TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

CHƯƠNG 10

MỘT VÀI VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

 Từ Chương 1 đến Chương 9 quyển sách này đă khảo sát quá tŕnh phát triển của nền kinh tế Việt Nam bắt đầu từ các giai đoạn dưới chính sách kế hoạch tập trung cho đến các năm chuyển giao sang kinh tế thị trường. Công tŕnh quan sát này đă đặt trọng tâm vào các chủ đề như điều kiện kinh tế và xă hội, nội dung và hiệu quả của các chính sách trong từng giai đoạn, và nhất là ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới trên tổng lượng GDP và sản lượng nông nghiệp và công nghiệp. Chương này sẽ được dành cho một số vấn đề chưa đề cập đến trong các chương trước và tŕnh bày một vài ư kiến về triển vọng trong tương lai của nền kinh tế Việt Nam.

1.      Tinh thần hoà giải dân tộc và ư thức về sinh hoạt thực tế hàng ngày

  V́ Việt Nam có một lănh thổ dài, đương nhiên phải có khác biệt nhiều ít trên tập quán, ngôn ngữ và lối phát âm giữa dân chúng sinh sống trong các địa phương khác nhau. Thêm vào đó, trong quá tŕnh lịch sử đă có những giai đoạn ba miền Bắc, Trung, Nam được đặt dưới các thể chế và cơ cấu chính trị khác biệt, trong quá tŕnh lịch sử này dễ nảy sinh ra dị đông giữa dân chúng sống trong các vùng. Chính v́ vậy sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, khác biệt giữa các vùng là một trong các vấn đề được nhiều ngườI lưu ư. Quan tâm trong nước và ngoài nước tập trung vào vấn đề khác biệt Bắc Nam, với đa số dân Miền Nam c̣n ngở ngàng trước thay đổi mới trong khi dân Miền Bắc đă có kinh nghiệm sống trong văn hoá và thể chế ch́nh trị theo đường hướng xă hội chủ nghĩa trên 20 năm.

Chinh quyền Sài G̣n sụp đổ và trước khi chính phủ mới xúc tiến chương tŕnh xă hội chủ nghĩa hoá Miền Nam, một số đáng kể dân Miền Nam đă từ bỏ đất nước và di cư sang các quốc gia khác. Ngay trong số người c̣n lại trong nước cũng không phảI là tất cả đều hoà đồng vào cùng một tư tưởng. Dưới bối cảnh này, chính sách Đổi Mới bắt đầu thực thi năm 1986 đă tạo ra được nhiều hiệu quả tốt ngoài ảnh hưởng cụ thể trên mặt sản xuất như đă phân tích trong quyển sách này (từ Chương 3 đến Chương 7). Trước hết có thể kể đến hiệu quả của chính sách này trên mặt tâm lư: số Việt Kiều cư trú ở hải ngoại về nước, ngắn hạn hay dài hạn trong các năm gần đây ngày càng gia tăng. Không khí hoà giải dân tộc này đă đem lại nhiều ảnh hưởng tốt cho xă hội và nền kinh tế Việt Nam. Điều này đáng được nhấn mạnh khi chúng ta nhớ ra rằng tranh chấp dân tộc đang là một nguyên nhân lớn gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế trong nhiều quốc gia.

Một khía cạnh khác đáng được lưu ư là biến đổi trên ư thức về sinh hoạt hàng ngày. Song song với quá tŕnh phát triển kinh tế các hoạt động sản xuất và mậu dịch khuếch đại, tạo một môi trường hoạt động mới cho tầng lớp trẻ có quan tâm mạnh trên cuộc sống vật chất thực tế hàng ngày. Ư thức này sẽ là một nguyên lực cho đà phát triển kinh tế về sau[1].

2.      Việt Nam đạt đến mức độ nào trên bước đường thị trường hoá

Mười lăm năm sau ngày thi hành chính sách Đổi Mới hiện tại Việt Nam đă đạt đến mức độ nào trên bước đường thị trường hoá là một chủ đề cần được quan tâm. Điểm này có thể được quan sát qua hai khía cạnh: biến đổi trong dạng thức quản trị xí nghiệp và biến đổi trong dạng thức trao đổi hàng hoá và dịch vụ.

Biến đổi trong dạng thức quản trị xí nghiệp thể hiện trên thay đổi trong tỷ lệ chiếm hữu trong sản lượng nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của các h́nh thức kinh doanh theo đường lối kinh tế tập trung (xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xă, nông trường quốc doanh) và các h́nh thức kinh doanh theo đường lối kinh tế thị trường (xí nghiệp tư doanh, xí nghiệp liên doanh, nông nghiệp gia đ́nh, v.v.). Về điểm này, như đă khảo sát tường tận trong Chương 3, Chương 5 và Chương 7, thực trạng của Việt Nam là chính phủ duy tŕ các h́nh thức kinh doanh theo đường lối xă hội chủ nghĩa song song với quá tŕnh phổ biến các h́nh thức kinh doanh mới. Thị trường hoá trong bộ môn nông nghiệp đă tiến hành rất nhanh đến mức độ hầu hết sản lượng đă được cung cấp bởi các hộ nông nghiệp kinh doanh trên căn bản cá nhân và gia đ́nh, và kinh doanh tập thể chỉ c̣n chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Nhưng hiện trang trong bộ môn công nghiệp tŕnh bày một h́nh ảnh phức tạp hơn. Trong khi h́nh thức kinh doanh tập thể thuyên giảm nhanh, các xí nghiệp nhà nước tiếp tục duy tŕ một suất chiếm hữu khá lớn song song với chiều hướng đi lên của các xí nghiệp tư doanh và liên doanh. Phân loại xí nghiệp nhà nước này trong quá tŕnh thay đổi từ ‘quốc doanh’ sang ‘quốc hữu’ trong đó một số đă phải giải tán, một số đă phải giảm nhân viên và sản lượng, đă thực thi nhiều cải thiện nhưng phần lớn hiện vẫn c̣n yếu kém trên năng suất so với các xí nghiệp tư doanh và liên doanh. V́ vậy t́m lối xử lư thích hợp cho các xí nghiệp nhà nước c̣n là một chủ đề quan trọng.

Trên thj trường sản phẩm và dich vụ, đă quan sát được tác dụng tốt của thị trường trên hầu hết các lănh vực. Trừ một số ít sản phẩm và dịch vụ c̣n đặt dưới h́nh thức điều chỉnh giá cả nhà nước, mức giá của hầu hết sản phẩm và dịch vụ phản ảnh trung thực t́nh trạng cung và cầu. Lao động và tài sản cố đinh của các xí nghiệp nhà nước là hai lănh vực có lưu động tính thấp và c̣n cần biện pháp để cải thiện. Phân tích trong Chương 8 xác nhận rằng vào giữa thập niên 1990 chênh lệch trên mức lương lao động trong xí nghiệp, giữa xí nghiệp và giữa các ngành ngay trong các xí nghiệp nhà nước đă cho thấy rơ tác dụng của thị trường, phản ảnh tŕnh độ học vấn và kinh nghiêm làm việc của người lao động. Tuy nhiên cũng nhận xét được rằng các yếu tố khác với năng lực lao động như liên quan gia đ́nh và bối cảnh chính trị của cá nhân c̣n có ảnh hưởng đến chức vị và mức lương.

Phân tích thị trường lao động tŕnh bày trong Chương 8 cho thấy đánh giá tài sản của các xí nghiệp nhà nước là một vấn đề quan trọng. Nếu chính phủ đặt giá tài sản của xí nghiệp ở mức thấp hơn mức thích hợp sẽ đưa đến mức lợi cao và từ đó một mức lương lao động cao. Ngược lại, nếu tài sản cố định được đặt ở mức giá cao hơn mức thích hợp, xí nghiệp sẽ có ngạch lợi nhuận và mức lương lao động thấp. Phân tích trong Chương 8 cho thấy có chênh lệch rất lớn trong mức lương giữa các xí nghiệp mà khác biệt trên năng lực lao động của cá nhân (tŕnh độ học vấn và kinh nghiệm lao động) chỉ giải thích được một phần. Điều này chứng tỏ rằng trong hiên tại tài sản cố định của xí nghiệp nhà nước không được đánh gia thích hợp và tư đó phát sinh ra t́nh trạng bất quân b́nh trong thị trường tư bản và làm giảm cơ năng của tác dụng thị trường trong phân phốI tài nguyên.

3.      Nhận thức về ngội nguồn của phát triển kinh tế

  Chính sách Đổi Mới đă mang đến một nguồn sinh lực mới cho hầu hết các hoạt động kinh tế trong nước và tư đó GDP đă tiếp tục gia tăng với tốc độ khá cao trên 15 năm. Với mục đích đo ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới trên GDP, Chương 4 ước lượng hàm số sản xuất (hàm số GDP) và đưa đến kết luận rằng GDP có chính sách Đổi Mới ước lượng vào khoảng 35% cao hơn trường hợp không có Đổi Mới (vào năm 2000). Thêm vào đó, phân tích trong Chương 4 cũng đă xác nhận rằng nâng cao năng suất tổng hợp (total productivity) và tích luỷ tài sản cố định (capital stock) là hai yếu tố chính cắt nghĩa chênh lệch trên GDP giữa hai trường hợp có và không có Đổi Mới.

Gia tăng lớn trên năng suất tổng hợp quan sát được trong các năm 1986-2000 có thể xem như kết quả hổn hợp của tích luỷ t́m năng sản xuất trong thời kỳ trước Đổi Mới (t́m năng cao nhưng không thể hiện ra được dưới dạng sản xuất cao v́ thể chế thị trường và h́nh thức quản trị xí nghiệp không thích hợp) và cải thiện trên mặt tổ chức và kỷ thuật dưới thời kỳ Đổi Mới[2]. Cải thiện trên mặt tổ chức và kỷ thuật đạt được trong thời kỳ sau năm 1986 có thể được giải thích như sau. Băi bỏ chế độ phân cấp hàng hoá và quản lư giá có tác dụng nâng cao cơ năng của thị trường trên phương diên phân phốI tài nguyên (resource allocation) và thừa nhận xí nghiệp tư doanh và liên doanh và cải thiện đường lối quản trị xí nghiệp nhà nước có tác dụng nâng cao năng suất sản xuất.

Những quan sát bên trên ám chỉ rằng để năng suất tổng hợp có thể tiếp tục gia tăng với tốc độ cao cần thực thi biện pháp nhắm vào mục đích nâng cao hơn tiềm năng sản xuất (đầu tư trên giáo dục, cải thiện cơ cấu hạ tầng, v.v.) và tiếp tục nâng cao tŕnh độ kỷ thuật, cải thiện trên mặt tổ chức và tiếp tục nâng cao cơ năng của tác dụng thị trường (xúc tiến quá tŕnh thị trường hoá).

Bắt đầu từ năm 1986 tỷ suất vốn đầu tư (% của vốn đầu tư trên GDP) gia tăng và nâng cao lượng tài sản cố định trong nước. Gia tăng trên vốn đầu tư bao gồm hai phần chính: gia tăng lượng đầu tư công cộng trên cơ sở và gia tăng lượng đầu tư bởi tư nhân trong và ngoài nước. V́ đầu tư từ nước ngoài chiếm một phần quan trọng trong tổng lượng đầu tư trong nước, vai tṛ lớn của đầu tư và tài sản cố định xác định trong Chương 4 ám chỉ rằng Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện điều kiện đầu tư, tao lập một môi trường tốt để thu hút đầu tư từ các xí nghiệp nước ngoài. Các yếu tố chính cấu tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài bao gồm điều kiện sử dụng lao động và điều kiện cơ sở hạ tầng như cung cấp điện nước, đường xá và thương cảng.

So với thờI kỳ trước Đổi Mới, môi trường kinh tế trong nước hiện tại đă được cải thiện rất nhiều. Nhưng so với các quốc gia có kinh nghiệm lâu dài hơn trên kinh tế thị trường như Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan, v.v., Việt Nam hảy c̣n yếu kém, cần phải tiếp tục cải cách trên cả hai phương diện thị trường hoá và tiềm năng sản xuất.

4.      Kinh nghiệm của Nhật Bản

Cho đến các thập niên 1970 và 1980 Nhật Bản đă là một quốc gia duy nhất trong vùng Châu Á đạt được nhiều thành quả trên phương diện phát triển kinh tế. V́ lư do này kinh nghiệm của Nhật Bản có thích hợp cho các quốc gia khác hay không là một chủ đề được nghiên cứu từ lâu. Không đi sâu vào nội dung của các công tŕnh nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản, sau đây chỉ xin tŕnh bày bốn điểm liên quan đến chính sách phát triển kinh tế:

(1)   Vai tṛ của chính phủ trong quá trinh phát triển kinh tế.

(2)  Mô h́nh phát triển trên cơ cấu nhị trùng (dual structure)

(3)  Vai tṛ của đầu tư trên hạ tầng cơ sở

(4)  Giáo dục và nghiên cứu kỷ thuật

(5)  Chính sách phát triển công nghiệp

  Vai tṛ của chính phủ trong quá tŕnh phát triển kinh tế

  Trong quá tŕnh phát triển kinh tế của Nhật Bản chính phủ đă giữ một vai tṛ quan trọng trên nhiều phương diện như thiết lập và thực thi các chương tŕnh nghiên cứu kỷ thuật và các chương tŕnh công nghiệp hoá. Kinh nghiệm của Nhật Bản chứng minh rằng để cho nền kinh tế có thể phát triển một cách liên tục với tốc độ cao cần phảI có chính sách và kế hoạch thích hợp của nhà nước. Chính phủ Nhật Bản đă thực thi nhiều chính sách và biên pháp thích hợp trên một vài lănh vực như giáo dục, nghiên cứu và phổ biến kỷ thuật, cũng cố cơ sở hạ tầng và chấn hưng công nghiệp (hổ trợ kỷ thuật và tài chính các ngành luyện kim, chế biến động cơ, v.v. trong giai đoạn đầu). Nhưng cũng có nhiều ư kiến chỉ trích rằng chính phủ Nhật đă can thiệp quá nhiều trong ngành nông nghiệp nói riêng và đă ban hành quá nhiều qui chế trên hầu hết hoạt động kinh tế, đưa đến t́nh trạng năng suất thấp, chi phí cao và phản ứng thị trường chậm trong nông nghiệp và một vài ngành công nghiệp.

  Khi bàn luận khả năng áp dụng kinh nghiệm Nhật Bản chúng ta cần phảI xác nhận cả hai phương diện tốt và xấu của kinh nghiệm này. Thêm vào đó cũng nên nhớ rằng Việt Nam hiện c̣n đang trên quá tŕnh thị trường hoá, thay v́ nhấn mạnh vai tṛ của chính phủ, Việt Nam c̣n cần nâng cao vai tṛ của tư nhân trên nhiều lănh vực.

  Mô h́nh phát triển trên cơ cấu nhị trùng (dual structure)

  Phát triển trên cơ cấu nhị trùng nói ở đây chỉ mô h́nh phát triển kinh tế trong đó hai thành phần truyền thống (bao gồm nông nghiệp và các ngành kinh tế truyền thống khác, có đặc điểm là dư thừa lao động) và cận đại (bao gồm các ngành trong đó kinh doanh dựa trên động cơ vụ lợi) tồn tại song song và có tác dụng hỗ tương tốt trong nhiều năm. Hai thành phần truyền thống và cận đại tiến hành song song nhưng chênh lệch trên mức lương lao động và tŕnh độ kỷ thuật giữa hai thành phần vẫn được duy tŕ.[3] Một đặc điểm của mô h́nh này là liên quan hỗ tương giữa hai thành phần truyền thống và cận đại. Như quan sát được trong kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản (thí dụ: ngành chế biến xe hơi), một số ít xí nghiệp cận đại dùng lao động chất lượng cao hoạt động song song với số đông xí nghiệp qui mô nhỏ dựa trên lao động chất lượng thấp. Trong nhiều trường hợp các xí nghiệp qui mô nhỏ nằm trong hệ thống sản xuất của xí nghiệp qui mô lớn và chế biến, cung cấp dụng cụ cho xí nghiệp lớn. H́nh thức phát triển trên cơ cấu nhị trùng này được xem thích hợp cho các quốc gia đang phát triển ví các quốc gia này vừa cần sản phẩm có chất lượng cao để cạnh tranh trên thị trường thế giới (sản xuất bởi số ít xí nghiệp qui mô lớn với số ít lao động chất lượng cao) vừa phải tạo công ăn việc làm cho số đông lao động không có chất lượng cao (dùng trong các xi nghiệp qui mô nhỏ).

  So với hiện trạng trong giai đoạn đầu của quá tŕnh phát triển kinh tế Nhật Bản, đối với Việt Nam trong hiện tai chênh lệch trên mức kỷ thuật và thiết bị sản xuất giữa hải ngoạI và trong nước lớn hơn, từ đó đường lối phát triển dựa trên cơ cấu nhị trùng càng có ư nghĩa mạnh hơn. Cơ cấu nhị trùng ở đây bao gồm xí nghiệp có đầu tư nước ngoài và một số xí nghiệp qui mô lớn trong nước (thành phần cận đại) và đại đa số xí nghiệp qui mô nhỏ (thành phần truyền thống). Các xí nghiệp thuộc thành phần ‘cận đại’ đ̣i hỏi lao động có kiến thức bậc đại học về các môn như điện tử công học, cơ khí, vi tính, kinh tế, quản trị xí nghiệp, ngoạ ngữ, v.v. trong khi các xí nghiệp thuộc thành phần ‘truyền thống’ thu hút được số đông lao động không có tŕnh độ kỷ thuật cao. V́ Việt Nam c̣n khan hiếm lao động có tŕnh độ kỷ thuật cao và dư thừa lao động thiếu kém kỷ thuật và kinh nghiệm, với cơ cấu nhị trùng sẽ vừa cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt để đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước vừa tạo được công ăn việc làm cho lực lượng lao động lớn hiện có.

  Vai tṛ của đầu tư trên hạ tầng cơ sở

  Một khía cạnh được đánh giá cao trong đường lối phát triển kinh tế Nhật Bản là các công tŕnh đầu tư công cộng trên đường xá và thương cảng, tạo cơ sở căn bản cho các hoạt động kinh tế của quốc gia này. Trong các năm gần đây khi bàn luận về vấn đề viện trợ quốc tế điểm này càng được nhấn mạnh hơn bởi v́ có khác biệt giữa chủ trương của IMF và Ngân Hàng Thế Giới và chính sách của chính phủ Nhật. Chuyên gia viện trợ Nhật Bản thường chỉ trích rằng các phương châm theo đường lối viện trợ của IMF và Ngân Hàng Thế GiớI như điều chỉnh cơ cấu (structural adjustment), củng cố năng lực xây dựng chính sách, v.v. có thể đưa đến t́nh trạng bỏ quên vai tṛ của đầu tư trên hạ tầng cơ sở.

  Về khía cạnh này xin nêu lên hai điểm sau. Trước hết, xét điều kiện của Việt Nam với lănh thổ dài từ Bắc tới Nam và một số lớn thiết bị cơ sở hạ tầng đă bị tàn phá qua nhiều năm chiến tranh, thiết lập một cơ sở hạ tầng đầy đủ cho các hoạt động kinh tế trong nước là một điều tiên quyết. Đầu tư trên hạ tầng cơ sở phải là một trong những lănh vực ưu tiên trong các chương tŕnh phát triển kinh tế.

Kế đến, v́ trong hầu hết mọi trường hợp kiến thiết hạ tầng cơ sở tốn nhiều chi phí, cần phải thực thi một cách tường tận phân tích chi phí- lợi nhuận (cost- benefit analysis) cho mọi công tŕnh đầu tư để xác nhận suất lợi nhuận (rate of return) trước khi thực thi các chương tŕnh này. Bên Nhật trong các năm gần đây điểm này được đặc biệt nêu lên trong các tranh luận chung quanh vấn đề tư doanh hoá Công Đoàn Xa Lộ (Doro Kodan, dùng nhiều chi phí xây cất một số xa lộ không cần thiết)[4]

Giáo dục căn bản và nghiên cứu kỷ thuật

  Như đă được xác định rơ bởi nhiều công tŕnh nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển kinh tế Nhật Bản từ thời Mnh Trị, nghiên cứu và truyền bá kỷ thuật cũng như giáo dục căn bản đă đóng góp rất nhiều vào các ngành sản xuất trong cả hai bộ môn nông nghiệp và công nghiệp[5].

Về điểm này Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Như đă đễ cập đến trong Chương 4, ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi Mới, cải thiện trên mặt kỷ thuật và tổ chức đă chứng tỏ có một ảnh hưởng rất lớn trên tổng sản lượng trong nước. Các yếu tố kỷ thuật và tổ chức tác dụng trong các năm 1986-2000 bao gồm tiềm năng tích trử trước năm 1986 (do phổ biến giáo dục, cải thiện điều kiện xă hộI, v.v) và cải tiến trên mặt kỷ thuật và tổ chức thực hiện trong các năm 1986-2000 (tác dụng thị trường trên phân phối tài nguyên, cải thiện trên đường lói quản trị xí nghiệp, kỷ thuật mới mang đến từ nước ngoài, v.v.).

  Chính sách phát triển công nghiệp

  Chánh phủ Nhật đă cung cấp một loạt trợ cấp và thi hành nhiều qui chế với mục đích hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất công nghiệp của quốc gia này. Các biện pháp chinh sách này đă mang đến nhiều thành quả trong các ngành như luyện thép mà trong một thời kỳ đă là nền tảng cho các hoạt động kinh tế chính trong nước, và hai ngành chế biến xe hơi và điện tử mà hiện tại đang đóng một vai tṛ chủ yếu trong việc cung cấp ngoại tệ qua cung cấp sản phẩm xuất khẩu[6]. Nhưng các biện pháp chính sách này (hỗ trợ tài chính và qui chế) thường bị chỉ trích đă có ảnh hưởng xấu như dùng ngân sách chính phủ nuôi dưỡng các ngành kinh tế mà Nhật không có hoặc đă mất lợi thế so sánh (thí dụ: ngành trồng lúa).

  Hai tác dụng tích cực (trong các ngành chế biến xe hơi, điện tử) và tiêu cực (nông nghiệp) quan sát được trong kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy rơ một điểm quan trọng: Không nên dùng các biện pháp chính sách này (hỗ trợ tài chính và qui chế) vào mục đích hỗ trợ mức thu nhập (như trong trường hợp ngành trồng lúa) mà phải nhắm vào mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh (như trong trường hợp của các ngành chế tạo xe hơi và luyện thép). Thử đặt giả thuyết rằng nhập cảng hàng hoá giá rẽ từ Trung Quốc làm thuyên giảm sản lượng của một số ngành công nghiệp Việt Nam. Trong trường hợp này điểm cần yếu là xác nhận tiềm năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp này. Các biện pháp hỗ trợ chỉ có ư nghĩa trong trường hợp các xí nghiệp hoạt động trong các ngành này có hy vọng cải thiện được năng suất và cạnh tranh được với các xí nghiệp nước ngoài trong một tương lai gần. Ngay trong trường hợp này cần phải giới hạn thời gian thi hành các biện pháp hỗ trợ tài chính và qui chế.

  Tạo điều kiện tốt cho đầu tư từ nước ngoài cũng là một điểm cần được nhấn mạnh. So với giai đoạn đầu của quá tŕnh phát triển kinh tế Nhật Bản, Việt Nam hy vọng thụ hưởng được nhiều lợi điểm hơn trên phương diện giao chuyển kỷ thuật và tạo nhu cầu lao động. Các xí nghiệp nước ngoài có thể mang đến thuyên giảm sản lượng của một số xí nghiệp hiện hành trong nước. Nhưng ảnh hưởng này tương đối nhỏ so với tác dụng tốt của xí nghiệp ngoại quốc trên nhiều phương diện như chuyển quán kỷ thuật, khuếch đại nhu cầu lao động và tạo liên quan hỗ tương với xí nghiệp trong nước.

5.      Trung Quốc và nền kinh tế Việt Nam

  Nền kinh tế của Trung Quốc đă phát triển rất nhanh kể từ năm 1978 khi mà chính phủ Trung Quốc bắt đầu thi hành một loạt cải cách với mục đích chuyển cả nền kinh tế về hướng thị trường. GDP của Trung Quốc gia tăng với tốc độ trên 10 phần trăm hàng năm trong suốt thập niên 1990 và tiếp tục tăng vào khoảng 8-9 phần hàng năm trong các năm gần đây. Sự xuất hiện đột ngột này của Trung Quốc đă mang đến nhiều xáo trộn mạnh trên thị trường thế giới, nhất là sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập tổ chức WTO. Xáo động này lại càng lớn hơn đối với Việt Nam, một quốc gia có điều kiện địa lư, lịch sử và xă hội đặc biệt. Chúng ta không thể không đề cập đến t́nh h́nh kinh tế Trung Quốc khi bàn luận về tương lai của nền kinh tế Việt Nam.

  Liên quan giữa Trung Quốc và nền kinh tế Việt Nam có thể được bàn luận qua 3 điểm sau:

(1)   Ảnh hưởng của hàng hoá Trung Quốc trong thị trường quốc nội.

(2)  Trung Quốc như một thị trường mua bán hàng hoá Việt Nam.

(3)  Lợi điểm nhờ vào phân công lao động (division of labor) và quan hệ liên đới công nghiệp.

  Về điểm (1), sự xâm nhập của hàng hoá Trung Quốc vào thị trường trong nước có thể đưa đến kết quả là một số xí nghiệp trong nước buộc phải thuyên giảm sản lượng hoặc trong nhiều trường hợp có thể phải đóng cửa, dẹp nghề. Trên thực tế hiện tượng này đă xảy ra trong các ngành như chế tạo xe đạp và hàng hoá tiêu thụ hàng ngày. Nhưng thật ra đây không phải là một trường hợp đặc thù của Việt Nam. Hiện tượng này có thể xảy ra trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại. Điểm quan trọng ở đây là Việt Nam có lợi thế so sánh trong các hoạt động kinh tế này hay không. Nếu giảm sản lượng chỉ là một hiện tượng lâm thời và với một vài biện pháp hỗ trợ ngắn hạn các xí nghiệp trong nước sẽ hồi phục lạI được mức sản xuất và có năng lực canh tranh với hàng hoá Trung Quốc, các xí nghiệp này có lư do chính đáng đ̣i hỏi phương sách bảo hộ. Ngược lai, nếu trong tương lai các xí nghiệp này không có hy vọng cải thiện năng suất để cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu th́ việc giảm sản lượng hay đóng cửa xí nghiệp phải được xem như một hiện tượng hợp lư mang đến lợi ích cho người tiêu thụ và các xí nghiệp dùng các hàng hoá này như sản phẩm đầu vào.

  V́ trong quyển sách này tác giả đă không phân tích một cách tĩ mĩ cơ cấu của nền công nghiệp Việt Nam nên không thể có được bàn luận sâu vào các điểm (2) và (3). Chỉ xin nêu lên một điểm quan trọng. Sự khuếch đại của nền kinh tế Trung Quốc có thể tao một thị trường lớn cho hàng hoá Việt Nam và có thể tạo ra một liên hệ tốt giữa hai quốc gia trên phương diện phân công lao động. Trên phương diện này chênh lệch trên mức lương và điều kiện địa lư giữ vai tṛ chủ yếu. Sự phát triển nhanh của nền kinh tế Trung Quốc sẽ tạo một cơ hội lớn trên mặt thị trường và phân công lao động v́ Việt Nam hiện tại có mức lương trung b́nh vào khoảng phân nửa mức lương của Trung Quốc, lại có thể thông thương với quốc gia này bằng đường bộ qua ranh giới phía Bắc. Việt Nam sẽ thu thập được nhiều lợi ích, và có thể suy đoán ra được rằng so với Miền Nam, Miền Bắc, và đặc biệt là các vùng Đông Bắc và Tây Bắc sẽ thụ hưởng được nhiều lợI ích v́ Miền Bắc có mức lương tương đối thấp và ở vị trí gần với Trung Quốc.

6.      Khả năng và giới hạn của nông nghiệp

Chúng ta có thể tiên đoán rằng trong năm, mười năm tới nền nông nghiệp sẽ tiếp tục nắm giữ một vai tṛ quan trọng trong quá tŕnh phát triển kinh tế của Việt Nam. Nhưng chúng ta cần phảI thận trọng hơn khi bàn luận về vai tṛ của bộ môn này ở một thời điểm xa hơn trong tương lai (hai mươi hoặc ba mươi năm sau) bởi v́ kinh nghiệm trong các quuốc gia đất hẹp dân đông trong vùng Á Châu, như Nhật Bản và Hàn Quốc, cho biết rằng vai tṛ của nông nghiệp sẽ dần dần thuyên giảm dọc theo quá tŕnh phát triển kinh tế.

  Có ba điểm cần được chỉ trích liên quan đến triển vọng trong tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.

(1)   Cần phải thúc đẩy các công tŕnh đa dạng hoá (diversification) nông nghiệp song song với các công tŕnh chấn hưng ngành trồng lúa.

(2)  Cần phải thúc đẩy các chương tŕnh công nghiệp hoá nông thôn để thu hút dân số lao động ngày một gia tăng trong các vùng nông thôn.

(3)  Hiện tại ngành trồng lúa mang đến một lượng ngoại tệ đáng kể qua việc xuất khẩu lúa nhưng có thể dự đoán rằng trong mười, hai mươi năm sau vai tṛ của ngành trồng lúa sẽ thuyên giảm nhiều trong việc cung cấp ngoại tệ.

  Như đă đề cập đến trong Chương 5, hai ngành trồng lúa và ngư nghiệp đă và đang đóng góp nhiều vào nền kinh tế Việt Nam trên nhiều phương diện như nâng cao GDP, nâng cao mức thu nhập trong các vùng nông thôn, cung cấp ngoại tệ và cung cấp lương thực. Ngoài ra, hai ngành này cũng đă và đang nắm giữ một vai tṛ lớn trong việc tạo công ăn việc làm trong một thờI kỳ mà các hoạt động công nghiệp c̣n rất giới hạn. Từ giữa thập niên 1980 các cơ năng này của nông nghiệp đă được tăng cường nhờ vào chính sách Đổi Mới. Chúng ta có thể dự đoán các cơ năng này sẽ tiếp có tác dụng tốt trong một thời gian khá dài, nhất là trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi c̣n nhiều đất thích hợp cho ngành trồng lúa.

  Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ư đến một điểm quan trọng: sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện tại quá thiên về ngành trồng lúa. Như đă quan sát được trong kinh nghiệm của các quốc gia đi trước và đă bắt đầu hiện ra trong chiều hướng thay đổi trong nhu cầu lương thực trong nước trong các năm gần đây, gia tăng trong mức thu nhập thúc đẩy mạnh nhu cầu các sản phẩm của các ngành chăn nuôi và cây ăn trái, nhất là trong các khu vực thành thị. Để đáp ứng với chiều hướng thay đổi này trong cơ cấu nhu cầu thực phẩm, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đ̣i hỏi phải dần dần chuyển từ ngành trồng lúa sang các ngành chăn nuôi và trồng cây ăn trái. V́ lư do này, song song với các chương tŕnh như đầu tư trên thiết bị xả và tưới nước để chấn hưng ngành trồng lúa trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi c̣n có t́m năng cao trong ngành trồng lúa, cần phải thúc đẩy công việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp khác trong toàn quốc để có được một cơ cấu sản xuất nông nghiệp đa dạng thích hợp với đ̣i hỏi của thị trường.

Trong hiện tại chăn nuôi, ngư nghiệp và trồng rau cải có thể được xem là những đối tượng thích hợp để được xúc tiến trong các công tŕnh đa dạng hoá nông nghiệp. Các chường tŕnh này phải bao gồm các yếu tố như chấn hưng Kỷ thuật (trong các ngành chăn nuôi, ngư nghiệp và trồng cây và rau cải) và gia cố thiết bị và cơ sở hạ tầng (hải cảng ngư nghiệp, mạng lưới marketing cá tôm, v.v.). Về mặt chấn hưng ngành trồng lúa, khuếch đại diện tích xả và tưới nước, truyền bá phương pháp sử dụng phân bón và hột giống năng suất cao, khuyến khích đầu tư trong ngành chế biến phân bón, v.v. cần được xúc tiến. Tuy nhiên v́ giá lúa trên thị trường thế giới có thể thay đổi nhiều trong tương lai, suất lợi nhuận cần được nghiên cứu tường tận trước khi thực thi các công tŕnh đầu tư qui mô lớn trên thiết bị xả và tưới nước và chế biến phân bón.

Bằng các công tŕnh đa dạng hoá nông nghiệp và chấn hưng ngành trồng lúa hy vọng sẽ nâng cao được khá nhiều năng lực thu hút lao động của đất nông nghiệp hiện có. Nhưng không thể bảo chứng được rằng các biện pháp này sẽ tạo được số công ăn việc làm đủ để thu hút tổng lượng lao động ngày một gia tăng và đồng thời nâng cao được năng suất lao động. Mặc dầu c̣n tồn tại tiềm năng trong nông nghiệp, công nghiệp hoá là một điều cần thiết trong  việc phát triển nông thôn.

Từ khoảng đầu thập niên 1990 xuất khẩu nông và ngư sản đă chiếm một vị trí khá lớn trên mặt cung cấp ngoại tệ. Có thể dự đoán được rằng hai ngành này sẽ tiếp tục đóng góp một phần không nhỏ trên phương diện này trong năm, mười năm sắp đến. Tuy nhiên khi bàn luận về t́nh trạng trong một thời điểm xa hơn trong tương lai chúng ta cũng cần phải suy xét hai yếu tố quan trọng: gia tăng nhu cầu thực phẩm trong nước mang đến bởi gia tăng dân số và mức thu nhập, và giới hạn trên mặt cung v́ thuyên giảm diện tích đất nông nghiệp mang đến bởi khuynh hướng đô thị hoá. Khi tổng dân số trong nước đạt đến khoảng 120 triệu và mức thu nhập trung b́nh trên đầu ngườI vượt quá 1000$, sản phẩm nông và ngư nghiệp dư thừa để xuất khẩu sẽ trở nên giới hạn rất nhiều trên số lượng.

Đặc tính vùng (regionality) là một điểm quan trọng cần được khảo sát khi bàn luận về đường lối phát triển nông nghiệp Việt Nam. Trước hết, Việt Nam có một lănh thổ dài bao gồm nhiều địa điểm mang điều kiện sinh thái khác nhau và do đó có dạng thức lợi thế so sánh khác nhau. Hai vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long có đất và điều kiện tưới nước thích hợp cho ngành trồng lúa trong khi hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có đất thích hợp cho các loại cây lâu năm như cà phê và cao su. Kế đến, trên đoạn đương dài của quá tŕnh phát triển kinh tế sẽ phát sinh nhiều biến đổi trong điều kiện kỷ thuật và tài nguyên của các vùng, những biến đổi này có thể mang đến ảnh hưởng mạnh trên dạng thức lợi thế so sánh của các vùng. Thử lấy một thí dụ về Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Băng Sông Cửu Long. Mặc dầu trong hiện tại  hai vùng này cùng thích hợp cho ngành trồng lúa, dạng thức lợi thế so sánh của hai vùng có thể trở nên khác hẳn trong mười, hai mươi năm sau bởi v́ các chương tŕnh công nghiệp hoá đang tiến hành trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng có thể mang đến gia tăng lớn trong mức lương lao động làm giảm lợi thế của vùng này trong ngành trồng lúa. V́ hai lư do này, các chương tŕnh phát triển nông nghiệp cần phải được thiết lập dựa trên điều kiện hiện tai cũng như dự kiến về biến đổi trong tương lai của phí tổn sản xuất sản phẩm. Điều tra chi phí sản xuất và phân tích lợi thế so sánh của các sản phẩm chủ yếu trong các vùng là một điều cần yếu trong việc thành lập các chương tŕnh phát triển nông nghiệp của Việt Nam.

Trong các công tŕnh điều tra và phân tích về phí tổn sản xuất, chiều hướng thay đổi trên thị trường thế giới là một yếu tố cần phải được khảo sát. Ngoài việc khảo sát biến đổi trên dạng thức lợi thế so sánh của từng vùng mang đến bởi biến đổi trong điều kiện kỷ thuật và điều kiện tài nguyên trong các vùng, cần phải so sánh phí tổn trong trường hợp sản xuất trong nước, dùng giá đơn vị trên thị trường quốc tế để xác định dạng thức lợi thế so sánh của Việt Nam trên thị trường thế giới. Quan điểm ‘thị trường thế giới’ này ngày càng trở nên trọng yếu song song với phong trào toàn cầu hoá (globalization)[7].


 

[1] Đ̣i hỏi vật chất được xem như một động lực lớn đẩy mạnh quá tŕnh phát triển kinh tế trong vùng Châu Á (Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Xin-ga-po, v.v.)

[2] Như biểu hiện trong các số liệu dùng cho biến số dummy, năng suất tổng hợp gia tăng nhanh trong các năm 1990-96 và có ṃi giảm tốc trong các năm gần đây. Điều này chỉ rằng các hoạt động kinh tế đă khai thác gần hết tiềm năng sản xuất tích trử trước năm 1986.

[3] Kazushi Ohkawa, Keizai Hatten to Nihon no Keiken (Phát Triển Kinh Tế và Kinh Nghiệm Nhật Bản), Daimeido, 1976.

[4] Có bàn luận cho rằng chi xuất xây dựng đường xá đă được dùng như một biện pháp chính sách tài chính (financial policy measure) nhằm mục đích gia tăng nhu cầu hữu hiệu (effective demand) để nâng cao suất tăng GDP. Cũng có bàn luận cho rằng chi xuất công cộng chịu áp lực của các xí nghiệp xây dựng v́ một số đại biểu quốc hội hoạt động cho quyền lợi của các xí nghiệp xây dựng.

[5] Về vai tṛ của giáo dục và nghiên cứu trong quá tŕnh phát triển kinh tế Nhật Bản có thể tham khảo Kazushi Ohkawa và Gustav Ranis Nihon to Hatten Tojokoku, Keisoshobo (Nhật Bản và các Quốc Gia đang Phát Triển, 1985), Le Thanh Nghiep và Yujiro Hayami “Mobilizing Slack Resources for Economic Development: The Summer- Fall Rearing Technology of Sericulture in Japan,” Explorations in Economic History, Vol. 16, pp. 163-61(1978), Le Thanh Nghiep, “The Structure and Changes of Technology in Prewar Japanese Agriculture,” American Journal of Agricultural Economics, Vol. 61, No. 4. pp.687-93(1979)

[6] Các biện pháp chính sách được xem như có hiệu quả trong việc củng cố sức cạnh tranh của các ngành kỷ nghệ c̣n ấu trỉ và cùng lúc tạo một môi trường canh tranh vừa phải trong nước.

[7] Song song với việc viết quyển sách này tác giả đă có được hân hạnh tham gia chương tŕnh nghiên cứu chung với Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức, Trường Đại Học Cần Thơ và Viện Nghiên Cứu Khoa Học Thị Trường và Giá Cả (Bộ Tài Chính) về dạng thức lợi thế so sánh của các nông sản chủ yếu trong các vùng ĐB Sông Hồng, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐB Sông Cửu Long.

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com