Nghị lực Vơ Ṭng Xuân

Lục Tùng

 

GS-TS Vơ Ṭng Xuân là nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới. Ông sinh 1940 tại Ba Chúc, An Giang, hiện là Hiệu trưởng Đại học An Giang, là nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng được nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quư: Giải thưởng Derek Tribe về khoa học kỹ thuật 2005; Giải thưởng Nikkei Châu Á 2002 về Tăng trưởng vùng; Giải thưởng Ramon Magsaysay 1993 về Phục vụ nhà nước; Bằng tưởng lệ của Thủ tướng Canada (1995) về “Phụng sự và đóng góp vào khoa học thế giới; Huy chương “Kỵ mă Nông nghiệp của Bộ Nông-Lâm-Thuỷ sản Pháp (1996); Giải “Cựu sinh viên xuất sắc nhất” của Đại học Philippines tại Los Banos (2001), giải thưởng Derek Tribe-Australia (2005).

Cuộc đời làm khoa học miệt mài và giảng dạy tận tụy đă mang lại cho ông rất nhiều danh hiệu cao quư, nhưng ít ai biết rằng để lên đến đỉnh vinh quang hôm nay, ông đă vượt qua bao chông gai, gian khó. Tấm gương học tập của ông xứng đáng là ngọn đèn dẫn đường cho tuổi trẻ ngày nay đi đến chân trời khoa học.


Tuổi thơ nhọc nhằn

 Sinh ra trong gia đ́nh nghèo tại Ba Chúc, ngôi làng heo hút trong dăy Thất Sơn, nên tuổi thơ của cậu bé Vơ Ṭng Xuân gắn liền với cơ cực, thiếu thốn. V́ vậy để có thể học trung học đệ nhứt cấp (nay là THCS), chàng thanh niên xứ núi này phải lên Sài G̣n ở đậu nhà người quen và làm đủ thứ nghề nhọc nhằn mà nếu không có ḷng kiên tŕ th́ không bao giờ vượt qua được. Bởi chỉ riêng khoản “phí trọ” cũng đă đủ vắt kiệt sức.

Ngoài việc đảm trách nhiệm vụ dạy kèm con chủ nhà, dọn dẹp nhà cửa, tối phải ra ngoài ngơ giữ xe ôtô cho chủ. Măi đến năm lên lớp đệ tứ (lớp 9), cậu học tṛ Xuân mới thoát được kiếp nạn này khi được thầy Đỗ Thiếu Lăng dạy Việt văn cho về nhà ở đậu với điều kiện giúp chấm bài kiểm tra Việt văn để thầy cho điểm. Đổi lại, mỗi tuần 3 lần, Thầy dạy thêm Hán văn bằng sách Minh tâm bửu giám.

Khi vào học trường trung học Kỹ thuật Cao Thắng, do cuộc sống gia đ́nh quá khó khăn nên hàng ngày ông phải thức từ 4 giờ sáng đến tổng phát hành báo chí nhận báo về, cùng hai đứa em kế bán báo kiếm tiền nuôi ba đứa em nhỏ.

Làm việc quá sức nên giữa năm cuối của bậc trung học, ông bị bệnh lao phổi quật liệt giường mấy tháng trời nên đă thi rớt tú tài II năm 1960. Thổ huyết mấy lần, người c̣m nhom, nhưng ông nhất quyết không bỏ cuộc.


GS Vơ Ṭng Xuân khi c̣n làm nhân viên phát thanh chương tŕnh văn hóa Việt Nam tại Đài phát thanh Philippines.
Vừa khỏi bệnh, là lao ngay đi xin vào làm công nhật cho Nha Hàng không Dân sự, vẽ thiết kế các trụ phát tuyến cho sân bay Tân Sơn Nhất. Nhờ đó có thu nhập ổn định để học ôn, ông thi đỗ tú tài II kỹ thuật, đồng thời đậu luôn phần thi viết tú tài II Toán.

Gian truân du học

Như nhiều học sinh hiếu học khác lúc ấy, ông khao khát được đi du học, v́ trường đại học Việt Nam lúc ấy c̣n kém. Biết phận nghèo, không thể đua đ̣i theo con nhà giàu để có học bổng đi các quốc gia lớn như Mỹ hoặc Đức, Pháp và Anh, nên ông chỉ có một lựa chọn duy nhất là thi lấy học bổng của trường đại học ít được ai chú ư: Đại học Nông nghiệp tại Los Banos (Philippines).
Trước ngày lên đường, người cha nghèo khó phải đi “gơ cửa” nhiều người thân mới có đủ tiền mua cho con vé máy bay, đôi giày da và bộ đồ veston. V́ yêu thích kỹ thuật, nên ông đă đăng kư học ngành nông hóa, chuyên về sản xuất đường mía. Sau này có dịp tiếp xúc với anh em bên Việt Nam sang, ông mới biết ḿnh đă chọn sai hướng khi không biết theo học về cây lúa, lĩnh vực mà đất nước đang rất cần.

Ngày nhập học, được Quỹ Rockefeller có tài trợ lại tiền vé máy bay, thay v́ mua sắm, tiệc tùng, ông đánh điện tín về nhà xin phép cha cho dùng số tiền này mua một máy ảnh Pentax và một cái radio National để tập nghe, nói tiếng Anh và tập thêm một nghề kiếm cơm. Để có được nghề từ chỗ “trắng tay”, ông đă tự nguyện làm nhiếp ảnh không lương cho tờ báo hàng tuần của sinh viên trường.

Nhờ vậy mà chỉ trong thời gian ngắn, ông đă nắm vững mọi ngóc ngách của nghề ảnh, từ chụp đến tráng phim, rọi ảnh và cả những giọt nước mắt cay đắng về bài học kiếm tiền.

Có một kỷ niệm chảy nước mắt trong đời cầm máy của sinh viên Vơ Ṭng Xuân là được trả nhuận ảnh bằng chữ cảm ơn. Lần đó, được vị mục sư mời chụp ảnh “Lễ đón b́nh minh ngày Chúa Phục sinh”, 4 giờ sáng ông vác máy lên đồi, t́m góc ngắm ưng ư rồi chụp hơn 3 cuộn phim. Hôm sau, cầm ảnh đi giao và thật bất ngờ, khi xem ảnh xong, vị mục sư gật đầu hài ḷng rồi nói vỏn vẹn: “Cảm ơn”.

Khi làm phóng viên không lương cho tờ “Sinh viên”, chàng Xuân xin vào pḥng thí nghiệm của Bộ môn Hoá để học nghề tráng phim, phóng và rửa ảnh và sử dụng pḥng tắm nhà trọ để làm “buồng tối”. Nhờ có nghề phụ này và nhuận bút viết báo mà ông có tiền học tiếp lấy bằng Master sau này. Đó là năm thứ ba đại học.

Thấy Đài Philippines phát sóng Chương tŕnh Văn hoá nhiều nước mà không có Chương tŕnh Việt nam, ông viết thư hỏi th́ được biết là do không có người. Chỉ chờ có vậy, ông t́m đến, xung phong nhận việc và tất nhiên là cũng với điều kiện không cần… nhuận bút. Sau thời gian học cách biên tập chương tŕnh, cách điều khiển các bộ phận trong pḥng thu thanh, ông làm rất chạy việc và được lănh đạo Đài tự nguyện trả công rất hậu.

Năm thứ tư đại học, ông được Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines nhờ làm thông dịch cho nhóm cán bộ diệt trừ sốt rét của Việt Nam sang học “Phương pháp huấn luyện cho người học nghề” do chuyên gia Hoa kỳ huấn luyện.

Ông nhớ lại: “Công việc chiếm rất nhiều thời gian, nhưng bù lại tôi có được phương pháp luận tiên tiến về nghiên cứu khoa học”. Và cũng nhờ đó mà khi được Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thu nhận sau khi tốt nghiệp Master, ông đă dễ dàng hoàn thành quyển sách “Cẩm nang huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản” (IRRI xuất bản 1972).

Có thể nói trong suốt quăng đời du học, chàng sinh viên Xuân không để lỡ một cơ hội luyện tập tay nghề nào. Tranh thủ lúc chụp ảnh đám cưới của chị Kim Vi, một sinh viên Việt Nam lấy chồng Philippines, ông làm quen với Bà Quizon, mẹ đỡ đầu của chị Kim Vi.

Là một điền chủ có nhiều ruộng lúa và vườn dừa ở tỉnh Batangas, nhưng các tá điền của bà lại rất nghèo do thiếu kỹ thuật canh tác. Thế là mỗi chủ nhật, ông đón xe đ̣ đến, huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản, và đem hạt giống lúa mới cho họ trồng. Nhờ đó các tá điền được thu nhập cao hơn và tất nhiên là ông cũng bỏ túi nhiều kinh nghiệm quư cho công tác nghiên cứu khoa học sau này.

Tốt nghiệp đại học, dù đối mặt với muôn vàn khó khăn do bị chấm dứt học bổng, nhưng ông vẫn nhất quyết học lấy bằng Master.

Tấm ḷng với quê hương

Năm 1971, vượt qua những cám dỗ vật chất, thạc sĩ Vơ Ṭng Xuân quyết định về nước và chọn Viện Đại học Cần Thơ làm “nhà”, với hy vọng có điều kiện nhân nhanh kiến thức nông nghiệp cho nhiều người dân. Hàng năm, ngoài công tác giảng dạy 7 môn học, ông đảm nhận hướng dẫn hơn 20 sinh viên làm công tŕnh tốt nghiệp.

Vẫn miệt mài với công việc ở tuổi xưa nay hiếm.

Lúc ấy ít người giỏi chịu về cái trường học mới này tại vùng quê Cần Thơ, nên thầy giáo Xuân phải tự nguyện dạy rất nhiều và hướng dẫn sinh viên nhiều như thế. Nhưng đồng lương dạy ở đại học Cần thơ không đủ xoay xài cho đại gia đ́nh mà thầy phải chăm nom: vợ con và gia đ́nh ba má và các em hai bên, nên thầy phải t́m việc làm thêm.

Rất may lúc ấy Công ty hoá chất nông nghiệp Thanh Sơn liên kết với Công ty Ciba-Geigy (Thụy Sĩ) mời thầy làm cố vấn giám đốc kỹ thuật với mức lương gấp 5 lần ở đại học. Dù bận việc giảng dạy tại trường và cố vấn cho công ty, nhưng thầy vẫn luôn nghĩ đến việc học để lấy bằng tiến sĩ.

Lúc đó mỗi năm trường Cao đẳng Nông nghiệp được Nhật bản cử giáo sư sang dạy và nghiên cứu. Trong đó có GS Jun Inouye, rất mê say cây lúa, đă cùng thầy nghiên cứu nhiều khía cạnh của các loại lúa của ĐBSCL.

Kết quả nghiên cứu này được tạp chí Crop Science (Nhật) cho đăng liên tiếp 3 bài. GS Inouye làm thủ tục cho thầy chọn phương án lấy bằng tiến sĩ dạng tại chức tại Đại học Kyushu. Tháng 2.1975, bảo vệ xong luận án, tiến sĩ Vơ Ṭng Xuân một lần nữa chọn quê hương để cống hiến.

Những năm đầu thống nhất đất nước, cuộc sống vô vàn khó khăn, nhưng ông vẫn tả xung hữu đột với công việc. Vừa đảm trách công tác quản lư, đứng lớp, hướng dẫn nghiên cứu sinh hoàn thành nhiều luận án thạc sĩ, tiến sĩ, vừa nghiên cứu nhiều giống lúa, đặc biệt là bộ giống Miền tây nổi tiếng, ông c̣n lặn lội khắp nơi từ Đồng Tháp Mười trũng phèn đến Tứ Giác Long Xuyên đồng khô cỏ cháy để giúp nông dân chinh phục thiên nhiên bất chấp những bản án vô h́nh chụp xuống đầu ḿnh với tội danh “phản động”.

Đến năm 2000, dù đến tuổi nghỉ hưu, nhưng ông lại tiếp tục nhận lấy trọng trách gầy dựng trường đại học cho quê hương An Giang với khát vọng được “nhân ḿnh” ra lo cho nông dân nhiều hơn...

Không chỉ tiết kiệm tối đa các khoản chi phí mỗi chuyến công tác ra nước ngoài theo diện thỉnh giảng, hội thảo khoa học... để bù đắp cho ngân quỹ nhà trường từ 4.000-5.000 USD/năm, thầy c̣n mang cả món quà mà tỉnh An Giang tặng cho thầy dưỡng già giao cho tổ chức Công đoàn bán để h́nh thành làng đại học cho giáo viên ổn định chỗ ở, an tâm dạy học.

Giờ đây dù đă bước vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng tấm ḷng với quê hương vẫn nguyên vẹn trong suy nghĩ của thầy như ngày nào: “Dù ở cương vị nào, tôi vẫn dốc toàn tâm, toàn lực chăm lo cho sự nghiệp trồng người, tạo nguồn nhân lực cho vùng sông nước cho đến khi nhắm mắt”.

 Lục Tùng


Nguồn : Lao Động  07/02/2007