Nhật Bản, sự nhập nhằng, và bản thân tôi

Kenzaburo Oe    -    Diễn từ Nobel năm 1994

Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính
Phùng Thanh Phương dịch

Nguồn : talawas.org

 

Trong thời gian diễn ra cuộc Thế chiến thứ nhất tàn khốc, tôi hăy c̣n là một cậu bé sống ở một thung lũng xa xôi vây quanh bởi những khu rừng trên ḥn đảo Shikoku thuộc quần đảo Nhật Bản, cách nơi đây hàng ngàn dặm.

Ngày đó có hai quyển sách mà tôi hết sức say mê: đó là Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn [1] Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils [2] .

Rồi sau đó thế giới bị vây bọc bởi những làn sóng hoảng sợ. Bằng việc đọc câu truyện về Huckleberry, tôi cảm thấy tôi có thể lư giải việc ḿnh đi vào rừng vào ban đêm và ngủ giữa đám cây rừng với cảm giác an toàn không thể nào có nổi khi ở trong nhà. Nhân vật chính trong tác phẩm Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils biến h́nh thành một sinh vật nhỏ, hiểu được tiếng nói của loài chim và phiêu lưu mạo hiểm. Từ câu chuyện đó tôi đă t́m được rất nhiều niềm vui. Thứ nhất, là một cậu bé sống tại chốn rừng sâu xa xôi của đảo Shikoku như tổ tiên tôi vốn sống từ bao đời nay, tôi đă khám phá ra rằng thế giới này và lối sống này thật sự cho ta tự do. Thứ hai, tôi đồng cảm và tự coi ḿnh cũng như cậu bé Nils kia, một cậu nhỏ hư nết, trong lúc rong ruổi khắp nơi trên đất nước Thụy Điển đă cùng chung sống và chiến đấu bảo vệ loài ngỗng trời, rồi trở thành một chàng trai, vẫn nguyên vẹn tính ngây thơ song đầy tự tin và cũng rất khiêm nhường. Cuối cùng khi trở về nhà, Nils chuyện tṛ với cha mẹ. Tôi cho rằng niềm vui sướng lớn lao nhất mà tôi có được từ câu chuyện xuất phát từ ngôn ngữ của nó, bởi tôi như được thanh lọc và nâng cao lên khi tôi cùng nói với Nils những lời sau:

"Cha ơi, Mẹ ơi! Con lớn rồi. Con lại được làm người rồi!"

Đặc biệt, tôi vô cùng thích thú câu "Con lại được làm người rồi". Khi lớn lên, tôi liên tiếp phải đối mặt với những khó khăn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống - trong gia đ́nh, trong mối quan hệ với xă hội Nhật Bản và trong lối sống tự do của tôi ở thời kỳ nửa sau thế kỷ 20 này. Tôi đă sống sót được nhờ tái hiện những đau khổ và khó khăn đó dưới h́nh thức tiểu thuyết. Trong quá tŕnh đó, tôi tự thấy ḿnh nhắc đi nhắc lại, gần như là với những tiếng thở dài câu "Con lại được làm người rồi". Tại đây, trong lúc này, có lẽ tự nói về ḿnh như vậy thật không được phù hợp lắm. Tuy vậy, hăy cho phép tôi nói rằng về căn bản, phong cách viết của tôi khởi nguồn từ những vấn đề cá nhân, sau đó gắn kết chúng với xă hội, với cuộc đời và với thế giới này. Tôi hy vọng các bạn sẽ tha thứ cho tôi nếu tôi nói thêm chút nữa về những vấn đề của cá nhân ḿnh.

Gần nửa thế kỷ trước đây, khi sống trong chốn rừng sâu đó, tôi đọc Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils và dự cảm được hai điều. Một là, có thể một ngày nào đó tôi sẽ hiểu được tiếng của loài chim. Hai là, một ngày nào đó tôi sẽ có thể bay cùng loài ngỗng trời yêu mến của ḿnh, thích hơn cả là đến được xứ Scandinavia.

Sau khi lập gia đ́nh, con trai đầu ḷng của chúng tôi bị thiểu năng trí tuệ. Chúng tôi đặt tên cháu là Hiraki, tiếng Nhật có nghĩa là "ánh sáng". Hồi c̣n nhỏ cháu chỉ đáp lại những tiếng chiêm chiếp của loài chim và không có phản ứng ǵ với tiếng người. Mùa hè nọ, khi cháu lên sáu, cháu nghe thấy tiếng một cặp chim sẻ nước líu lo từ một khu hồ bên kia rừng, và cháu nói với giọng giống như một người đọc lời b́nh cho đoạn ghi tiếng chim: " Đó là tiếng chim sẻ nước". Đây là lần đầu tiên con trai tôi nói được. Và cũng kể từ đó tôi và vợ tôi bắt đầu có thể tṛ chuyện được với cháu.

Hikari hiện đang làm việc tại một trung tâm dạy nghề cho người khuyết tật, một cơ sở xây dựng dựa trên những ư tưởng chúng tôi học tập được từ Thụy Điển. Cháu cũng sáng tác nhạc. Chính loài chim đă khơi nguồn cho những sáng tác nhạc của cháu. Thay cho tôi, Hiraki đă biến thành sự thật điều dự cảm thứ nhất của tôi là một ngày nào đó tôi có thể hiểu được tiếng chim. Tôi cũng phải nói rằng tôi cũng sẽ không thể sống được nếu không có vợ tôi, với sức mạnh và sự khôn ngoan vốn có của người phụ nữ. Cô ấy chính là hiện thân của nhân vật Akka, con chim đầu đàn dẫn đường cho Nils. Cùng với vợ tôi, tôi đă bay tới Stockholm và điều dự cảm thứ hai của tôi, vui sướng làm sao, cũng đă trở thành hiện thực.

Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản đầu tiên đứng trên diễn đàn này với tư cách người đoạt giải Nobel văn học, đă đọc bài phát biểu có tiêu đề "Nhật Bản, cái Đẹp và bản thân tôi". Tiêu đề đó thực đẹp và đồng thời rất mơ hồ. Tôi dùng từ "mơ hồ" ("vague" trong tiếng Anh) có nghĩa giống như từ "aimaina" trong tiếng Nhật. Tính từ này trong tiếng Nhật có vài cách dịch khác nhau sang tiếng Anh. Sự mơ hồ ấy được Kawabata chủ ư thể hiện trong chính tiêu đề bài phát biểu của ḿnh. Nó có thể được hiểu là "Cái tôi của nước Nhật Bản xinh đẹp". Sự mơ hồ của toàn bộ tiêu đề xuất phát từ hư từ "no" trong tiếng Nhật, (nghĩa đen là "của") nối giữa hai chữ "cái tôi" và "nước Nhật Bản xinh đẹp".

Sự mơ hồ của tiêu đề khiến người ta có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể được hiểu là "Bản thân tôi với tư cách một phần của nước Nhật Bản xinh đẹp", trong đó hư từ "no" thể hiện quan hệ sở hữu cách giữa danh từ đứng trước và danh từ đứng sau. Tiêu đề đó cũng có thể được hiểu là "Nước Nhật xinh đẹp và bản thân tôi,", trong trường hợp này hư từ "no" liên kết hai danh từ đồng vị, và thực tế các danh từ này cũng được một trong những chuyên gia người Mỹ hàng đầu về văn hóa Nhật dịch sang tiếng Anh theo cách đồng vị như vậy. Ông dịch "Nhật Bản, cái Đẹp và bản thân tôi". Có thể thấy đây quả là một cách xử lư bậc thầy và không hề có chuyện "dịch là phản" (dịch làm sai lệch nghĩa) như người ta vẫn e sợ.

Dưới tiêu đề đó, Kawabata nói về một dạng thức đặc thù của huyền học không chỉ tồn tại trong tư tưởng Nhật Bản mà c̣n là một tư tưởng phương Đông rất phổ biến. Dùng chữ "đặc thù", tôi muốn nói đến xu hướng Thiền tông trong Đạo Phật. Là một nhà văn của thế kỷ XX, nhưng Kawabata mô tả trạng thái tinh thần của ḿnh bằng những bài thơ viết theo lối của các thiền sư thời trung cổ. Phần nhiều các bài thơ này đều nói tới sự bất lực của ngôn từ trong việc mô tả chân lư. Theo những bài thơ đó, ngôn từ bị hạn chế bởi vỏ bọc khép kín của nó. Độc giả không thể trông đợi từ ngữ sẽ thoát ra khỏi những bài thơ này và đến được với ḿnh. Ta sẽ không bao giờ hiểu nổi và đồng cảm được với những bài thơ Thiền này trừ khi ta từ bỏ những hạn định của bản thân và sẵn sàng thâm nhập vào thế giới khép kín của những ngôn từ đó.

Tại sao Kawabata lại dũng cảm quyết định đọc những bài thơ vô cùng bí ẩn đó bằng tiếng Nhật trước khán giả ở Stockholm? Tôi nh́n lại hầu như với một nỗi u hoài sự dũng cảm tuyệt vời đó, sự dũng cảm ông đă thụ đắc được vào cuối sự nghiệp xuất chúng của ḿnh, và với sự dũng cảm đó ông đă khẳng nhận niềm xác tín của ḿnh. Kawabata từng là tín đồ hành hương trên con đường sáng tạo nghệ thuật dài hàng thập kỷ, trên con đường đó ông đă sản sinh được vô vàn kiệt tác. Sau những tháng ngày hành hương đó, chỉ bằng cách thú nhận niềm say mê tột cùng của ḿnh với những bài thơ Nhật Bản bí ẩn kia, từng làm đau đầu bất cứ ai cố gắng thấu hiểu chúng, ông mới diễn tả được về "Nhật Bản, cái Đẹp và Bản thân tôi", nghĩa là, diễn tả về cái thế giới trong đó ông sống và về những văn chương ông sáng tạo.

Hơn nữa, điều cũng rất đáng lưu ư là, Kawabata đă kết thúc bài phát biểu của ḿnh như sau:

"Tác phẩm của tôi được mô tả là những tác phẩm về cái không (emptiness), nhưng ta không thể lẫn nó với cái hư vô (nihilism) của Phương Tây. Nền tảng tinh thần của nó hoàn toàn khác. Thiền sư Đạo nguyên (Dogen) đặt tên cho bài thơ về bốn mùa của ḿnh là "Bản lai diện mục" và ngay cả lúc ông ngợi ca vẻ đẹp của bốn mùa, ông vẫn ch́m đắm trong tư tưởng Thiền". (bản dịch tiếng Anh của Edward Seidensticker).


Ở đây, một lần nữa tôi được thấy sự tự đánh giá thẳng thắn và dũng cảm của ông. Một mặt Kawabata xác định ḿnh đi theo truyền thống của triết học Thiền và cách thức cảm thụ cái đẹp xuyên suốt nền văn học cổ điển phương Đông. Thế nhưng, mặt khác ông đă vượt lên khỏi bản thân ḿnh để phân biệt tánh không, vốn là đặc trưng cho những tác phẩm của ḿnh, với chủ nghĩa hư vô của phương Tây. Khi làm vậy, ông đă nhiệt thành hướng tới những thế hệ mai sau của loài người, những thế hệ mà Alfred Nobel đă gửi gắm niềm tin và hy vọng.

Cũng xin bày tỏ thật ḷng rằng, khác với Kawabata, người đồng hương của tôi đă đứng nơi này hai mươi sáu năm trước đây, tôi thấy, về phương diện tinh thần, tôi lại tương đồng khắng khít hơn với nhà thơ người Ailen William Butler Yeats, người đoạt giải Nobel văn học bảy mươi năm trước vào độ tuổi tôi bây giờ. Dĩ nhiên, tôi không định xếp ḿnh ngang hàng với nhà thơ thiên tài Yeats. Tôi chỉ là một môn đệ khiêm tốn sống tại một nước xa xôi. Như William Blake, nhà thơ với những tác phẩm được Yeats trả lại đúng giá trị và phục hồi vị trí cao quư trong văn chương thế kỷ này, đă từng viết " Băng qua Châu Âu và Châu Á, tới Trung Hoa và Phù Tang như ánh chớp sáng ḷa".
Trong những năm gần đây, tôi dành nhiều thời gian viết một tác phẩm bộ ba mà tôi mong sẽ là đỉnh cao trong hoạt động văn học của ḿnh. Cho tới nay đă xuất bản được hai phần, gần đây tôi đă viết xong phần thứ ba và là phần cuối. Tiêu đề phần này trong tiếng Nhật có nghĩa là "Cây xanh rực lửa". Tôi đă có được tiêu đề này từ một đoản khúc trong bài thơ "Vacillation" (tạm dịch: "Chập chờn") của Yeats:

Và ḱa đó một cây xanh với những nhành cao ngất
Nửa lấp lánh lửa hồng nửa biếc xanh
Tán rộng dày đẫm ướt sương mai...

(Vacillation 11 - 13)


Thực sự, tác phẩm bộ ba của tôi thấm đẫm ảnh hưởng những bài thơ của Yeats. Trong dịp Yeats đoạt giải Nobel Văn học, thượng viện Ailen đă đưa ra những lời chúc mừng ông, trong đó có đoạn sau:

... thông qua thành công của ông, tổ quốc chúng ta đă được công nhận có đóng góp nổi bật cho nền văn hóa thế giới.
... Chúng ta, một dân tộc trước đó chưa được chấp nhận vào cộng đồng hữu hảo các quốc gia trên thế giới.
... Nền văn minh của chúng ta sẽ được đánh giá bằng tên tuổi của Nghị sỹ Yeats.
... Sẽ luôn có nguy cơ nổi loạn của những người bị mất đi lư trí, điên rồ đuổi theo sự hủy diệt.

(Giải Nobel: Lời chúc mừng gửi tới Nghị sĩ Yeats)


Yeats là nhà văn mà tôi muốn theo chân. Tôi muốn làm việc đó v́ một đất nước khác mà giờ đây đă đuợc "chấp nhận vào cộng đồng hữu hảo các quốc gia trên thế giới", nhưng là nhờ công nghệ điện tử và ngành sản xuất ô tô. Đồng thời, tôi muốn làm việc đó với tư cách công dân một đất nước bị đẩy vào sự "điên rồ đuổi theo sự hủy diệt" cả trên mảnh đất quê hương ḿnh lẫn trên đất các quốc gia láng giềng.

Là một con người sống trong thế giới hiện tại như thế giới này, và sẻ chia nhũng kỷ niệm cay đắng của quá khứ hằn sâu trong tâm khảm, tôi không thể đồng ḷng thốt lên những lời như của Kawabata: "Nhật Bản, cái Đẹp và bản thân tôi". Một phút trước đây, tôi đă đề cập đến sự "mơ hồ" của tiêu đề và nội dung bài phát biểu của Kawabata. Trong phần c̣n lại của bài phát biểu của ḿnh, tôi muốn dùng chữ "nhập nhằng" (tiếng Anh: "ambiguous") theo nghĩa mà nhà thơ nổi tiếng người Anh Kathleen Raine đă phân biệt khi có lần bà đă nhận xét về William Blake rằng thơ ông nhập nhằng hơn là mơ hồ. Tôi không thể nói khác đi về ḿnh ngoài việc nói rằng "Nhật Bản, sự nhập nhằng và bản thân tôi".

Tôi nhận thấy, sau một trăm hai mươi năm hiện đại hóa kể từ buổi đầu mở cửa, nước Nhật ngày nay bị chia sẻ thành hai thái cực đối nghịch của sự nhập nhằng. Tôi cũng là một nhà văn sống trong đất nước ấy, với sự phân cực này như một vết sẹo khắc sâu trong tôi.

Sự nhập nhằng ấy mạnh mẽ và xuyên suốt đến nỗi nó làm phân chia cả nhà nước và nhân dân theo nhiều cách. Quá tŕnh hiện đại hóa của Nhật Bản đă được xác định theo chiều hướng học tập và bắt chước phương Tây. Tuy vậy, Nhật Bản nằm trong Châu Á và vẫn bền bỉ duy tŕ những truyền thống văn hóa của ḿnh. Định hướng nhập nhằng đó của Nhật Bản đưa đất nước này vào vị thế một kẻ đi xâm lấn ở châu Á. Một đằng, nền văn hóa của Nhật Bản hiện đại hoàn toàn mở ra phương Tây, một đằng th́ ít nhất cũng ngăn không cho người phương Tây hiểu nó. Và hơn nữa, Nhật Bản bị đẩy vào thế cô lập với các quốc gia châu Á khác không chỉ về chính trị mà c̣n cả về xă hội và văn hóa.

Trong lịch sử văn học hiện đại của Nhật Bản, những nhà văn chân thành nhất và hiểu rơ nhất sứ mệnh của ḿnh là những nhà văn thời hậu chiến, những người đến với sân khấu văn học ngay sau cuộc Chiến tranh cuối cùng, bị cuộc chiến làm tổn thương nặng nề song vẫn tràn trề hy vọng về một cuộc hồi sinh. Họ đă gắng sức và chịu nhiều đau thương để bù đắp lại những hành vi vô nhân đạo quân đội Nhật đă gây ra ở các nước Châu Á và lấp đi khoảng cách lớn không chỉ giữa các nước phát triển phương Tây và Nhật Bản mà c̣n giữa các nước châu Phi, châu Mỹ La tinh và Nhật Bản. Chỉ bằng hành động như vậy, họ mới có thể t́m được với chút khiêm nhường nào đó sự hoà giải với thế giới. Tôi cũng đă và luôn luôn mang trong ḿnh nỗi khao khát đi theo đúng truyền thống văn học kế thừa từ các nhà văn đó.

Nhà nước Nhật hiện nay và người dân Nhật trong thời kỳ hậu công nghiệp không thể tránh khỏi những cảm t́nh đầy mâu thuẫn. Cuộc thế chiến thứ hai đă nổ ra ngay giữa thời kỳ Nhật Bản đang hiện đại hóa; một cuộc chiến gây ra bởi chính sự sai lạc của quá tŕnh hiện đại hóa. Việc nước Nhật bại trận năm mươi năm trước đây là một cơ hội cho Nhật Bản và người Nhật, là kẻ gây chiến, cố gắng hồi sinh vượt lên trên những đau thương mất mát lớn lao mà các nhà văn Nhật thuộc ḍng hậu chiến đă mô tả. Lư tưởng dân chủ và quyết tâm không gây ra thêm bất cứ cuộc chiến nào nữa là cơ sở đạo lư cho niềm ao uớc hồi sinh này. Nhưng, thật mâu thuẫn thay, nhân dân và nhà nước Nhật với những cơ sở đạo lư đó lại không phải là vô tội, họ mang theo những tỳ vết của một lịch sử trong đó chính họ xâm lăng các nước châu Á khác. Những cơ sở đạo lư đó có ư nghĩa với cả những nạn nhân đă chết v́ vũ khí nguyên tử sử dụng lần đầu tiên tại Hiroshima và Nagasaki, có ư nghĩa cả với những người sống sót và con cháu của họ, chịu ảnh hưỏng của phóng xạ, kể cả hàng vạn người nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Triều Tiên.

Trong những năm gần đây có nhiều ư kiến chỉ trích Nhật Bản và cho rằng Nhật cần đóng góp lực lượng quân sự nhiều hơn cho Liên Hợp Quốc, để tham gia tích cực hơn vào tiến tŕnh ǵn giữ và khôi phục hoà b́nh ở các nơi trên thế giới. Trái tim chúng tôi đau đớn mỗi khi nghe những lời phê b́nh đó. Sau kết cục của thế chiến thứ hai, chúng tôi thấy rằng nhất thiết phải tuyên bố trong một điều khoản trung tâm của Hiến pháp mới rằng chúng tôi sẽ vĩnh viễn không tham chiến. Người Nhật đă lựa chọn nguyên tắc hoà b́nh vĩnh cửu làm cơ sở đạo lư cho sự hồi sinh của Nhật sau chiến tranh.

Tôi tin rằng nguyên tắc đó có thể được phương Tây, với truyền thống dung thứ cho việc v́ lương tâm mà từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự, hiểu rơ. Ngay ở Nhật Bản, đă có những nỗ lực ḥng xóa bỏ điều khoản về việc không tham chiến trong Hiến pháp và v́ mục tiêu đó họ đă t́m mọi cách tận dụng mọi cơ hội để tăng áp lực từ bên ngoài. Nhưng việc xoá bỏ nguyên tắc ḥa b́nh vĩnh cửu của Hiến pháp là một hành động phản bội chống lại các dân tộc Châu Á và những nạn nhân của bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki. Là nhà văn, tôi chẳng khó ǵ h́nh dung kết cục của sự bội phản ấy.

Hiến pháp Nhật Bản trước chiến tranh, thứ hiến pháp thừa nhận một quyền lực tuyệt đối vượt qua nguyên tắc dân chủ, cũng đă đạt được sự ủng hộ nhất định từ phía dân chúng. Mặc dầu chúng tôi đă có Hiến pháp mới được nửa thế kỷ nay, Hiến pháp cũ vẫn c̣n được ủng hộ, và Hiến pháp ấy vẫn c̣n tồn tại trong thực tế ở một số nơi. Nếu Nhật Bản phải pháp điển hóa một quy tắc khác xa với quy tắc chúng tôi đă tuân theo trong năm mươi năm qua, th́ cái quyết tâm mà chúng tôi đă đề ra trong bối cảnh đổ nát của chiến tranh, của những nỗ lực hiện đại hóa đă tan tành của chúng tôi, cái quyết tâm nhằm xây dựng một khái niệm mang tính toàn cầu về nhân bản, nó sẽ chẳng có ư nghĩa ǵ. Đó là những ǵ tôi muốn nói với tư cách một cá nhân b́nh thường.

Cái mà tôi đề cập đến bằng chữ "nhập nhằng" trong bài phát biểu của tôi chính là căn bệnh trầm kha đă nổi lên trong thời kỳ hiện đại. Sự thịnh vượng về kinh tế của Nhật không thể đem lại sự giải phóng khỏi những nguy cơ tiềm ẩn đặt trong bối cảnh cơ cấu chung của nền kinh tế thế giới và vấn đề bảo vệ môi trường.Trong bối cảnh này, sự nhập nhằng đó càng gia tăng. Điều này có thể rơ ràng hơn với những con mắt phê phán từ bên ngoài hơn là đối với chúng tôi, những người dân Nhật. Tại đáy cùng nghèo đói thời hậu chiến, chúng tôi có được sức dẻo dai để chịu đựng đói nghèo, để không mất đi hy vọng phục hồi. Có thể nói như thế này nghe hơi kỳ cục, song giờ đây dường như chúng tôi cũng có được sự dẻo dai không kém để chịu đựng những lo lắng về hậu quả tồi tệ sẽ phát sinh từ sự thịnh vượng hiện tại. Từ một góc nh́n khác, một bối cảnh mới đă xuất hiện trong đó sự thịnh vượng của Nhật Bản sẽ phụ thuộc vào sự gia tăng phát triển của cả tiềm lực sản xuất và tiêu thụ ở châu Á nói chung.

Tôi là một trong những nhà văn mong muốn tạo ra được những tác phẩm văn học nghiêm túc khác biệt với những tiểu thuyết chỉ đơn thuần là sự phản ánh của thứ văn hoá tiêu dùng đang phổ biến ở Tokyo và trên thế giới. Tôi muốn t́m kiếm một bản sắc Nhật Bản như thế nào đây? W.H Auden đă có lần định nghĩa một nhà tiểu thuyết như sau:

... Trong cát bụi
Hăy công bằng, hư hỏng giữa đám đông hư hỏng,
Và trong chính ḿnh yếu đuối bẩm sinh
Nếu có thể, phải chịu đựng tất thảy những lầm lạc của Con người.
(Nhà tiểu thuyết, 11-14)


Đó là cách sống của tôi (mượn lời của Flannery O'Connors) với nghiệp văn mà tôi theo đuổi.

Để mô tả một bản sắc Nhật Bản mà tôi muốn đạt được, tôi xin chọn dùng từ "chính trực", một trong những tính từ mà George Orwell thường sử dụng, cùng với những từ như "nhân đức", "lành mạnh", và "đúng mực" cho những nhân vật mà ông yêu mến. Cái cách mô tả đơn giản đến không tin nổi này có thể đứng bên cạnh và tương phản với từ "nhập nhằng" tôi đă sử dụng để xác định ḿnh trong tiêu đề "Nhật Bản, Sự nhập nhằng và Bản thân tôi". Có một sự khác biệt hoàn toàn và mỉa mai giữa cách Nhật Bản được nh́n nhận bởi thế giới bên ngoài và cách mà chính họ muốn được nh́n nhận.

Tôi hy vọng rằng Orwell sẽ không phản đối nếu tôi dùng từ "chính trực" để chỉ nghĩa tương tự như "giàu chất nhân văn" hay "humaniste" như trong tiếng Pháp, v́ cả hai từ này đều mang nét nghĩa chung là vị tha và nhân đạo. Đă có những bậc tiền bối của chúng tôi đi tiên phong, những người đă có những nỗ lực lớn lao nhằm xây dựng một bản sắc Nhật "chính trực" và "giàu chất nhân văn".

Một người trong số đó là cố Giáo sư Kazuo Watanabe, một học giả chuyên về văn học và tư tưởng Pháp thời Phục Hưng. Bị vây bọc bởi sự cuồng nhiệt mù quáng của ḷng yêu nước trong buổi đầu và thời kỳ giữa thế chiến hai, Watanabe đă đơn độc theo đuổi giấc mơ đem quan điểm về nhân văn gắn kết vào nhận thức vốn có của Nhật Bản về cái đẹp và sự nhạy cảm trước thiên nhiên, một nhận thức mà, may sao, vẫn chưa hoàn toàn bị hủy diệt. Tôi cũng phải nói thêm ngay rằng Giáo sư Watanabe có quan điểm về cái đẹp và thiên nhiên khác với quan điểm của Kawabata thể hiện trong bài "Nhật Bản, Cái đẹp và Bản thân tôi."

Con đường theo đó Nhật Bản cố xây dựng một nhà nước hiện đại theo lối phương Tây là một con đường đau khổ. Theo những cách thức khác song phần nào tương xứng với quá tŕnh đó, các trí thức Nhật đă cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa phương Tây và đất nước ḿnh ở mức sâu sắc nhất. Đó quả là một lao động cực nhọc, một "travail" nhưng cũng mang lại nhiều niềm vui. Nghiên cứu của Giáo sư Watanabe về François Rabelais do vậy là một trong những thành tựu tri thức nổi bật và đáng tưởng thưởng nhất của giới trí thức Nhật Bản.

Watanabe từng học ở Paris trước Thế chiến thứ hai. Khi ông nói với thầy hướng dẫn của ḿnh về tham vọng dịch Rabelais sang tiếng Nhật, nhà học giả nổi tiếng người Pháp đă trả lời chàng sinh viên Nhật đầy khát khao tri thức đó như sau: "L' entreprise inouie de la traduction de l'intradusible Rabelais" (một ư định táo bạo chưa từng có khi muốn dịch thơ không thể nào dịch nổi của Rabelais). Một học giả Pháp khác trả lời với sự kinh ngạc không giấu giếm: "Belle entreprise Pantagruélique" "Thật là một kỳ công lấp biển vá trời kiểu Pantagruel [3] ". Bất chấp những nhận định ấy, Watanabe không chỉ đă thực hiện được tham vọng táo bạo của ḿnh trong bối cảnh nỗi đói nghèo của chiến tranh và sự chiếm đóng của Mỹ, ông c̣n làm hết sức ḿnh để gieo vào cái xă hội Nhật Bản hỗn loạn và mất phương hướng thời đó lối sống và tư tưởng của những nhà nhân văn Pháp, những người tiên phong, những kẻ đồng thời và các môn đệ của François Rabelais.

Cả trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tôi, tôi cũng đă là một môn đệ của giáo sư Watanabe. Tôi chịu ảnh hưởng của ông theo hai phương diện hết sức quan trọng. Thứ nhất là phương pháp viết tiểu thuyết. Tôi hoàn toàn học từ bản dịch Rabelais của ông cái mà Mikhail Bakhtin đă định h́nh với tên gọi "hệ thống h́nh tượng của chủ nghĩa hiện thực kệch cỡm (grotesque realism) hay nền văn hóa của những tiếng cười dân gian"; học được tầm quan trọng của những nguyên lư vật chất và thể lư, sự tương hợp giữa các nhân tố vũ trụ, xă hội và thể lư, sự giao thoa của cái chết và niềm khao khát hồi sinh, và tiếng cười trào phúng lật đổ mọi thứ quan hệ trên dưới.

Hệ thống h́nh tượng đó khiến cho những kẻ như tôi, sinh ra và lớn lên ở một vùng xa xôi hẻo lánh, ở một đất nước cũng xa xôi bên lề như Nhật Bản, có thể t́m được những phương pháp văn học nhằm đạt được cái phổ quát. Xuất phát từ một nền tảng như vậy, tôi không đại diện cho châu Á như một thế lực kinh tế, mà một châu Á bị ám ảnh bởi đói nghèo triền miên và gia tăng dân số. Bằng việc chia sẻ những ẩn dụ sống động đó, tôi muốn đứng về phía các nhà văn như Kim Ji-ha của Hàn Quốc, Chon I và Mu Jen của Trung Quốc. Đối với tôi, t́nh huynh đệ của giới văn chương là thứ t́nh đồng cảm chia sẻ sâu sắc. Tôi đă có lần tham gia vào một cuộc tuyệt thực đề đ̣i tự do chính trị cho một nhà thơ có tài người Triều Tiên. Nay tôi hết sức lo lắng về số phận của những nhà văn Trung Quốc tài năng, những người đă bị tước mất tự do kể từ vụ Quảng trường Thiên An Môn.

Ảnh hưởng thứ hai của giáo sư Watanabe đối với tôi là quan điểm của ông về chủ nghĩa nhân văn. Tôi coi chủ nghĩa này là một biểu trưng hoàn hảo của châu Âu với tư cách một thực thể hoàn chỉnh sống động. Đó là một ư tưởng có sức lan truyền lớn trong định nghĩa của Milan Kundera về tinh thần của tiểu thuyết. Dựa trên những nghiên cứu chính xác các nguồn sử liệu mà ông có được, Watanabe đă viết các tự truyện phê phán, với Rabelais là trung tâm, về các nhân vật từ Erasmus tới Sébastien Castellion và những phụ nữ có liên quan tới Henri IV, từ nữ hoàng Marguerite cho tới Gabrielle Destré. Khi làm vậy, ông muốn dạy cho người Nhật về chủ nghĩa nhân văn, về tầm quan trọng của ḷng khoan dung, về tính dễ tổn thương của con người bởi chính những thành kiến và suy nghĩ của y cũng như những cỗ máy do chính y tự tạo ra. Sự chân thành của ông khiến ông trích dẫn lời của nhà triết học người Đan Mạch, Kristoffer Nyrop: "Những kẻ không chống lại chiến tranh là đồng lơa với chiến tranh." Những nỗ lực nhằm truyền bá vào Nhật Bản tư tưởng Nhân văn - nền tảng của tư tưởng phương Tây - của Watanabe quả thực là sự dũng cảm táo bạo không chỉ "chưa từng có" mà c̣n "một kỳ công đáng khâm phục kiểu Pantagruel".

Là người chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân văn Watanabe, tôi muốn rằng nghĩa vụ của tôi - với tư cách nhà tiểu thuyết - là giúp những người tự diễn đạt ḿnh bằng ngôn ngữ, cũng như những ai đọc họ, có thể hồi phục từ những nỗi thống khổ của ḿnh và thời đại ḿnh và chữa khỏi được những vết thương trong tâm hồn. Tôi đă nói rằng tôi bị phân xẻ giữa hai thái cực của thuộc tính "nhập nhằng" của người Nhật Bản. Tôi đă và đang cố gắng để chữa khỏi và hồi phục từ những đau thương đó bằng văn học. Tôi đă nỗ lực cũng nhằm cầu nguyện cho sự phục hồi của những đồng bào Nhật của tôi.

Xin hăy cho phép tôi một lần nữa nhắc tới con trai tàn tật của tôi, cháu Hikari đă được tiếng chim đánh thức gọi về với âm nhạc của Bach và Mozart, và cuối cùng sáng tác nên những nhạc phẩm của riêng cháu. Những tác phẩm nhỏ nhoi lần đầu tiên cháu soạn nên chan chứa hào quang và niềm sung sướng tươi mới. Chúng giống như sương long lanh trên lá cỏ. Từ "innocent" (ngây thơ) được cấu tạo bởi hai phần "in" có nghĩa là không và "nocere", gây tổn thương, nghĩa là không gây tổn thương. Âm nhạc của Hiraki theo nghĩa đó là sự tuôn trào tự nhiên tính thơ ngây của chính người soạn nhạc.

Khi Hiraki tiếp tục sáng tác, tôi không thể không nhận thấy trong âm nhạc của cháu "tiếng kêu của một tâm hồn u uẩn đang than khóc". Dù cháu bị thiểu năng trí tuệ, nhưng nỗ lực bền bỉ của cháu đă giúp trang bị cho hành vi sáng tác - vốn đơn giản chỉ là một "thói quen sống" - những kỹ năng sáng tác ngày càng phát triển và khả năng nhận thức ngày càng sâu. Điều này tới lượt nó đă khiến cho cháu có thể khám phá trong chiều sâu trái tim ḿnh một nỗi đau u hoài mà bấy lâu nay cháu không thể nào diễn tả bằng lời.

"Tiếng kêu của một tâm hồn u uẩn đang than khóc" thực đẹp, và việc cháu diễn tả nó bằng âm nhạc đă khiến cháu thoát khỏi nỗi đau u uẩn để có thể phục hồi. Hơn nữa, âm nhạc của cháu cũng đă được thừa nhận là có thể chữa khỏi và giúp hồi phục những người nghe đồng cảnh ngộ. Ở đây tôi t́m được cơ sở để tin tưởng vào khả năng tuyệt vời của nghệ thuật trong việc hàn gắn nỗi đau.

Niềm tin đó của tôi chưa hoàn toàn được minh chứng. Dẫu chỉ là một con người "yếu đuối", với sự trợ lực của niềm tin chưa được kiểm chứng đó, tôi muốn trải qua mọi "lầm lạc"đă tích tụ suốt thế kỷ hai mươi này, kết quả của sự phát triển kinh khủng của công nghệ và giao thông. Là một con người tồn tại bên ngoài trung tâm của thế giới này, tôi muốn t́m kiếm bằng cách nào tôi có thể góp một chút ǵ nhỏ bé - những mong là nhân văn và chính trực của ḿnh - để giúp cho sự cứu chữa và ḥa giải Nhân loại.


[1] Tác phẩm kinh điển (1884) của nhà văn Mĩ Mark Twain (1835-1910)
[2] Tác phẩm nổi tiếng (1906) của nhà văn nữ Thụy Điển Selma Lagerlöf (1858-1940, giải Nobel văn chương 1909),
[3] Pantagruel: nhân vật người khổng lồ trong tác phẩm nổi tiếng Gargantua et Pantagruel của François Rabelais
.

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải  ghi rơ nguồn lấy từ www.talawas.org