Nghĩ trước mộ Trần Đông Phong trên đất Nhật

Lê Thị Thanh Tâm (*)

Nguồn : Văn Hóa Nghệ An

Trước ngày tôi đến Nhật (với tư cách là người nghiên cứu thời gian ngắn), thầy tôi đă căn dặn: Khi đến Tokyo, em nhớ thăm mộ cụ Trần Đông Phong nhé. Tôi nhớ lời và có xin thầy bản đồ hướng dẫn đường đến nghĩa trang có mộ cụ ở Toshima.

Mùa thu đầu tiên ở nước Nhật, đất dậy sóng của phong trào Đông Du cách đây hơn trăm năm, tôi vẫn c̣n thơ thẩn với bao dự định. Tôi vẫn cứ loay hoay măi với sách vở, nghĩ suy và sự ḥa nhập không dễ dàng với một đất nước Đông á duy nhất từ lâu đă thành cường quốc, tôi chưa thể nghĩ đến việc đi thăm cụ Phong như lời thầy dặn.

Rồi cơ duyên cũng đến. Một hôm, một đồng nghiệp lớn tuổi người Hà Nội (đă làm việc ở Nhật gần 20 năm) tâm sự: vừa rồi con trai bị ốm măi không khỏi, chắc phải đi xin cụ Phong thôi. Dù đă được thầy nhắc nhở phải cố đi thăm cho được mộ chí sĩ Trần Đông Phong, nhưng tôi cũng không h́nh dung hết được sự tôn kính và niềm tin đến vậy của những người Việt xa xứ đối với cụ. Nghe câu chuyện các sinh viên Việt Nam kể cho nhau, tôi càng ngạc nhiên hơn. Họ nói: "Sinh viên ở đây xin cụ ǵ cũng được, xin ǵ cụ cũng cho. Nghe cứ như một truyện truyền kỳ nào đó."

Ngày chúng tôi đến thăm mộ cụ là một buổi sáng nắng ấm, sau những ngày mưa băo dữ dội. Từ ga chính Shinjuki, sau khi bắt tuyến Yamanote chạy ṿng trung tâm Tokyo, chúng tôi chuyển sang tàu điện nhỏ xíu khá cũ chạy leng keng trên mặt đường phố quận Toshiba, gọi là tàu điện tuyến Toden Arakawa. Người đồng nghiệp Hà Nội bâng khuâng bảo: giống tàu điện xưa ở Hà Nội đấy. Không chỉ tàu điện nhỏ, quận Toshiba sao cũng buồn vắng như cái không khí có trong mấy tấm ảnh cũ cũ về ba mươi sáu phố phường đất kinh ḱ.

Nghĩa trang Zoshigaya Reien

Đến nghĩa trang Zoshigaya Reien, chúng tôi theo phong tục người Nhật, định mua ngay được hương, hoa và xách một xô nước bằng gỗ có chiếc gáo nhỏ tṛn rất xinh, cùng với một cây chổi thanh thanh để quét dọn mộ. Nhưng hôm ấy lại là ngày nghỉ. Chúng tôi đứng ngơ ngẩn. Không ai bán hoa, bán hương, không xô nước, không chổi. Sao thế nhỉ? Đồng nghiệp tôi nói: Biết làm thế nào. Hay là khấn không thôi nhỉ. Vào khấn thôi. Nghĩ thế, tôi thấy thương cụ quá. Con cháu đi thăm mà không có ǵ để phúng viếng. Ít phút sau, bỗng dưng có người phụ nữ Nhật lớn tuổi mở cửa, cười rất tươi. Bà nói hôm nay ngày lễ nghỉ, nhưng nếu mọi người muốn vào viếng th́ bà tặng hương, không cần mua. Hoa th́ có thể mua cửa hàng bên cạnh (khi ấy cửa hàng bên cạnh cũng tự nhiên hé mở), chỉ c̣n mấy bó thôi. Xô nước và chổi bà cũng cho mượn. Mừng quá.

Người dẫn đường của chúng tôi không hiểu sao lại nhầm đường. Măi gần một tiếng mà vẫn không t́m được mộ. Mấy con quạ đen cứ bay nhao nhác. Tôi lỡ thắp hương nên cứ cầm trên tay măi, vừa cầm hương vừa đi t́m mộ cụ. Thi thoảng hương cứ lóe cháy phừng phừng rất lạ. Đặc điểm thế nào cô? Mộ cụ cũ, không giống mộ người Nhật lắm, trông rất đơn giản; Đường vào có cây thông nhỏ thấp nghiêng nghiêng. Trời, chỗ nào cũng có thể có cây thông nghiêng nghiêng.

Tôi nhớ đến câu chuyện của thầy tôi kể. Khi xưa thầy đến thăm mộ cụ Phong, đi cũng khá đông người, t́m cả ngày không ra mộ. Đến khoảng 6 giờ chiều, tuyệt vọng, tất cả kéo nhau ra về. Nhưng cứ đi ra hướng cổng th́ lại lạc vào trong, cứ đi ra lại là đi vào, trời đă tối dần, rồi thầy bảo, tự nhiên như có ma lực, trong bóng chiều sắp tối, tất cả lại đi vào trong nghĩa trang theo một sự hướng dẫn nào đó vô h́nh, và hơn mươi phút sau đă t́m thấy mộ. Mọi người xúc động quá, trước mắt là bia mộ ghi rơ ḍng chữ Hán: Đồng bào chí sĩ Trần Đông Phong chi mộ. Khấn vái xong, thầy về nhà mà đắp chăn, người cứ ớn lạnh từng cơn. Sao cụ lại thiêng đến thế.

Đến lượt chúng tôi, lát sau cũng t́m được mộ. Mà t́m được là v́ vô t́nh có một bà cụ người Nhật sống lâu ở nghĩa trang chỉ cho. Mộ nằm trên dăy 1-4A-14. Tôi có cảm giác rất lạ khi đứng trước mộ cụ. Tôi nh́n rơ hai bó hoa ai đó viếng c̣n mới thơm cắm ngay ngắn cùng với hai bó hương đă tàn. Vậy là vừa có sinh viên hay người Việt Nam đến viếng. Mọi người đă nói với tôi, mộ cụ lúc nào cũng có hương hoa, lúc nào cũng được dọn sạch cỏ. Trong tôi trào lên một nỗi niềm không sao tả được. Nơi này, từ tên quận, tên đường, tên nghĩa trang, tên khu mộ, đều không có lấy một ḍng chữ Việt Nam. Nhưng lại có một “đồng bào chí sĩ” ra đi từ phong trào Đông Du nằm yên đă trăm năm.

Nơi này, một con người đă tuẫn tiết ở tuổi hai mươi với lá thư tuyệt mệnh: “Nhà tôi giàu có, cả tiền với thóc, kể đến hàng vạn, mà gần đây học phí trong trường, chỉ là nhờ Nam Kỳ cấp cho anh em, tôi đă nhiều lần viết thư về nhà, khuyên cha tôi bắt chước làm như ông Trương Tử Pḥng, phá sản v́ nước, cha tôi không trả lời. Tôi nghĩ tôi là con một nhà giàu, xấu thẹn với anh em quá, nên tôi phải tự vẫn cho cha tôi biết chí tôi, và cũng để tạ tội với anh em”. Những ḍng chữ nghĩa khí tiết liệt đă khiến Kỳ ngoại hầu Cường Để kính phục đến mức đích thân người đă xây mộ cho ông ngay trên đất Nhật, và về sau, xương cốt Cường Để một phần cũng nằm trong ngôi mộ của chí sĩ này.

                 

Chúng tôi cắm hoa, thắp hương cho cụ. Ngôi mộ cực kỳ giản dị, không hề có một nét hoa văn nào. Tường mộ lấm rêu, nhiều phần xi măng mỏng vỡ loang. Cảm giác gặp được người Việt ở nước ngoài b́nh thường đă khiến tôi cảm động. Nhưng cảm giác t́m được nấm mộ người xưa ở nước ngoài là một kinh nghiệm rất đặc biệt. Nhất là mộ của một chí sĩ đă chết “độc nhất vô nhị” trong lịch sử dân tộc: “Nhà tôi giàu có nhưng đất nước có bị diệt vong cũng không giúp được ǵ th́ tôi c̣n mặt mũi nào nh́n thiên hạ nữa...”. Tự sát ở chùa Tohoji nơi xứ người, Trần Đông Phong đă để lại một câu chuyện cảm động kỳ lạ về ḷng ái quốc. Một trí thức ưu tú, người làng Di Luân, xă Đồng Văn, huyện Thanh Chương, xuất thân từ một gia đ́nh giàu có bậc nhất ở Nghệ An, đă chết theo cách riêng của ḿnh, mà lập luận dai dẳng đắng cay cho đến lúc chết là: có tiền mà vong quốc th́ không thể sống được. ư nghĩ giản dị này ám ảnh tôi măi, nó sống trong tâm trí tôi hơn vô số những khẩu hiệu quen thuộc được dán đầy ở các cung đường chính nơi quê nhà. Chao ôi, ư nghĩ giản dị và quí giá đó nếu như được nuôi dưỡng trong tâm hồn người Việt bao lâu nay thật mạnh mẽ và sâu sắc th́ hẳn mọi sự làm giàu đều chính đáng, đều hướng đến sự sang trọng đúng nghĩa của nó, cái sang trọng đích thực sẽ đẻ ra một nền văn hóa cao cấp, nền văn hóa của tự do (chứ không phải một cơn khát làm giàu đầy ngạo mạn mà vẫn nô lệ).

Có tiền mà vong quốc th́ không thể sống được- quan niệm tử sinh gắn liền với quan niệm giá trị của Trần Đông Phong được đảm bảo tính trung thực bằng cái chết. Những ḍng chữ cuối cùng để lại của cụ không phải là lời nói suông, không phải là lời thề sáo rỗng. Cái chết của Trần Đông Phong thực sự bất tử, không phải là sự bất tử tự nó, mà lịch sử và những khúc quanh của thời đại ở xứ sở cội nguồn người Việt đă làm cho cái chết ấy càng sáng lên nhiều giá trị, càng bắt người ta phải đối diện lâu dài và bền bỉ với công cuộc “chấn hưng” hồn vía và văn hóa dân tộc.

Cách đây hơn một thế kỷ, người ta sẵn sàng hy sinh mạng sống v́ quyền được thoát khỏi “phận dă man”, đời nô lệ; Người ta sẵn sàng bỏ thân v́ không chịu nổi sự nhục nhă của cảnh ngộ đồng tiền đang vô tâm ngự trị trong sự khốn cùng của đồng bào, đất nước. Nỗi thao thức về đồng tiền trong cuộc duy tân và hiện đại hóa dân tộc (tuy không được nói nhiều, bàn nhiều, như là đề tài cấm kỵ vô h́nh) từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX của một chí sĩ Việt Nam vẫn là câu chuyện dài của thế kỷ XXI, thậm chí câu chuyện ấy ngày càng nhiều biến thái, nhiều kịch bản hơn… Hẳn những bậc hào kiệt năm xưa khi xuất dương không tưởng tượng nổi 100 năm sau, cũng ở ngay trên xứ sở “đồng bào”, báo chí đăng nhan nhản cái cụm từ tham nhũng là quốc nạn như một thứ tin tức hằng ngày, đến nỗi dường như nó là điều b́nh thường không có ǵ phải nghĩ. Ngày nay, người ta cũng có thể nghĩ đến tự sát, có thể chết v́ đồng tiền, nhưng chắc chắn không phải với cái nghĩa khí đáng tôn vinh kia, mà chết v́ không thể vơ vét được nhiều hơn nữa…

Lịch sử ghi lại hằng hà những tấm gương nghĩa khí, nhưng cái chết của Trần Đông Phong là trường hợp quá đặc biệt: chết v́ hổ thẹn, chết không v́ lỗi của ḿnh, mà v́ gia đ́nh ḿnh không hy sinh của cải cho đất nước. Điều này vượt ra ngoài phạm vi, ngoài hành vi của một con người cụ thể, vượt ra ngoài cái nghĩa khí thông thường. Câu chuyện về ḷng ái quốc ḥa quyện trong câu chuyện biết xấu hổ, câu chuyện nhân cách. Mà điều ấy, thời xưa đă hiếm, thời nay c̣n hiếm gấp bội; xảy ra ở nước người cũng là quí, xảy ra ở nước ta c̣n quí gấp bội… Tôi càng ngẫm nghĩ càng thấy vẻ đẹp cao thượng này của chí sĩ Trần Đông Phong quả thực là một ẩn số của lịch sử. Trong câu chuyện ấy, sao mà có quá nhiều thứ để hậu thế suy gẫm, cái chết ấy là thứ kỷ luật của tâm hồn, đạo đức của tâm hồn, là tấm gương một liệt sĩ-chí sĩ (chết v́ suy nghĩ, v́ đẳng cấp nhân cách), là niềm tin của hiện tại đối với… quá khứ, là sản phẩm của tinh hoa giáo dục truyền thống (cá nhân chịu trách nhiệm cho gia đ́nh), là câu hỏi về mục đích và ư nghĩa chân chính của sự làm giàu, …

Từ một chí sĩ, cụ Trần Đông Phong giờ giống như vị thần hoàng trong đ́nh làng Việt Nam ở ngay trên đất Nhật. Người ta mặc nhiên cúng tế, sùng tin. Người đi trước mách người đi sau. Kẻ du học cũng như người lập nghiệp. Người ta tin cụ, đến viếng cụ, xin cụ cho học giỏi, cho sức khỏe, cho danh vọng… Có người đến viếng cụ v́ thương cảm, cảm phục, cũng có người đến cụ v́ nghe nói cụ rất thiêng, cũng có người đến để biết mộ người Việt ở nghĩa trang Nhật Bản thế nào. Tôi trộm nghĩ biết đâu cái xứ Thần Đạo này v́ cảm thương linh hồn xa xứ của cụ, cũng để cho cụ nhập vào cái tâm linh mênh mông của họ, nên giờ đây cụ cũng là “vị thần” cho các lưu học sinh, người Việt Nam đang sống và học tập ở nước Nhật này.

Tôi nh́n mộ cụ, không có ảnh, đúng như mộ người Nhật. Cả trăm năm cụ vẫn nằm đấy, lặng lẽ vô h́nh phù hộ cho những ai là con dân Việt Nam bước chân đến Nhật, không biết có phải v́ hồn linh ấy măi hướng về cố quốc, hay bởi ánh sáng của phong trào Đông Du năm xưa vẫn c̣n le lói trong một nấm mồ? Tôi nghe nói dường như qua con đường tâm linh nào đó liên quan tới cụ Koyama Katsuzo – người có công thành lập “Hội Giáo dục Việt Nam của thành phố Gunma” tại Nhật - người ta được biết hồn cụ Phong mong được về lại Việt Nam bởi cụ đă biệt xứ đến trăm năm có lẻ.

Nhưng nếu đưa cụ về Việt Nam th́ những người đến Nhật như chúng tôi lại thiếu vắng lắm... Cụ đă chết như một vơ sĩ đạo, dưới gốc cây một ngôi chùa, khác nào câu chuyện chỉ có trong kịch Nô, trong tiểu thuyết Nhật, nhưng đối với tâm linh và văn hóa Việt Nam, điều cao quí hơn trong cái chết v́ đại nghĩa ấy, theo tôi, là sự nhắc nhở âm thầm sâu sắc về sứ mệnh của trí thức đối với giống ṇi. Tôi vẫn măi băn khoăn: nền giáo dục nào, hệ tư tưởng nào, tầng văn hóa nào đă tạo ra những con người khí phách và cao thượng đến dường ấy…

Tôi đứng nh́n ngôi mộ Trần Đông Phong đơn sơ giữa nước Nhật giàu có. Mộ cụ vẫn như ngày chôn cất năm xưa, nước Nhật vẫn là cường quốc Đông á, Việt Nam vẫn c̣n đang trên đường “hứa hẹn” hiện đại hóa; du học sinh Việt Nam vẫn nhiều, và ngày càng nhiều hơn thế kỷ trước, nhưng khí khái và hoài băo của Đông Du chí sĩ ngày nào chắc phần lớn chỉ c̣n trong kỷ niệm, bảo tàng, hội thảo. 100 năm trước đây, biết bao chí sĩ từ đất Việt ra đi đến xứ mặt trời mọc với tâm niệm và sứ mệnh cao cả: cứu nước bằng ánh sáng trí tuệ. Mấy chục năm sau, cho đến bây giờ, vẫn ồ ạt những cuộc du học bằng đủ mọi phương tiện hỗ trợ, và “chắc là”, cũng hướng đến văn minh, hiện đại, xây dựng Tổ quốc cách này cách khác... Những chuyến đi vẫn tiếp diễn, các chí sĩ được thay bằng các lưu học sinh đủ mọi lứa tuổi, nguồn tài chính không quá ngặt nghèo như trước nữa, không “bi kịch” như trước nữa… Mọi thứ bề thế hơn, dễ dàng hơn, nhân danh điều này điều khác nhiều hơn, duy chỉ có niềm khát vọng thoát khỏi “phận dă man” của những tâm hồn v́ giống ṇi th́ vẫn cứ là… khát vọng, thậm chí vẫn cứ là… hoài vọng.

Tôi nghĩ đến hoài băo cháy bỏng của lớp thanh niên trí thức hồi đầu thế kỷ của phong trào Đông Du. Rồi lại nghĩ đến hàng vạn người dân trong nước mong ngóng t́m việc làm ở nước ngoài với giá nhân công rẻ mạt và bao rủi ro khốn đốn… Cảm giác “tủi phận dă man” ngày trước có cái ǵ thật cao cả, bây giờ cũng vẫn cảm giác “tủi phận” đó, chỉ có điều ít nhiều nó được gắn thêm cái tiếp vĩ ngữ “đói nghèo”, “lạc hậu” nữa.

Viếng thăm nấm mộ một anh hùng Việt Nam ngay trên đất Nhật, biết đâu người ta mới đủ cảm xúc và dư chấn để nghe được một cách rơ ràng hơn tiếng vọng hoài băo người xưa, biết đâu từ khoảnh đất được đánh số lạnh lẽo ở nghĩa trang lại dấy lên chí lớn và những nghĩ suy về dân tộc, và biết đâu, nấm mộ đơn sơ lấm rêu này sẽ là một chứng tích vô giá cho những ai có cơ hội vượt qua biên giới xứ sở để hiểu được, dù là một chút, số phận và vinh dự, cái chết và sự sống, ḷng ái quốc và đức hy sinh, t́nh yêu và dự cảm của những anh hùng lưu biệt một thời.

***

Trở về t́m những ǵ được nói lên từ trái tim, từ khối óc cụ Trần Đông Phong, tôi thấy đủ cả tâm lí họa phúc đắp đổi, bĩ cực thái lai, hùng tâm tráng chí và khát vọng hưng quốc mănh liệt chưa từng thấy:

“Họa hề phúc sở ỷ
Phúc hề họa sở phục”

Gẫm đạo trời khi bĩ có khi hanh
Mở mắt coi thế giới văn minh
Ai cách mạng, ai cộng ḥa, ai dân chủ, ai dân quyền
Những ai ấy cạnh tranh thời đại
Năm canh trót nghĩ đi rồi nghĩ lại
Giọt vắn dài riêng tủi phận dă man
Mấy năm nay đứt ruột với giang san
Vua như thế, quan như thế, mà quan sau cũng như thế
Anh em thảy đồng bào tương hệ
Tính răng đây? sao nỡ ngáy kḥ kḥ
Trên đă đành giáo huấn không lo
Dưới ta phải tu sinh cho hợp đạo
Bỏ ư gian tham, bỏ ḷng kiêu ngạo
Bỏ riêng, bỏ , bỏ vơ, bỏ váo
Bỏ dại, bỏ khờ, bỏ lường, bỏ láo
Bỏ cho hết thói cũ sạch sành sanh
Trên đă đành năm triệu chẳng lành
Của của ḿnh, nhà nhà ḿnh, nước nước ḿnh
Nỡ để ấy ai dành mà ai dỗ
Có khó mới biết khôn, muốn khôn phải chịu khó
Gánh thảo ngay dành để cho ai
C̣n non, c̣n nước, c̣n dài

Bài ca trù này có thể chỉ được t́m thấy trong sách khảo cứu về thơ ca Đông Du, nhưng thực ra, nó đă sống với anh linh Trần Đông Phong và con đường thăng trầm hiện đại hóa của nước Việt ta suốt cả thế kỷ nay.

Fuchu-shi, Tokyo, mùa thu 2010

 

.....................

 

Bị chú của ERCT :

Trần Đông Phong(1887 - 02/05/1908) quê ở làng Di Luân, xă Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, là chí sĩ thuộc Phong trào Đông Du, được Phan Bội Châu đưa sang Nhật năm 1908. Sau nửa năm sống ở Nhật, cuộc sống của các du học sinh sa vào t́nh cảnh cực ḱ cùng quẫn. Ông đă nhiều lần biên thư về nước cầu xin bố mẹ bỏ tiền giúp học sinh du học, nhưng không có hồi âm của gia đ́nh. Trước t́nh thế bi đát của phong trào Đông Du lúc bấy giờ, ông để lại thư tuyệt mệnh giàu nghĩa khí và tự sát dưới gốc cây lớn của chùa Tohoji thuộc Koishikawa.
(H́nh ảnh trong bài trích từ WikiPedia)

Vài hàng về tác giả :

Lê Thị Thanh Tâm, sinh năm 1975 tại Hưng Yên
Tốt nghiệp đại học Ngữ văn năm 1997, trường Đại học Khoa học xă hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh (Đại học Tổng hợp cũ)
Thạc sĩ Văn học Việt Nam năm 2000, trường Đại học Khoa học xă hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Tiến sĩ chuyên ngành Lư thuyết và lịch sử Văn học năm 2007, trường Đại học Khoa học xă hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy: Văn hóa văn học Phật giáo (Thơ thiền), văn học so sánh.
Giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học xă hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Hiện đang ở Nhật, học giả nghiên cứu so sánh văn học Nhật Bản và Việt Nam, học bổng của Quĩ Giao lưu quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation)

 

 

(*)