo ra chiến tranh thường trực với con người, trong cuộc chiến tranh ấy không lúc nào vắng bóng h́nh ảnh kẻ thù: kẻ thù ngoài nước, kẻ thù trong nước; khi kẻ thù thực tế đă bị thanh toán rồi (giai cấp tư sản, bọn phản cách mạng, bọn kulac…) th́ phải h́nh dung ra những kẻ thù tiềm ẩn (bọn gián điệp, bọn bất đồng chính kiến…). Kẻ thù ấy có thể là bất cứ ai: trong Đảng, trong Trung ương Đảng, trong Bộ chính trị – tất cả đều có thể là “kẻ thù của nhân dân”. Mô h́nh chủ nghĩa xă hội đó hoàn toàn đi ngược lại những nguyên lư của bất cứ chủ nghĩa xă hội nào có mục đích giải phóng con người, nhất là giải phóng con người một cách hiện thực như trong chủ nghĩa xă hội mácxít. Và đó chính là nguyên nhân thâm sâu tạo ra sự khủng hoảng cho chủ nghĩa xă hội thực tế – nhen nhúm từ lâu và ngày nay mới bộc ra dữ dội – chứ không phải là cái ǵ khác. […]

 

Mô h́nh Stalin và thực tiễn cách mạng Việt Nam

 

Theo chỗ suy nghĩ của tôi, sở dĩ chủ nghĩa Lênin (nói chung là Mác-Lênin, nhưng chủ yếu là chủ nghĩa Lênin) vận dụng thành công vào những nước lạc hậu nghèo nàn – cái vùng ngoại vi của chủ nghĩa tư bản như đă nói – v́ chủ nghĩa ấy đă đề xuất được một phương hướng đấu tranh rất có hiệu lực để giải quyết những mâu thuẫn gay gắt ở vùng đất này: độc lập dân tộc và phát triển xă hội. Chính v́ đă đạt được hai vấn đề căn bản đó một cách triệt để, đồng thời t́m ra được những phương pháp cách mạng có hiệu lực (mà các đảng phái khác không có được) để thực hiện các mục tiêu trên đây, mà những người cộng sản ngày càng đại biểu được cho ư chí cách mạng của cả dân tộc, tập trung được sức mạnh (trực tiếp hoặc gián tiếp) của dân tộc để đương đầu với sự trấn áp (rất tàn khốc) của kẻ thù, cuối cùng giành được chiến thắng. Có rất nhiều điều để nói về những nguyên nhân làm nên chiến thắng (nhất là vấn đề lănh đạo của Đảng), nhưng tính chất đại biểu cho ư chí dân tộc đă trở nên bao trùm, nhất là vào những lúc cách mạng đang phát khởi thành cao trào. Trái lại những khi nào mà những người cộng sản đi chệch mục tiêu phổ quát đó th́ họ sẽ gặp ngay cô lập và sai lầm: lịch sử cách mạng Việt Nam đă ghi lại khá nhiều trường hợp này. Điều đó có nghĩa là trong cách mạng dân tộc dân chủ, những người cộng sản đă đại biểu được cho “nỗi đau phổ biến”[10] của toàn dân tộc và cũng thể hiện được khát vọng phổ biến về cuộc sống phát triển trong tương lai của toàn dân tộc nữa. Nếu nh́n lại những mục tiêu hành động do Đảng cộng sản đưa ra thông qua Mặt trận Việt Minh, rồi về sau là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, người ta sẽ thấy rơ điều này: bảo đảm quyền tư hữu cho mọi công dân, những người tư sản dân tộc được tự do làm ăn, người nông dân được làm chủ mảnh ruộng của ḿnh, đời sống trí tuệ, tinh thần (ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng) được tự do phát triển, v.v. Trong những chương tŕnh như vậy, bạn rất nhiều mà thù rất ít, mục tiêu cũng rất đơn giản và cụ thể, có thể thực hiện được dễ dàng, phù hợp với tất cả mọi người. Ngày nay những người cộng sản nào hay nhắc lại lịch sử để chứng minh rằng Đảng cộng sản không phải là cái ǵ đó từ đâu “nhảy dù” xuống đất nước này, tôi đề nghị những người ấy đừng quên nhắc lại cùng một lượt sự có mặt của những người cộng sản với những chương tŕnh hành động thiết thực ấy.

Tuy vậy, tất cả đều trở thành vấn đề, trở thành phức tạp, khi lịch sử đă sang trang, nghĩa là sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc để bước sang thời kỳ xây dựng ḥa b́nh, thời kỳ phát triển đất nước. Và sang thời kỳ mới này th́ ngay lập tức, sức mạnh dân tộc trên đây đă không c̣n nữa. Người nông dân sau khi được chia cho ruộng đất th́ liền bị đưa vào hợp tác, không c̣n được làm chủ miếng đất của ḿnh; người tư sản dân tộc (kể cả những nhà tư sản yêu nước, có đóng góp cho kháng chiến) cũng không c̣n được làm chủ nhà máy để thực hiện câu “lợi nhà ích nước” – tất cả đều phải là hợp tác và quốc doanh – kể cả những ngành nghề tẹp nhẹp như thợ may và cắt tóc (ở miền Bắc sau 1954). Quyền tự do đi lại, tự do mua bán đă biến thành chế độ hộ khẩu, chế độ tem phiếu: buôn bán tự do th́ bị liệt vào “con phe”, c̣n quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí th́ bị quy định một cách ngặt nghèo bởi lề luật của cái gọi là “đấu tranh tư tưởng”: ai muốn tự do ngôn luận th́ kể chuyện tiếu lâm hiện đại. Có nhiều người đă gọi tất cả những thứ trên đây là “vắt chanh vỏ bỏ”, là “nuốt lời hứa”; nhưng b́nh tĩnh mà xét th́ những người cộng sản chỉ làm cái mà họ cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đă bảo phải làm mà thôi: sau cách mạng dân tộc dân chủ phải tiếp tục không ngừng cách mạng xă hội chủ nghĩa, thực hiện luận điểm từ một nước nghèo nàn lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xă hội, bỏ qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. C̣n nội dung của cái gọi là xă hội chủ nghĩa th́ lại xóa bỏ thị trường, là công hữu về tư liệu sản xuất, là không c̣n xă hội công dân mà chỉ c̣n “quần chúng” và “nhân dân”, là dùng nhà nước chuyên chính vô sản để thực hiện tất cả. Chúng ta tin tưởng thành khẩn rằng phải làm như vậy mới là “xă hội chủ nghĩa”, là thực hiện đúng những “nguyên lư của chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Chúng ta cho đó là “chính thống”, ngoài ra sẽ là “tư bản”, là “xét lại”. Nhưng thật sự chúng ta đă quên đi rất nhiều điều thuộc về phương pháp luận mácxít – điều mà chúng ta cứ cho rằng một ḷng một dạ phải đi theo. Chúng ta quên rằng những ǵ Mác đă đề xuất (xóa bỏ hàng hóa, thị trường, công hữu về tư liệu sản xuất…) chỉ có thể thực hiện được trên giả định là chủ nghĩa tư bản đă tạo ra được những điều kiện vật chất cao nhất để từ đó chủ nghĩa xă hội có thể thay thế nó như là một h́nh thái kinh tế xă hội mới. Ở một đất nước nghèo nàn lạc hậu mà lại bị đô hộ như Việt Nam th́ chúng ta lấy đâu ra cái tiên đề ấy. Chúng ta cũng quên luôn rằng Lênin sau Cách mạng tháng Mười cũng đă định tiến thẳng lên chủ nghĩa xă hội (bằng con đường xă hội chủ nghĩa thời chiến) và đă đưa nước Nga đến chỗ kiệt quệ, gần như sụp đổ, v́ thế chính ông đă phải đề xuất NEP thừa nhận tư sản, thừa nhận cạnh tranh, thừa nhận tô nhượng, thừa nhận hàng hóa, thị trường… C̣n chúng ta, hoàn cảnh cũng tương tự như thời ấy ở Nga, chúng ta lại chủ trương không làm NEP. Nói là vận dụng Lênin, nhưng trong thực tế chúng ta đi ngược Lênin, hoàn toàn bỏ qua kinh nghiệm cuối cùng của Lênin về kinh tế (NEP). Chúng ta thích nói đến “nhà nước chuyên chính vô sản”, tưởng rằng như vậy là theo Mác để khỏi cần phải thực hiện tam quyền phân lập. Nhưng chúng ta quên rằng mô h́nh Công xă Paris mà Mác tổng kết chỉ lập ra ở một khu vực nhỏ bé của nước Pháp (Paris) bị bao vây tứ phía, đang làm nhiệm vụ cách mạng (cướp và giữ chính quyền), tồn tại chỉ có 72 ngày, chứ chưa phải là một nhà nước trong một quốc gia rộng lớn có nhiều thành phần xă hội khác nhau mà nhiệm vụ đă chuyển sang ḥa b́nh sản xuất; chúng ta cũng quên rằng Công xă Paris của Mác không cần thực hiện tam quyền phân lập là v́ nó đă bị kiểm soát chặt chẽ bằng những biện pháp thực tế để không thể biến thành thực thể xa lạ hoặc thống trị lại xă hội công dân. Chúng ta không nghiền ngẫm những lời dặn của Lênin về cái “nguy cơ” nhà nước chuyên chính bị quan liêu hóa để tiếp tục Lênin t́m ra những giải pháp về định chế nhằm ngăn chặn sự suy thoái của quyền lực mà những nhà tư tưởng thời Khai sáng đă đưa ra cho cả loài người[11]. Không phải Mác hoàn toàn mà cũng không phải Lênin hoàn toàn, vậy th́ trong thực tế, chúng ta đă đem ra thực hiện cái mô h́nh chủ nghĩa xă hội nào? Đó chính là mô h́nh Stalin và mô h́nh Stalin phương Đông là Mao Trạch Đông. “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” là ǵ nếu không phải là Stalin? “Đấu tố”, “cải cách ruộng đất” là ǵ nếu không phải là Mao Trạch Đông? Và nhà nước hóa toàn diện đời sống xă hội, xóa bỏ mọi sinh hoạt dân chủ của xă hội công dân là ǵ nếu không phải là Stalin với Mao Trạch Đông cộng lại?

 

“Dieu est mort, tout est permis”

 

Và cũng chính v́ quá tin tưởng vào tính “chính thống” của cái mô h́nh chủ nghĩa xă hội ấy mà chúng ta đă đóng cửa lại với thế giới tư bản. Chúng ta chỉ biết có “phe ta” (ngoài ra là địch), trong khi phe ta lại đang gặp phải hàng loạt những vấn đề ghê gớm: vấn đề dân tộc (sự tranh chấp gay gắt giữa Liên Xô và Trung Quốc), vấn đề tội ác của Stalin rồi sau đó là Mao Trạch Đông (Đại hội XX của Đảng cộng sản Liên Xô, “nhảy vọt” rồi “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc); vấn đề canh tân chủ nghĩa xă hội (Hungari 1956, Mùa xuân Praha Tiệp Khắc 1968…). Chúng ta vẫn không nh́n thấy sự tụt hậu quan trọng về tốc độ phát triển của toàn bộ thế giới xă hội chủ nghĩa trong những năm 1970. C̣n đối với phe tư bản th́ chúng ta cứ nhất định cho rằng nó “đang giăy chết” và đó là một lũ lửa phỉnh chỉ cần phỉ nhổ là đủ. Chúng ta vẫn cứ tin như tin vào Kinh thánh những ǵ Mác mô tả về giai cấp công nhân trong xă hội tư bản chủ nghĩa thế kỷ XIX cho rằng ngày nay họ vẫn chỉ là những tên nô lệ bị ông chủ bỏ đói! Chúng ta vẫn tin rằng chỉ có nước Nhật là nước cuối cùng có thể công nghiệp hóa theo phương thức tư bản chủ nghĩa, c̣n những nước lạc hậu nghèo nàn khác th́ chỉ có thể là “những thuộc địa trá h́nh”, không thể độc lập và cũng không thể phát triển nhanh được… Kết quả của những điều đó là ǵ? Là ngăn chặn toàn bộ khả năng tiếp thu những thành quả mới về khoa học kỹ thuật đă bước sang thời kỳ công nghiệp điện tử để áp dụng vào việc công nghiệp hóa đất nước, và công nghiệp hóa bằng con đường nhanh chóng. Là chúng ta cứ ṃ mẫm, hết phá cái này dựng nên cái khác, cuối cùng dân tộc vẫn ch́m đắm trong lạc hậu nghèo nàn, làm không đủ ăn, nợ trả không được nói ǵ đến tích lũy. Là nuôi dưỡng một bộ máy quan liêu khổng lồ và bù lỗ thường trực cho những cơ sở thuộc phạm trù “công hữu về tư liệu sản xuất” đến làm kiệt quệ ngân sách. Là tạo ra một chủ nghĩa b́nh quân mang danh “b́nh đẳng xă hội” đưa tới tŕ trệ, lười biếng, vô trách nhiệm với toàn xă hội. Và từ đó mà sinh ra tất cả những cái tệ hại khác, trong đó sự suy thoái về phẩm chất của cán bộ, đảng viên là cái quan trọng nhất. “Dieu est mort et tout est permis” (Thượng đế chết rồi th́ tất cả đều được phép): không biết nhà tư tưởng nào đă nói ra câu này, nhưng đa số đảng viên hiện nay đều mang cái năo trạng tương tự như vậy. Và người dân có mất ḷng tin vào Đảng th́ gốc rễ là do Đảng không t́m ra được một con đường phát triển có hiệu lực để đưa đất nước ra khỏi lạc hậu nghèo nàn, trong dân chủ và tự do, chứ không phải là cái ǵ khác.

 

Chủ nghĩa xă hội: tự do và phát triển

 

Những vinh quang đạt được trong thời kỳ giải phóng dân tộc thay v́ được phát huy theo chiều hướng tích cực th́ lại bị co lại thành những nhược điểm. Chính là v́ trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập phải nhờ vào sự giúp đỡ tích cực của các nước xă hội chủ nghĩa, không có th́ giờ để suy nghĩ cặn kẽ, chúng ta cũng đă tiếp thu luôn những mặt tiêu cực trong chủ nghĩa xă hội thực tế. Chủ nghĩa Mác-Lênin đă đi vào Việt Nam bằng con đường dân tộc; nhưng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao cũng đi vào Việt Nam bằng con đường dân tộc. Sự du nhập mang tính chất h́nh mẫu quốc tế này, cộng thêm với cuộc chiến đấu bằng bạo lực lâu dài, đă tạo ra trong chúng ta thói quen tin rằng kẻ đánh thắng được giặc rồi là có thể làm được tất cả, và do đó cũng tin rằng có thể dùng ư chí và những biện pháp tổ chức động viên theo kiểu chiến tranh và cách mạng trước đây để xây dựng kinh tế, phát triển xă hội. Chúng ta đă không chú ư nhiều đến những cái sơ đẳng về cuộc sống của con người trong một cuộc sống đă trở lại b́nh thường sau chiến tranh. Chúng ta hiểu rằng động lực của con người trong chiến tranh là chịu đựng tất cả, nén lại tất cả đau thương mất mát để hy vọng có chiến thắng và ḥa b́nh, nhưng chúng ta không hiểu rằng khi chiến tranh đă chấm dứt th́ con người sẽ phải nghĩ đến những cái ǵ b́nh thường của một cuộc sống ở đó phát triển và tự do chính là động lực. Trong ḥa b́nh rồi, chúng ta vẫn bắt con người phải chịu đựng, phải hy sinh cho một “ngày mai ca hát” nào đó không biết bao giờ mới đến: chúng ta tổ chức sản xuất cũng giống như đánh giặc và toàn khen thưởng bằng những lời khen như thời kỳ đánh giặc. Chúng ta biết rằng mục tiêu của thời kỳ cách mạng bạo lực, cuối cùng là phải đi tới cái đảo lộn tức thời, nhanh chóng (cướp chính quyền), nhưng lại quên rằng mục tiêu của một xă hội b́nh thường chính là sự ổn định trong phát triển, là sự nâng cao tiệm tiến và vững chắc của cuộc sống, có thể nh́n thấy được trong từng bữa cơm hàng ngày, trong từng nụ cười của những đứa trẻ hàng ngày, chứ không phải là nén nhịn để đợi chờ một ngày nào đó rồi sẽ có tất cả – một lần là xong. Ở đây chúng ta lại gặp lại toàn bộ những khó khăn mà nước Nga của Lênin đă trải qua từ 1917: một mô h́nh phát triển xă hội chủ nghĩa khi đă có ḥa b́nh.

 

Đi t́m một mô h́nh mới: ưu tiên bảo vệ con người…

 

Biện chứng của cuộc khủng hoảng trong chủ nghĩa xă hội hiện thực hiện nay là sự phát triển đă đến điểm nút của những biện pháp xây dựng không thích hợp với thực tiễn cuộc sống và đă bị chính cuộc sống đứng lên bác bỏ. V́ thế đổi mới đặt ra cũng là để giải quyết mâu thuẫn căn bản đó, nghĩa là t́m kiếm một mô h́nh mới về chủ nghĩa xă hội chứ không phải là chắp vá lại một mô h́nh cũ. Thực chất đó là một cuộc cách mạng từ bên trên – nói cho đúng là những cải cách mang tính chất cách mạng – do chính những người cộng sản một lần nữa tiến hành và lănh đạo để đưa dân tộc tiến vào một thời kỳ mới. V́ thế việc từ bỏ tất cả những thiên kiến, những giáo điều, những lề lối suy tưởng hoạt động theo thời kỳ chiến tranh và cách mạng, cướp chính quyền cũng phải được xét duyệt lại tất cả một cách can đảm, dứt khoát th́ mới có thể chủ động được t́nh h́nh. Không phải chỉ đặt vấn đề làm trong sạch Đảng bằng “giáo dục” hoặc trừng trị (có người đ̣i lập pháp trường cát ở sân Tao Đàn!) mà chính là một môi trường trong sạch về thực tế và lư luận để Đảng có thể giữ được ngọn cờ tiên phong của ḿnh một lần nữa trước vận mệnh của dân tộc.

Theo sự suy nghĩ của tôi th́ trước tiên, về mặt lư luận, chúng ta phải “tạm gác” tất cả những kết luận về chủ nghĩa xă hội mà Mác, Lênin (nhất là Stalin) đă đưa ra với tư cách là một mô h́nh phát triển ḥa b́nh sau khi cách mạng đă thành công. Phải chấp nhận điều này như là khởi điểm để suy tưởng, không phải là từ bỏ Mác và Lênin mà để trung thành hơn với Mác và Lênin, là dùng phương pháp phân tích hiện thực mácxít (cái linh hồn của chủ nghĩa Mác như Lênin đă nhận xét) để phân tích t́nh h́nh hiện thực của thế giới và đất nước ngày nay và t́m ra cho được những kết luận mới, những kết luận mà Mác và Lênin chưa thể đề ra trong thời đại của các ông. Thực tế th́ tất cả những nhà lư luận mácxít nghiêm chỉnh hiện nay đều đă chấp nhận điểm xuất phát này, dù nói ra hay không nói ra. Chẳng hạn về cơ chế thị trường: chẳng phải là với NEP, Lênin đă “tạm gác” Mác lại đó sao? Chẳng hạn vấn đề nhà nước pháp quyền: chẳng phải trước đây Lênin chưa dùng khái niệm này hay sao? Và chẳng hạn những khái niệm xă hội công dân, tam quyền phân lập…: chẳng phải trước đây đă từng bị liệt vào chính trị học tư sản hay sao? Vậy mà những khái niệm ấy ngày nay đă được những nhà lư luận mácxít nhập vào kho từ vựng của ḿnh, không phải để từ bỏ chủ nghĩa xă hội mà chính là đổi mới nó. Những nỗ lực như vậy c̣n đang tiếp tục, không đơn giản chút nào, có nhiều điều đă có thể kết luận, có nhiều điều c̣n đang nghiên cứu tranh luận; nhưng dù sao th́ cứ phải t́m kiếm chứ không thể tiên quyết phủ nhận từ đầu, trừ khi người ta chẳng muốn đổi thay ǵ cả. Nghiên cứu tất cả những kinh nghiệm ấy, nhất là kinh nghiệm những cái cần tránh vốn đă có thực tế lâu dài để khẳng định, từ đó t́m ra những cái cần làm phù hợp với điều kiện thực tế của ḿnh, đó chính là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta, không phải chỉ để phục vụ cho những cái trước mắt mà c̣n định ra được một chiến lược phát triển lâu dài cho đất nước.

Nguyên lư mà tôi đề nghị sử dụng làm nền cho sự h́nh thành mô h́nh phát triển thích hợp với nước ta trong giai đoạn mới là: ưu tiên bảo vệ con người trong quá tŕnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa xă hội. Kinh nghiệm của các chế độ chính trị khác nhau đă cho biết rằng công nghiệp hóa là một quá tŕnh cực kỳ đau đớn, khó khăn, gây ra nhiều xáo trộn cho xă hội; v́ thế nếu không ư thức rơ điều đó (và cho là chỉ chủ nghĩa tư bản mới gặp) để bảo vệ các quyền tự nhiên của con người th́ con người sẽ bị quá tŕnh công nghiệp hóa biến thành công cụ cho sản xuất như đă từng xảy ra trong thời tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XIX và của Liên Xô thời Stalin – một bên do cơ chế thị trường mù quáng tạo ra, một bên do cơ chế mệnh lệnh chuyên quyền tạo ra. Kết hợp cơ chế thị trường với kế hoạch và đặt vấn đề ưu tiên bảo vệ con người trong quá tŕnh công nghiệp hóa, đó chính là kinh nghiệm lớn mà chúng ta cần quan tâm đặc biệt để h́nh thành chiến lược phát triển cho đất nước. Giai đoạn này sẽ kéo dài, v́ thế phải quan niệm đây chỉ là một giai đoạn trong toàn thể một h́nh thái kinh tế xă hội quá độ (có thể kéo dài cả trăm năm như có người dự tính), để từ bỏ quan niệm coi đó là cái ǵ tạm thời có thể “nhảy vọt” được bằng ư chí và cưỡng bức. Chúng ta cần ư thức rơ tính chất phức tạp, khó khăn này để trong quá tŕnh xây dựng, bất cứ lúc nào cũng phải coi chính sách về con người là cái quan trọng hơn hết. Nhưng cũng phải quan niệm dứt khoát rằng đây chưa phải là chủ nghĩa xă hội mà chỉ là bước đi đầu tiên của h́nh thái quá độ và nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ này là công nghiệp hóa, cho nên cũng phải ư thức thêm rằng nếu chỉ muốn bảo vệ con người mà không thừa nhận cạnh tranh, mâu thuẫn (nhiều khi rất tàn khốc) vốn là động lực của phát triển kinh tế th́ cũng không thể thúc đẩy quá tŕnh công nghiệp hóa được.

 

Một số tiền đề căn bản

 

Từ những định hướng trên, tôi cho rằng, trong h́nh thái kinh tế xă hội quá độ này, cũng sẽ phải từ bỏ hoàn toàn sự phân biệt một cách trừu tượng giữa cái gọi là “tư bản chủ nghĩa” và “xă hội chủ nghĩa”, giữa “chính thống” và “xét lại”: kinh nghiệm cho chúng ta biết những cuộc tranh luận về vấn đề này thường chỉ là tư biện, “ư thức hệ” (theo nghĩa không khoa học của Mác), không có lợi cho thực tiễn. Ở đây việc quay trở về với những chương tŕnh mà chúng ta đă nêu ra trong thời kỳ cách mạng dân tộc và dân chủ (được gọi là cách mạng tư sản kiểu mới nhưng lại bị xóa bỏ hoàn toàn khi đất nước chuyển sang ḥa b́nh) là hoàn toàn thực tế và chẳng có ǵ gọi là “phi mácxít” cả, v́ chính là do những người mácxít đưa ra! Kinh nghiệm về NEP của Lênin rất quan trọng (hiện nay đang được chấp nhận ở Việt Nam), nhưng phải được phát triển nhất quán và toàn diện và đưa vào khuôn khổ xây dựng một h́nh thái kinh tế xă hội quá độ, từ bỏ ư tưởng giới hạn của Lênin về NEP, chỉ coi NEP là bước thụt lùi chiến thuật, v́ thực chất h́nh thái quá độ mà chúng ta đang nói không phải là bước thụt lùi mà chính là điểm khởi hành thực tế – khởi hành từ một xă hội cổ truyền, nghèo nàn lạc hậu vừa thoát khỏi chiến tranh để công nghiệp hóa. Một số tiền đề căn bản sẽ được phác họa để làm cơ sở lư luận cho mô h́nh phát triển đă tŕnh bày:

1. Chúng ta không c̣n bị bao vây như nước Nga bị bao vây thời Lênin và Stalin nữa. Vấn đề bị bao vây đối với chúng ta thật sự là chưa chấm dứt (Mỹ, Trung Quốc…), nhưng trong điều kiện thế giới càng đi vào xu thế ḥa hoăn th́ chúng ta có thể chủ động giải tỏa sự bao vây ấy một cách thỏa đáng để ḥa nhập vào sự phát triển chung của thế giới (Lênin đă đề ra trong NEP, nhưng do điều kiện bấy giờ chưa thực hiện được). Chính sách ngoại giao để phát triển giả định chúng ta cũng phải từ bỏ ư định “phất cờ” vốn không phải là không có trong chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam. Tất nhiên, chính sách đóng cửa, tự lực cánh sinh theo kiểu cũ lại cần phải từ bỏ nhanh chóng.

2. Từ bỏ những phương pháp cách mạng và bạo lực để phát triển kinh tế và xă hội; phương pháp cải tạo ḥa b́nh mang tính cách mạng đang là khả năng đă xuất hiện trong thời kỳ vượt bậc của khoa học kỹ thuật hiện nay. Tất nhiên khả năng cách mạng bạo lực, chiến tranh vẫn c̣n ở nơi nào mà chủ nghĩa đế quốc vẫn tiếp tục c̣n sử dụng chiến tranh và bạo lực. Tuy vậy ở những nơi cách mạng bạo lực đă thành công th́ phải cương quyết từ bỏ phương pháp bạo lực và cách mạng chính trị để xây dựng kinh tế, phát triển xă hội. Điều đó có nghĩa là phải từ bỏ hẳn khái niệm “bạo lực như một tiềm năng kinh tế”, thực hiện bằng một nhà nước chuyên chính vô sản kiểu Lênin, nhất là Stalin. Không khẳng định được thời gian chừng nào sẽ hoàn thành được cái thân chữ i cho chủ nghĩa xă hội mà cứ duy tŕ chuyên chính để xây dựng kinh tế th́ tất yếu sẽ dẫn đến lạm quyền, độc đoán, tạo điều kiện cho nhà nước nuốt chửng xă hội công dân, ngược lại với viễn cảnh của Mác về sự tiêu vong dần dần của nhà nước, và cũng ngược lại với mong mỏi của Lênin về một nền dân chủ “gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản”.

3. Trong kinh tế, nếu đă thừa nhận hàng hóa, thị trường, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế khác nhau, th́ vấn đề xây dựng một nhà nước dân tộc cũng trở thành vấn đề mấu chốt về chính trị. Điều đó có nghĩa là phải từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp, v́ khái niệm này đă đặt trên giả định của Mác trong những xă hội tư sản như Mác mô tả là giai cấp vô sản đă trở thành đại đa số dân cư (do sự phá sản của giai cấp tiểu tư sản, quư tộc, tiểu nông và cả tư sản bị cạnh tranh mà trở thành vô sản) và giai cấp tư sản thống trị chỉ c̣n lại một nhúm đầu sỏ ăn bám thừa thăi. Trong những nước mà xă hội công dân bao gồm nhiều thành phần khác nhau, và tất cả các thành phần này đều cần thiết cho phát triển, th́ tất cả phải được thừa nhận lâu dài (công nhận quyền sở hữu tư nhân…) trong cả thời gian của h́nh thái kinh tế-xă hội quá độ, chứ không thể coi là chiến thuật, muốn bóp muốn nhả lúc nào cũng được. Vấn đề h́nh thành một xă hội công dân mới phải được chấp nhận để tạo ra định chế chính trị mới.

4. Vấn đề chuyên chính vô sản cũng phải chuyển thành chuyên chính nhân dân thực hiện trong điều kiện ḥa b́nh và thể hiện chuyên chính bằng hiến pháp và luật pháp (như tất cả các nước hiện đại), dùng sự cưỡng chế của luật pháp để giữ ǵn an ninh trật tự, bảo vệ chế độ, bảo vệ tổ quốc, chứ không dùng luật pháp như công cụ của cách mạng như trong thời cách mạng bạo lực. Tất cả những ǵ có hại cho chế độ phải được quy định rơ rệt về mặt hiến pháp và luật pháp để thực hiện tinh thần mới về luật pháp: tất cả những ǵ không cấm th́ được phép.

5. Khái niệm tập trung dân chủ hiểu theo nghĩa cách mạng và chiến tranh cũng phải chuyển sang điều kiện ḥa b́nh: tập trung ư chí nhân dân vào luật pháp và hiến pháp, tập trung quyền lực vào tay nhà nước, nhưng vẫn quy định quyền tồn tại độc lập pháp định của xă hội công dân để kiểm soát mọi hoạt động của nhà nước, thực hiện tam quyền phân lập để tránh sự cấu kết đưa tới lạm quyền, đồng thời cho phép có quyền được tồn tại công khai và pháp định ư kiến của thiểu số, coi sự tồn tại này như cái “van” cần thiết để điều chỉnh nhanh chóng những sai lầm, khiếm khuyết có thể có trong những chính sách và đường lối đă được đa số quyết định và thỏa thuận, định nghĩa như là những chọn lựa tối ưu, chứ không phải là chọn lựa tuyệt đối. Vấn đề xây dựng một nhà nước pháp quyền phải trở thành nền móng để giải quyết vấn đề đa nguyên, đa đảng.

6. Trong chiều hướng xây dựng một định chế dân chủ như vậy th́ Đảng cộng sản sẽ đứng ở đâu? Phát triển một cách nhất quán một số quan điểm đă xuất hiện gần đây, như “Đảng lănh đạo bằng thuyết phục, vận động chứ không bằng quyền lực” hoặc “Đảng ḥa ḿnh trong xă hội, chứ không đứng ngoài, càng không đứng trên xă hội”, tôi cho rằng sẽ không có cách nào khác ngoài việc Đảng phải giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, trở về xă hội công dân, tự đặt ḿnh trong luật pháp, b́nh đẳng với mọi tổ chức chính trị xă hội khác, từ đó khẳng định lại năng lực và phẩm chất của ḿnh. Trong điều kiện ấy, là một thực thể chính trị pháp định, Đảng vẫn có thể tham gia nhà nước bằng cách đề xuất chương tŕnh để tranh cử. Nếu chương tŕnh của Đảng hợp ḷng dân, thực tế và có hiệu lực để sớm đưa đất nước ra khỏi lạc hậu, nghèo nàn th́ Đảng sẽ thành đa số để cầm quyền – một cách công khai, pháp định, có thời hạn và được kiểm soát, chứ không phải do vận động ngầm hoặc những cách áp đặt mang tính chất siêu nhà nước hoặc siêu công dân như trước đây. Chỉ có cách đó th́ Đảng mới tạo ra cho ḿnh những điều kiện hoạt động thiết thực nhất để tự đổi mới.

 

Trở lại với cụ Hồ

 

Tất cả những ǵ được tŕnh bày trên đây rút lại là có tham vọng ǵ? Không có điều ǵ khác hơn là thử đứng từ phương pháp phân tích hiện thực theo tinh thần mácxít để t́m ra một cách tiếp cận và giải quyết vấn đề trong một t́nh thế đă khác xưa: và t́nh thế ấy cũng không có ǵ khác hơn là sự phát triển ḥa b́nh của đất nước mà những biện pháp cách mạng và chiến tranh đă tỏ ra không c̣n thích hợp nữa. Tuy được viết ra trong xu thế đổi mới chủ nghĩa xă hội hiện nay, tôi vẫn cho rằng những ư kiến ấy chẳng có ǵ mới mẻ lắm. Tất cả đều đă được phác ra từ ngày chủ tịch Hồ Chí Minh khởi đầu cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam bằng hai câu trích trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Cách mạng Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp 1791, khẳng định cho những công dân Việt Nam cái quyền được sống tự do và hạnh phúc như bất cứ con người nào trong thời đại mới này. Đó là sự khẳng định lớn lao nhưng cũng rất b́nh thường, nhưng đă v́ một lư do ngoắt ngoéo nào đó của lịch sử, có lúc chúng ta đă quên đi để chạy theo những ảo ảnh nào đó, không phải của ḿnh. Tôi không hề nghĩ rằng chúng ta phải lùi lại 45 năm lịch sử để làm lại tất cả. Nhưng nếu trong những ngày tháng này mà không có được một điểm khởi hành tương tự về dân tộc, ở đó người cộng sản đại biểu cho cái phổ biến dân tộc đă bước sang một kỷ nguyên mới, th́ mọi giải pháp rồi ra cũng sẽ rất chênh vênh. Một thái độ thực tế về chủ nghĩa xă hội hiện nay là rất cần thiết. V́ chủ nghĩa xă hội không có cái ǵ khác hơn là cái thêm vào cho tốt hơn cái b́nh thường có thực, chứ không phải là vượt lên cái phi thường mà mộng mị. Đó chẳng phải cũng là bài học đắng chát cho tất cả những ai c̣n tin tưởng vào tính hiện thực của chủ nghĩa xă hội trên trái đất này hay sao?

 

5.3.1990

LP

Nguồn: Phát Triển Kinh tế (Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh), số tháng 5 năm 1990.


 

[1] C. Mác, “Nội chiến Pháp” (1871), trong Tuyển tập Mác-Ăngghen, tập IV, Sự thật, Hà Nội, 1983, tr. 92.

[2] Lênin, “Thư mật gửi D. I. Cuốcxki ngày 20.2.1922”, trong Lênin toàn tập, tập 44, Tiến bộ, Matxcơva, 1978, tr. 485.

[3] Lênin, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky” (1918), trong Lênin toàn tập, tập 37, Tiến bộ, Matxcơva, 1977, tr. 297.

[4] C. Mác, “Phê phán cương lĩnh Gotha” (1875), trong Tuyển tập Mác-Ăngghen, tập IV, tr. 491.

[5] Lênin, “Về cuộc cách mạng của chúng ta” (17.1.1923), trong Lênin toàn tập, tập 45, Tiến bộ, Matxcơva, 1978, tr. 434.

[6] Lênin, “Thà ít mà tốt” (2.3.1923), như trên, tr. 442-460.

[7] C. Mác, Tư bản, tập I, phần 2, Tiến bộ, Matxcơva, và Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 303.

[8] “Vậy chúng ta đấu tranh cho chuyên chính chính trị của giai cấp vô sản để làm ǵ, nếu quyền lực lại bất lực về mặt kinh tế. Bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng là một tiềm lực kinh tế”. Có thể dùng ư này của Ăngghen để phê phán toàn bộ chủ nghĩa xă hội thực tế chăng? Xem Ăngghen, “Thư gửi Conrad Schmidt 27.10.1890”, trong Tuyển tập Mác-Ăngghen, tập VI, Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 739.

[9] Lênin, “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết” (tháng 4.1918), trong Lênin toàn tập, tập 36, tr. 243-246.

[10] C. Mác, “Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” (1843-1844), trong Tuyển tập Mác-Ăngghen, tập I, Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 33.

[11] Thí dụ của Montesquieu (1689-1755): “Kinh nghiệm muôn đời cho thấy mọi người có quyền lực đều có khuynh hướng lạm quyền”, do đó “phải dùng quyền lực để ngăn chặn quyền lực bằng cách bố trí mọi sự”. Xem Nguyễn Trọng Nghĩa, “Từ dân chủ tư sản đến dân chủ xă hội chủ nghĩa”, Đất Nước (Hội người Việt Nam tại Cộng ḥa liên bang Đức), bộ mới số 1, 12-1989, tr. 10 [tài liệu của “Hội thảo Việt Nam 89”, cũng đă đăng trước đó trong Đoàn kết số 414-415, tháng 6/7-89].

.....

Nguồn : Viet Studies