ĐIỂM SÁCH

 

 

CHUYỆN VỀ TRUNG QUỐC
(CỦA HENRY KISSINGER)

(On China by Henry Kissinger. The Penguin Press, 2011. 608 trang. $36 nguyên thủy; $19.80 tại amazon.com)

Bài của Max Frankel, nguyên biên tổng biên tập viên của The Times,
phóng sự chuyến đi Nixon-Kissinger đến Trung quốc năm 1972.

Nguồn: The New York Times, May 13, 2011

Trần Hữu Thuần (dịch)

Henry Kissinger không phải là đặc sứ Mĩ chính thức đầu tiên đến Trung quốc Cộng sản, ông kiên tŕ trong việc môi giới của ông với hơn 50 chuyến đi qua bốn chục năm, nằm trong khoảng cách của bảy nhà lănh đạo của từng phía. Nói cách ngoại giáo, ông làm chủ quyền kinh doanh; và với “Chuyện về Trung quốc” (On China), khi ông gần đến tuổi 88, ông suy tư về thời gian hoạt động đáng chú ư của ông.

Đến cấp độ Washington và Beijing giờ đây hiểu biết nhau, nó đang ở trong kích cỡ tốt bởi v́ Kissinger đă chuyên cần phiên dịch cho cả hai phía, phân biệt ư nghĩa của mọi thứ từ chuyện đùa tỉnh lược đến các giận dữ cáu kỉnh. Vào mọi khúc quanh, ông đă nỗ lực t́m các “quan niệm chiến lược” đă được lập ra để bao trùm một lịch sử về đối kháng; sầu muộn và sợ hăi qua lại. Như là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, rồi bộ trưởng ngoại giao cho Nixon và Gerald Ford, và kể từ năm 1977 như là người liên đối thoại riêng đặc biệt, Kissinger đă không nao núng cam kết với việc vượt qua những ǵ ông coi là sự oán giận Trung quốc có lí về sự can thiệp Mĩ vào công việc nội bộ của họ và sự chán ghét của người Mĩ về sự đàn áp tàn bạo của Trung quốc về bất đồng chủng tộc, tôn giáo và chính trị.

Sự kinh ngạc chôn vùi trong duyệt lại lê lết các liên hệ Trung-Mĩ là rằng các hành tŕnh Nixon-Kissinger được quảng cáo rùm beng đến Trung quốc năm 1971-72 đă hóa thành chuyện dễ dàng. “Trung quốc và Hoa ḱ sẽ thấy phương cách đến với nhau là chuyện không tránh được với cần thiết của thời gian,” ông viết. “Nó sớm muộn sẽ xẩy ra bất luận giới lănh đạo nào trong cả hai nước.” Cả hai quốc gia đều kiệt quệ v́ chiến tranh (Việt Nam, va chạm trên các biên giới Xôviết) và xung đột nội địa (phản kháng chống chiến tranh trong vụ việc của Nixon, cuộc Cách mạng văn hóa trong vụ việc của Mao). Cả hai đều dứt khoát chống các tiến công của Xôviết và như thế có thể nhanh chóng đưa ra nguyên ủy chung. Sự hăm đe của Moscow làm tâm trí các nhà lănh đạo ra khỏi các đối kháng tại Việt Nam và Đài loan và dập tắt các vạch trần theo nghi thức của họ, bất luận về chủ thuyết đế quốc quốc tế hoặc chủ thuyết Cộng sản. Họ quyết định rằng người chống đối với người chống đối tôi là bạn tôi, và trong hơn một chục năm đă kết quả là thế.

Nhưng đó là một thời gian khác. Trung quốc cuối cùng thoát khỏi giáo điều điên rồ của Mao Trạch Đông (Mao Zedong) về cách mạng vĩnh cửu và khỏi các phương thuốc lang băm làm suy yếu của việc hoạch định tập trung; nó đă trở thành một siêu cường kĩ nghệ. Liên hiệp Xôviết và đế quốc của nó sụp đổ. Và Hoa ḱ, cảm thấy cao cả, bắt đầu đề cao nền dân chủ với nhiệt t́nh truyền giáo thậm chí khi nó trở nên nghiện ngập nguy hiểm với dầu mỏ, vật dụng và nợ nần ngoại quốc. Sự nghiêng chuyển căn bản trong cán cân quyền lực biến Trung quốc và Hoa ḱ thành hai tên khổng lồ kinh tế lệ thuộc nhau qua lại, nhưng bỏ lại chúng không có một thiết kế sách lược bao trùm về tính đối tác.

Chính để chứng minh nhu cầu một thiết kế như vậy mà Kissinger duyệt lại các thăng trầm của các liên hệ Trung-Mĩ, vươn đến thậm chí lịch sử Trung quốc xưa để định nghĩa các đặc tính quốc gia. (Ông thấy có xu hướng rằng người Trung quốc thích chơi “cờ vây” [wei qii—go], một tṛ chơi tồn tại lâu đời về bao vây trong khi chúng ta chơi cờ vua [chess], t́m kiếm kiểm soát trung tâm và thắng lợi hoàn toàn). Kissinger rút nhiều từ học thuật gần đây và từ ghi chú của các chuyến đi của ông đến Beijing để ca ngợi chủ thuyết thực dụng của các người kế vị của Mao. Ông nói họ bằng ḷng ở lại trong phạm vi các ranh giới lịch sử được phục hồi của họ, sẵn ḷng chờ đợi sự tái hiệp ḥa b́nh với Đài loan, và dứt khoát nhất để tiếp tục sự lớn mạnh kinh tế đáng chú ư của họ và để tiệt trừ sự nghèo đói vẫn c̣n lan rộng của Trung quốc. Ông kém tin tưởng vào khả năng của Mĩ để duy tŕ một chính sách ngoại giao ổn định, ghi nhận rằng “thảm kịch tâm lí của các chuyện mạch dân chủ” là một lời mời thường xuyên cho các quốc gia khác “đi nước đôi” về chúng ta.

Như sinh viên của Kissinger biết rơ, ông từ lâu đă coi nền dân chủ là một gánh nặng về quản lí nhà nước—vừa về tiếng ầm ỉ của dân chủ trong phạm vi Hoa ḱ vừa các xáo trộn của chúng ta về dân chủ tại các vùng đất khác.

Thế nhưng ông nhắc lại các buồn khổ tại chức vụ những năm 1970, khi ông nghĩ rằng các cuộc biểu t́nh người Mĩ trong thời Chiến tranh Việt Nam đă dẫn sai Mao vào việc tin tưởng rằng “một cuộc cách mạng thế giới đích thực” đang trong tầm tay. Ông lập luận rằng “việc “hủy hoại” của Nixon trong tai biến Watergate, việc rút lại viện trợ Quốc hội cho Việt Nam, các kiềm chế mới trên quyền lực chiến tranh của tổng thống và việc “chảy máu” các bí mật t́nh báo, tất cả gộp lại xói ṃn sự đồng minh nửa vời với Trung quốc, làm cho Mĩ xem ra bất lực chống lại người Xôviết. Ông vui mừng v́ Jimmy Carter đă không để các quan tâm về quyền con người làm hỏng các liên hệ với Trung quốc và rằng cá tính vui vẻ của Ronald Reagan vượt qua “các đối kháng gần như không hiểu được” với các bàn thảo của ông với Beijing thậm chí khi ông đề cao ư niệm về một Đài loan độc lập.

Dĩ nhiên, thử thách nghiêm trọng nhất của t́nh đồng minh nửa vời là việc đè bẹp tàn bạo các đấu tranh dân chủ tại Quăng trường Thiên An môn (Tiananmen) năm 1989. Sự thẳng tay đàn áp bạo lực đó cũng thử thách ḷng dung nạp của Kissinger về sự khẳng định các giá trị Mĩ trong các liên hệ ngoại giao.

Nh́n lại, ông tin tưởng mọi sự tùy thuộc vào hoàn cảnh: “Có những lúc các vi phạm quyền con người thực quá sức,” ông viết, “đến nổi không thể quan niệm đến lợi ích trong một tương quan tiếp diễn; ví dụ, Khmer đỏ ở Cambodia, và diệt chủng ở Rwanda. Bởi v́ áp lực chung tỏa bóng vào hoặc thay đổi chế độ hoặc một thể loại thoái vị, khó mà áp dụng cho các đất nước mà một mối tương quan tiếp diễn với họ là quan trọng cho an ninh của Mĩ. Điều đó cách riêng là vụ việc với Trung quốc, đă quá thấm nhuần với kí ức can thiệp hạ nhục của các xă hội phương Tây.”

Và v́ thế Kissinger thán phục phương cách Tổng thống George H. W. Bush, “với khéo léo và tao nhă,” đi “dây” trên việc trừng phạt Trung quốc với các cấm cách sau Thiên An môn trong khi đồng thời xin lỗi với các lá thư riêng tư và các đặc sứ. Tổng thống Bill Clinton cố gắng áp dụng áp lực một thời gian, Kissinger ghi nhận, nhưng chẳng cho thấy ḷng biết ơn nào khi ông khôn ngoan xoa dịu; người Trung quốc “đă chẳng xem việc lấy đi sự hăm dọa đơn phương như là một nhượng bộ, và họ khó chịu khác thường nh́n thấy bất cứ dấu hiệu nào về can thiệp vào các việc nội bộ của họ.” Và Tổng thống George W. Bush, bất kể “lịch tŕnh tự do” của ông ấy, hưởng được sự ca ngợi của Kissinger về việc vượt qua “t́nh cảm nước đôi lịch sử giữa các cách xử lí sứ mệnh và thực dụng của Mĩ,” bằng phương tiện của một sự cân đối tế nhị về các ưu tiên chiến lược.”

Nếu sự ưa chuộng của Mĩ về cai trị dân chủ được làm thành điều kiện chính cho tiến bộ trên các vấn đề khác với Trung quốc, Kissinger kết luận, “bế tắc là không thể tránh khỏi.” Những ai chiến đấu để bành trướng các giá trị Mĩ đáng được tôn trọng. “Nhưng chính sách ngoại giao phải định nghĩa phương tiện cũng như mục tiêu, và nếu các phương tiện được sử dụng vượt quá sự dung nạp khung làm việc quốc tế hoặc mối tương quan được xem là thiết yếu cho an ninh quốc gia, một chọn lựa phải được đưa ra.” Sự chọn lựa đó “không thể bị tránh né,” ông nhấn mạnh, thậm chí khi người đó nỗ lực bảo vệ cạnh sườn ḿnh với một tránh né của chính ḿnh: “Kết quả tốt nhất trong cuộc tranh luận Mĩ có thể sẽ là kết hợp hai cách xử lí: với người lí tưởng để thừa nhận rằng các nguyên lí cần được thực thi qua thời gian và từ đó thỉnh thoảng phải được điều chỉnh theo trường hợp; và với người ‘thực tiễn’ để chấp nhận rằng các giá trị có thực tại của chính chúng và phải được xây dựng thành các chính sách hoạt động được.”

Thế nhưng, cuối cùng, Kissinger ủng hộ cho an ninh quốc gia trên hết (über alles). Rải rắc qua lịch sử của ông là tôn trọng các giá trị Mĩ và cam kết với tư cách con người, điều quả thực có thể đôi khi thúc đẩy các chính sách của chúng ta vượt quá các tính toán của lợi ích quốc gia. Chính xác những ǵ đă xẩy ra, sự thực, sau khi “Chuyện về Trung quốc” đến nhà in, khi Tổng thống Obama phiêu lưu vào Libya, Kissinger có lẽ đă ngạc nhiên khi sự can thiệp nhân đạo và trả giá thay đổi chế độ đă không khơi lên một Trung quốc bỏ phiếu chống (veto) tại Liên hiệp Quốc. Nhưng tại châu Á giờ đây hơn là châu Âu, ông lập luận, “chủ quyền được xem là tối quan trọng,” và bất cứ nỗ lực nào “từ bên ngoài” để thay đổi cấu trúc nội địa của Trung quốc “đều h́nh như dính líu đến các hậu quả không mong đợi bao la.” Ngoài ra, như ông thường nhấn mạnh trong khi thực hành chính trị thực tiễn (realpolitik) tại Washington, nguyên ủy của ḥa b́nh cũng là một theo đuổi luân lí.

Chủ đề trung tâm này của kinh nghiệm và cố vấn của Kissinger phải được tinh luyện từ lịch sử đôi khi quanh co và phần lớn quen thuộc ông kể lại trong “Chuyện về Trung quốc.” Chỉ trong các trang cuối của nó mà ông quả thực thảo luận câu hỏi thiết yếu về các liện hệ Trung-Mĩ tương lai: Với chẳng một kẻ thù chung nào ràng buộc họ, điều ǵ sẽ ǵn giữ ḥa b́nh và đề cao hợp tác và tín nhiệm giữa các quyền lực chính của thế giới?

Kissinger giải quyết câu hỏi này bằng cách nh́n lại quá khứ, một thông tư do một viên chức cao cấp của Bộ ngoại giao Anh, Eyre Crowe, viết năm 1907. Crowe lập luận rằng chính v́ lợi ích của Đức để “xây dựng một hải quân uy lực như có thể đủ sức làm được” và rằng điều này tự nó sẽ dẫn đến đối kháng “mục tiêu” với Đế quốc Anh, bất luận các nhà ngoại giao Đức đă nói hoặc đă làm những ǵ. Ngày nay có một “trường phái tư duy Crowe” tại Hoa ḱ, Kissinger nhận xét, trường phái xem sự nổi lên của Trung quốc “như không phù hợp với vị trí của Mĩ tại Thái b́nh dương” và do đó thích hợp nhất với các chính sách thù nghịch ngăn chặn trước. Ông quan niệm các lo âu đang lớn dần trong cả hai xă hội và sợ chúng bị làm trầm trọng bởi những người Mĩ tuyên bố rằng dân chủ tại Trung quốc là điều tiên quyết cho một mối tương quan tín nhiệm được. Ông cảnh báo rằng chiến tranh lạnh kế tiếp hàm ẩn sẽ làm ngưng tiến triển trong cả hai quốc gia và làm cho chúng “tự phân tích thành các tiên báo tự h́nh thành” khi trong thực tiễn cạnh tranh chính của họ xem ra nhiều phần là kinh tế hơn là quân sự.

Chiều theo sự ưa chuộng theo thói quen của ông về kiến trúc ngoại giao, Kissinger nhấn mạnh rằng các ích lợi chung hai quyền lực chia sẻ sẽ làm cho cuộc “đồng tiến hóa” (co-evolution) có thể thành một “khung làm việc hoàn toàn hơn.” Ông nh́n thấy các nhà lănh đạo khôn ngoan đang tạo ra một “cộng đoàn Thái b́nh dương” so sánh được với cộng đoàn Đại tây dương mà Mĩ đă hoàn thành với châu Âu. Tất cả các quốc gia châu Á rồi sẽ dự phần vào một hệ thống có thể quan niệm như một nỗ lực kết hợp hơn là một tranh đua của khối Trung quốc và Mĩ đối thủ. Và các nhà lănh đạo trên cả hai bờ Thái b́nh dương sẽ bó buộc phải “thiết lập một truyền thống về tham khảo và tôn trọng qua lại,” làm cho một trật tự thế giới được chia sẻ thành “một cách diễn đạt về các khát vọng quốc gia song hành.”

Đó quả thực chính là sứ mệnh của chuyến đi Kissinger đầu tiên đến Beijing. Và trong khi ông không hoàn toàn nói thế, ông đầu tư các niềm hi vọng của ông vào một hợp tấu của các quốc gia, dĩ nhiên, được đại diện bởi nhiều Kissingers.

i Wei qi: 围棋, cờ vây của Trung hoa (nd)

Tác giả Trần Hữu Thuần (dịch)

Nguồn : DungLac.org
Có thể t́m mua ở amazon