TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

CHƯƠNG 3

CHUYỂN GIAO SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

BỐI CẢNH VÀ ẢNH HƯỞNG

  Trong Chương 1 và Chương 2 chúng ta đă quan sát một cách tổng quát các chính sách chính yếu liên quan đến nông nghiệp và công nghiệp làm nền tảng cho đường lối điều hành kinh tế theo hướng xă hội chủ nghĩa. Qua hai chương này chúng ta đă xác nhận được rằng xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă đă không tác dụng một cách hữu hiệu trên mặt sản xuất. Sau nhiều năm đương đầu với t́nh trạng khủng hoảng kinh tế, vào giữa thập niên 1980 chính phủ Việt Nam đi đến một quyết định quan trọng: thi hành chính sách Đổi Mới bằng cách từ bỏ hệ thống kế hoạch tập trung, chuyển giao sang kinh tế thị trường. Mặc dầu quyết định chuyển giao sang kinh tế thị trường có thể được xem như một phản ừng đương nhiên tự phát sinh từ t́nh trạng đ́nh trệ trong nguồn máy kinh tế trong nước, một vài sự kiện bên ngoài như việc giảm sút viện trợ từ Liên Sô và các quốc gia Đông Âu khác và khuếch đại chênh lệch trên mức thu nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trong tổ chức ASEAN cũng đă có một tác dụng không nhỏ đưa đến quyết định này.

  Trong Chương 3 này trước hết chúng ta sẽ quan sát các nguyên nhân chính đưa đến chính sách Đổi Mới. Kế đó sẽ tŕnh bày một cách sơ lược nội dung của chính sách Đổi Mới và quan sát các diễn biến trong nền kinh tế Việt Nam sau hơn 15 năm thực thi chính sách này. Công tŕnh quan sát các diễn biến trong nền kinh tế tŕnh bày trong chương này có tính cách khái quát, dựa trên một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bởi v́ chi tiết về ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới sẽ được phân tích một cách tường tận hơn trong các Chương từ 4 đến 9.

1.      Các yếu tố chính đưa đến chuyển giao kinh tế

Kinh tế thị trường bắt đầu được thực thi trong một vài lănh vực từ các năm cuối thập niên 1970 trước khi trở thành đường lối chính cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986. Bối cảnh đưa đến quyết định chuyển giao sang kinh tế thị trường bao gồm nhiều yếu tố. Trước hết phải kể đến các yếu tố trong nước tức t́nh trạng đ́nh trệ trong hầu hết hoạt động kinh tế trong toàn quốc trong các năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-86). Kế đến có thể kể đến các yếu tố bên ngoài như việc Liên Sô thi hành chính sách Perestroika mở đường cho phong trào cải cách trong các quốc gia Đông Âu, và Trung Quốc bước vào giai đoạn Cải Cách và Khai Phóng từ năm 1978. Thêm vào đó nền kinh tế trong các quốc gia thuộc tổ chức ASEAN như Thái-Lan và In-đô-nê-xia tiếp tục phát triển nhanh, khuếch đại chênh lệch trên mức thu nhập đầu người giữa Việt Nam và các quốc gia này.

1-1.   Yếu tố trong nước

  Hoạt động sản xuất trong hầu hết xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă đă không tiến hành theo kế hoạch, từ đó gây ra nạn lạm phát với vật giá gia tăng hàng trăm phần trăm mỗi năm. Song song với t́nh trạng đ́nh trệ trầm trọng của hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá theo kế hoach tập trung này, trong thành phồ Hồ Chí Minh bắt đầu xuất hiên một số đơn vị sản xuất bởi tư nhân trên căn bản gia đ́nh mặc dầu c̣n giới hạn trên phạm vi hoạt động nhưng thật là năng động và bộc lộ một khuynh hướng khuếch đại rơ rệt. Ngoài các hoạt động kinh tế tư nhân như đă thấy trong thành phố Hồ Chí Minh, trong các vùng nông thôn chế độ khoán hộ cho thấy rơ nông nghiệp trên căn bản gia đ́nh thích hợp với quyền lợi người cày và có hiệu quả cao trên năng suất so với h́nh thức quản trị tập thể trong hệ thống hợp tác xă nông nghiệp.

Đ́nh trệ sản xuất

Như đă đề cập trong Chương 1, chương tŕnh xă hội chủ nghĩa hoá nông nghiệp và nông thôn đă tiến hành rất nhanh trên phương diện cải cách cơ cấu (thiết lập hợp tác xă nông nghiệp) nhưng không có tác dụng tốt trên mặt sản xuất. Trong các năm vào cuối thập niên 1970 sản xuất nông nghiệp lâm vào t́nh trạng đ́nh trệ trầm trọng và trong nhiều làng xă đă nảy sinh ra hiện tượng nông dân xa ĺa ruông đất, phá bỏ nông cụ.

Sản lượng nông nghiệp trong tất cả các năm trong giai đoạn 1976-79 đều thấp hơn mức đạt được trong năm 1976 và chỉ bắt đầu gia tăng từ năm 1979 khi mà chế độ khoán hộ bắt đầu được phổ biến (tham khảo Bảng 3-1 và Chương 1). Trong nền công nghiệp, mặc dầu hưởng được nhiều ân huệ của chế độ bao cấp, sản xuất của các xí nghiệp quốc doanh lâm vào t́nh trạng đ́nh trệ trầm trọng đem đến kết quả là tổng sản lượng công nghiệp chỉ tăng được 0,6% mỗi năm (tham khảo Bảng 3-1 và Chương 2). Trên sự thât, so với mục tiêu sản xuất quyết định trong Đại Hội lần thứ Tư của Đảng th́ hầu hết các ngành công nghiệp đă không đạt được mục tiêu (80% trong ngành cơ khí, 72% trong ngành điện lực, 37% trong ngành chế giấy, 32 % trong ngành chế xi măng và 28% trong ngành hoá chất)[1].

 

 

  Suất lạm phát trên 100 phần trăm

  Bảng 3-1 tŕnh bày t́nh trạng tài chính công cộng và sản xuất nông và công nghiệp trong các năm trước Đổi Mới. Trong các năm này có hai sự kiện cần được lưu ư. Trước hết v́ vật giá gia tăng nhanh trong các năm cuối thập niên 1970, cả hai ngạch thu và ngạch chi của ngân sách nhà nước tính trên giá hiện hành khuếch đại rất nhanh. Bối cảnh nằm sau suất lạm phát cao này là sự kiện chính phủ thu hẹp phạm vi quản lư giá cả và bắt đầu thữa nhận hệ thống kinh tế thị trường trong một vài lănh vực[2]. Thêm vào sự kiện này, việc chính phủ đă phải tăng chi xuất để bao cấp các xí nghiệp quốc doanh hoạt động trên căn bản thiếu hụt đưa đến gia tăng tổng ngạch chi phí của chính phủ cũng đă có tác dung mạnh trên mức giá hàng hoá và dịch vụ trong nước. Điểm thư hai là thiếu hụt trong ngân sách nhà nước tăng đến trên 18% trong năm 1981. Phản ảnh t́nh trạng đ́nh trệ trong sản xuất và thiếu hụt ngân sách, suất lạm phát tăng đến 70% trong năm 1981 và cuối cùng vọt đến 300- 500% hàng năm trong các năm 1985-86 (xem mục 3 trong chương này).

  1-2.  Nguyên nhân bên ngoài

  Chênh lệch trên mức thu nhập đầu người so với các quốc gia nhóm ASEAN và diễn biến trên thể chế kinh tế và chính trị trong các quốc gia Đông ÂU và Trung Quốc cũng đă là một yếu tố lớn thúc đẩy các nhà lănh đạo Việt Nam quyết định chuyển giao sang kinh tế thị trường.

  Chênh lệch trên mức thu nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trong nhóm ASEAN

  Vào năm 1976, sau khi thắng được hai trận giặc với Pháp và Mỹ chắc rất ít người không tin rằng trong một ngày gần Việt Nam sẽ bắt kịp với Thái-Lan, In-đô-nê-xia và Phi-lip-pin và trong một tương lai không xa có thể bắt kịp được với các quốc gia tiền tiến như Nhật và Mỹ trên mặt kinh tế. Nhưng trên thực tế th́ sau năm bảy năm sau ngày đất nước thống nhất chênh lêch trên mức thu nhập với các nước ngoài ngày càng khuếch đại. Ngoài t́nh trạng đ́nh trệ của bộ môn quốc doanh trong nước, chênh lệch trên mức thu nhập giữa Việt Nam và các quốc gia chung quanh cũng là một yếu tố lớn đưa đến quyết định chuyển giao sang kinh tế thị trường.

  Bảng 3-2 só sánh mức thu nhập trên đầu người ngay trước thời kỳ Đổi Mới trong một vài quốc gia vùng Châu Á. V́ hệ thống quyết toán tài sản quốc gia (national accounts) của Việt Nam mới được cải biến theo hệ thống Liên Hiệp Quốc từ năm 1986, có rất hiếm số liệu thống kê trước năm 1986 có thể dùng để so sánh với các quốc gia khác. Mức thu nhập trên đầu người vào năm 1983 của Việt Nam tŕnh bày trong Bảng 3-2 được tính khái quát từ mức thu nhập năm 1997 (320 US$)[3] và số liệu thống kê về GDP và dân số trong khoảng thời gian 1983-97. Suất tăng hàng năm của mức thu nhập trên đầu người của Việt Nam được suy tính từ suất tăng hàng năm của GDP (0,1%) và suất tăng hàng năm của dân số (2,2%) trong các năm 1976-80. Suất tăng hàng năm trên mức thu nhập trong các năm 1976-80 đă được dùng để chỉ tŕnh trạng trước Đổi Mới v́ mặc dầu chính phủ Việt Nam công bố chinh sách Đổi Mới vào năm 1986, kinh tế thị trường đă được thực thi trong một vài lănh vực từ khoảng năm 1979.

  

  Như tŕnh bày trong Bảng 3-2, không những vào thời điểm năm 1983 mức thu nhập trên đầu người của Việt Nam c̣n ở mức độ rất thấp so với các quốc gia láng giềng như Thái Lan, In-đô-nê-xia và Phi-li-pin mà chênh lệch này đă theo đà khuếch đại trong nhiều năm. Vào năm 1983 mức thu nhập của Việt Nam ước lượng vào khoảng 180 đô la Mỹ so với 820 đô, 560 đô và 760 đô trong các quốc gia Thái-Lan, In-đô-nê-xia và Phi-lip-pin. So với Nhật Bản th́ mức thu nhập của Việt Nam không quá 1 phần 60. T́nh trạng lại càng trầm trong hơn khi chúng ta nhớ ra rằng trong các năm cuối thập niên 1970, chiến tranh vừa chấm dứt và Việt Nam vừa bước vào giai đoạn phục hưng kinh tế. Thông thường trong giai đoạn phục hưng sau chiến tranh các hoạt động kinh tế phục hồi nhanh và nâng cao suất tăng hàng năm của GDP. Trong giai đoạn này Việt Nam không những đă không đạt được mức tăng nhanh mà ngược lại lâm vào t́nh trạng đ́nh trệ sản xuất đến nổi GDP đă gần như không thay đổi trong suốt 5 năm.

  Diễn biến chính trị và kinh tế trong các quốc gia xă hội chủ nghĩa

  Các sự kiện xảy ra trong các quốc gia khu vực Đông Âu và Trung Quốc từ cuối thập niên 1970 cũng đă tŕnh bày một vài h́nh ảnh để tham khảo về đường lối phát triển kinh tế. Trong vùng Đông Âu các quốc gia như Ba Lan và Hung-ga-ri bước vào con đường tự chủ và bắt đầu ứng dụng hệ thống kinh tế thị trường. Ngay cả Liên Sô cũng bắt đầu chính sách Perestroika, dần dần tiến gần đến hệ thống kinh tế và chính trị trong các quốc gia phương tây. Trong vùng Châu Á, vào năm 1978 Trung Quốc dưới thời kỳ Đặng Tiểu B́nh cũng bước vào giai đoạn ‘cải cách khai phóng’, vừa duy tŕ xă hội chủ nghĩa trên mặt chính trị vừa xúc tiến cải cách kinh tế theo hướng thị trường.

  Các diễn biến trong các quốc gia xă hội chủ nghĩa kể bên trên không những đă có một ảnh hưởng tâm lư mà c̣n có một tác dụng cụ thể trên nền kinh tế Việt Nam: viện trợ từ Liên Sô và xuất khẩu hàng hoá đến các quốc gia nhóm COMECON giảm sút rơ rệt. Vào khoảng năm 1980 th́ tài khoản mậu dịch quốc tế của Việt Nam đánh dấu một lượng thiếu hụt rất lớn . Bảng 3-3 tŕnh bày t́nh trạng chi thu trên mậu dịch quốc tế của Việt Nam trong khoảng thời gian 1976-84. Trong suốt khoảng thời gian này ngạch chi cho nhập khẩu luôn luôn vượt trên ngạch thu từ xuất khẩu. Từ trước Việt Nam đă trông cậy vào viện trợ của Liên Sô và xuất khẩu đến các quốc gia Đông Âu để duy tŕ cân bằng tài khản quốc tế, nhưng vào cuối thập niên 1970 th́ cả hai nguồn ngoại tệ này giảm sút rơ rệt.

2.      Nội dung của chính sách Đổi Mới

  Đổi Mới có thể được xem như một chương tŕnh điều chỉnh cơ cấu lớn. Đổi Mới mang tính chất của một chương tŕnh ‘điều chỉnh cơ cấu’ (structural adjustment) v́ chính sách này bao gồm một phần lớn thay đổi trên mặt hệ thống và cơ cấu như trong các chương tŕnh mà nhóm Ngân Hàng Thế Giới và IMF đă đề xướng cho các quốc gia đang phát triển. Đổi Mới được gọi là một chương tŕnh điều chỉnh cơ cấu ‘lớn’ v́ hầu hết các điều chỉnh, như chuyển giao từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, từ xí nghiệp quốc doanh đổi sang xí nghiệp tư nhân đă được thực thi trong một phạm vi rất rộng so với điều chỉnh cơ cấu trong các quốc gia theo kinh tế thị trường. Nội dung của chính sách Đổi Mới có thể được tóm lược trong bốn điểm như sau:

(1)   Trong ngành nông nghiệp, đa dạng hoá h́nh thức quản trị kinh doanh, thừa nhận nông nghiệp trên căn bản gia đ́nh.

(2)   Trên mặt phân phối hàng hoá, băi bỏ hệ thồng phân phối theo kế hoạch nhà nước, để giá cả tự do lên xuống theo t́nh trạng cung cầu của hàng hoá và dịch vụ.

(3)   Cải cách hệ thống tài chính và ngân hàng, thi hành các phương sách vĩ mô nhằm mục đích bài trừ lạm phát.

(4)   Xây dựng, duy tŕ liên hệ tốt với các chính phủ nước ngoài và các cơ quan quốc tế nhằm mục đích khuếch đại mậu dịch và chấn hưng hợp tác quốc tế.

   Đa dạng hoá h́nh thức quản trị xí nghiệp

 Với nhận thức rằng giới hạn hoạt động kinh tế vào hai hinh thức xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă và chính sách bao cấp là hai nguyên nhân chính đưa đến t́nh trạng đ́nh trệ kinh tế, Đổi Mới đặt trọng tâm vào việc đả phá t́nh trạng đ́nh trệ này bằng cách thừa nhận các h́nh thức kinh doanh như xí nghiệp sản xuất trên căn bản gia đ́nh, xí nghiệp tư nhân và xí nghiệp hợp doanh với nước ngoài và cùng lúc đưa ra phương sách cải tiến năng suất của xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă.

Trong ngành nông nghiệp, ngoài hợp tác xă nông nghiệp chính phủ chính thức thừa nhận canh tác cá nhân và canh tác trên căn bản gia đ́nh và thuyên giảm suất thuế nông nghiệp (từ 40% giảm xuống 10%). Đối với hợp tác xă nông nghiệp, nới rộng quyền tự chủ của từng hợp tác xă và thừa nhận quyền tự do của các hộ nông nghiệp trong việc gia nhập và từ bỏ hợp tác xă. Trong các ngành công nghiệp, xúc tiến công tŕnh gia tăng sản lượng và năng suất bằng cách tích cực kêu gọi tư nhân trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Với mục đích cải tiến năng suất của các xí nghiệp quốc doanh, thuyên giảm can thiệp của các cơ quan chính phủ trung ương và địa phương vào nội bộ của từng xí nghiệp, nới rộng phạm vi tự chủ của từng xí nghiệp trong việc điều hành xí nghiệp và ngược lại dần dần thuyên giảm và băi bỏ chế độ bảo trợ xí nghiệp. Các cải cách này đưa đến kết quả là ‘xí nghiệp quốc doanh’ trở thành ‘xí nghiệp quốc hữu’ trong đó chính phủ tiếp tục giữ quyền sở hữu xí nghiệp nhưng uỷ quyền kinh doanh vào tay ban chấp hành xí nghiệp.

Ở đây cũng cần lưu ư đến một điểm khác biệt giữa Việt Nam và các quốc gia vùng Đông Âu. Chính phủ trong các quốc gia Đông Âu đă tích cực xúc tiến các chương tŕnh ‘tư doanh hoá’ (privatization) xí nghiệp quốc doanh, biến đổi xí nghiệp quốc doanh thành xí nghiệp tư doanh bằng cách bán cổ phần của xí nghiệp quốc doanh cho tư nhân. Ít nhất cho đến ngày tác giả viết các ḍng này, mặc dầu chính phủ Việt Nam nhấn mạnh các công tŕnh đa dạng hoá h́nh thức quản trị xí nghiệp, thừa nhận xí nghiệp tư và xí nghiệp có đầu tư nước ngoài, tích cực cải tiến năng suất xí nghiệp nhà nước, ‘tư doanh hoá’ không là đối sách chính thức và xí nghiệp nhà nước vẫn c̣n được cho giữ vai tṛ chủ yếu trong hầu hết mọi lănh vực kinh tế của quốc gia.

  Trong các đối sách bao gồm trong toàn bộ chính sách Đổi Mới, hai bộ luật liên quan đến nông nghiệp và đầu tư nước ngoài đă có một ảnh hường mạnh trên cả nền kinh tế. Như đă giải thích trong Chương 1, chính sách tập thể hoá nông nghiệp chuyển quyền sở hữu đất vào tay nhà nước và xây dựng h́nh thức canh tác trên căn bản tập thể dưới kế hoạch nhà nước. Bộ luật mới ban hành cho ngành nông nghiêp mặc dầu c̣n duy tŕ quyền sở hữu đất trong tay nhà nước, giao quyền sử dụng đất vào tay người cày. Quyền sử dụng đất này có kỳ hạn (tuỳ theo mục đích sử dụng) nhưng có thể  trao đổi, cho mướn, bán và thừa kế. Bộ luật mới vê đầu tư nước ngoài bao gồm nhiều chương mục bảo đảm quyền lợi của xí nghiệp nước ngoài có tác dụng khuyến khích tư nhân nước ngoài tham gia vào các hoạ động kinh tế trong nước. Như tŕnh bày trong Bảng 3-4, Bộ Luật Đầu Tư Nước Ngoài công bố vào tháng 10 năm 1987 và được cải chính vào tháng 12 năm 1988.

  Cải cách hệ thống vật giá và phân phối hàng hoá

  Cải cách hệ thống phân phối hàng hoá và dịch vụ là một thành phần trọng yếu trong chính sách Đổi Mới. Cho đến khoảng giữa thập niên 1980, phần lớn hàng hoá và dịch vụ đă được phân phối bởi các cơ quan nhà nước (thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xă mua bán, tham khảo Chương 2) theo giá quản lư, chỉ một số ít hàng tạp hoá được trao đổi trên thị trường. Giá cả của hầu hết hàng hoá và dịch vụ được điều hành bởi Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước có chi bộ trong từng địa phương. Lưu thông hàng hoá giữa các địa phương được điều hành chặt chẻ bởi các cơ quan nhà nước. Trong nhiều trường hợp, với mục đích bao cấp tầng lớp ngưới nghèo hoặc chấn hưng giáo dục chính phủ đặt nhiều mức giá khác nhau cho cùng một sản phẩm hay dịch vụ.

  Bắt đầu từ năm 1987 chính phủ Việt Nam bắt đầu thi hành các mục sau:

(1)   Dần dần nâng cao mức giá quản lư (giá chính phủ = administered price) gần đến mức giá thị trường và cuối cùng băi bỏ giá quản lư,

(2)   Xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă mua bán, trao đổi hàng hoá và các yếu tố đầu vào dựa trên căn bản thị trường,

(3)   Hợp lư hoá các suất thuế xuất khẩu và nhập khẩu (hạ thấp suất thuế trên xuất khẩu và nhập khẩu),

(4)   Điều chỉnh suất hối đoái (hạ thấp giá trị đồng Việt Nam đến mức giá thị trường).

 

  Đường lối cải cách hệ thống phân phối hàng hoá và vật giá hiện rơ trong thay đổi chức năng của Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước từ các năm đầu thập niên 1990. Trước năm 1986 cơ quan này quyết định mức giá của hầu hết sản phẩm, nhưng bước vào thời kỳ Đổi Mới phạm vị hoạt động của cơ quan này được giới hạn vào việc điều chỉnh giá cả của một vài mục hàng hoá căn bản như xi măng. Ngày nay tất cả các tổ chức và chức năng của Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước đă được giải tán hoặc thu hút vào Bộ Tài Chính.

  Cải cách hệ thống tiền tệ, tài chính và ngân hàng

  Hệ thống ngân hàng cũng đă được cải cách để thích hợp với nền kinh tế thị trường. Cải cách liên quan đến hệ thống tiền tệ, tài chính và ngân hàng nhằm vào mục đích giải quyết vấn đề lạm phát (thuyên giảm hoặc băi bỏ chi xuất của ngân hàng quốc gia nhắm vào mục đích bao cấp các xí nghiệp quốc doanh, cường hoá vai tṛ của ngân hàng quốc gia trong chức vụ thiết lập và thi hành chính sách kinh tế vĩ mô), cường hoá vai tṛ của hệ thống ngân hàng trong các hoạt động kinh tế tư nhân (thiết lập ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng thương mại, v.v.), khích lệ tiết kiệm trong nước (duy tŕ suất lăi dương v.v.) và chấn hưng và khích lệ mậu dịch quốc tế và đầu tư từ nước ngoài (thi hành một chính sách hối đoái thích hợp ). Sau đây là một vài biện pháp cải cách hệ thống tiền tê, tài chính và ngân hàng thực thi trong các năm 1986-89:

(1)   Giảm giá đồng bạc Việt Nam (tháng 7, 10, 12 năm 1987, tháng 2, 11, 12 năm 1988, tháng 1, 2, 3 năm 1989)

(2)   Chỉnh đốn hệ thống ngân hàng (tháng 7 năm 1987), thiết lập ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng thương mại (tháng 7 năm 1988)

(3)   Công bố Luật Đầu Tư Nước Ngoài mới (tháng 10 năm 1988)

(4)   Công bố lăi suất mới (cao hơn suất lạm phát, tháng 3 năm 1989)

  Qua vài lần giảm giá đồng bạc Việt Nam, vào năm 1989 suất hối đoái được nâng cao từ mức thấp trong thời kỳ trước Đổi Mới (1 đô la Mỹ = 3000 5000 đồng) đến gần mức cân bằng trong thị trường (1 đô la Mỹ = 10.000 đồng). Trong các biện pháp cải cách hệ thống ngân hàng quan trọng nhất là quyết định băi bỏ chế độ bao cấp xí nghiệp quốc doanh và thay đổi chức năng của ngân hàng quốc gia và thiết lập ngần hàng thương mại và ngân hàng nông nghiệp. Chế độ bao cấp xí nghiệp quốc doanh đă gây ra tinh thần nương tựa vào trợ cấp nhà nước và làm sút giảm năng suất trong các xí nghiệp quốc doanh, và nâng cao suất lạm phát[4]. Thiết lập các ngân hàng thương mại và nông nghiệp có tác dung xúc tiến đầu tư của tư nhân vào các ngành hoạt động kinh tế của quốc gia.

  Thay đổi trong chính sách đối ngoại

  Một yếu tố quan trọng bao gồm trong chính sách Đổi Mới là cải thiện và nới rộng bang giao với các quốc gia trong vùng Châu Á và các quốc gia phương tây với mục đích chấn hưng mậu dịch quốc tế, kêu gọi đầu tư và viện trợ từ nước ngoài. Cải cách trong chính sách đối ngoại của Việt Nam có thể được thấy rơ trong các biện pháp dẫn đến sự việc các quốc gia nhóm ASEAN chấp nhận Việt Nam vào làm thành viên của nhóm này và sự Mỹ và các cơ quan tiền tệ thế giới mở lại liên hệ kinh tế với Việt Nam.

Các diễn biến quân sự xảy ra trong các năm vào cuối thập niên 1970 chung quanh bán đảo Đông Dương (Việt Nam tiến quân vào Cam-pu-chia, quân đội Trung Quốc vượt biên giới phía Bắc Việt Nam) đă gây ra một t́nh trạng bất an trong môi trường chính trị khu vực Châu Á và làm nảy sinh trong các thành viên nhóm ASEAN một cảm giác nghi ngờ, đề pḥng đối với Việt Nam. V́ vậy,  việc Việt Nam rút quân ra khỏi lănh thổ Cam-pu-chia, cải thiện lại bang giao với Trung Quốc, gia nhập nhóm ASEAN (năm 1995) và mở lại bang giao với Mỹ (1995) đă có một tác dụng rất lớn trên phương diện cường hoá liên hệ kinh tế với các quốc gia trong và ngoài khu vực Châu Á.

Từ sau ngày đất nước thống nhất Việt Nam đă duy tŕ được liên hệ tương đối hoàn hảo với các tổ chức Liên Hiệp Quốc nhưng không có được ưu thế trong các cơ quan tiền tệ quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới và IMF v́ các cơ quan này thiên về đường hướng chính sách kinh tế của Mỹ. V́ vậy việc Việt Nam mở lại được bang giao với Mỹ có một tác dụng không nhỏ trên mặt cung cấp vốn đầu tư cần thiết cho các kế hoạch kiến thiết cơ sở hạ tầng trong nước.

3.      Ảnh hưởng của Đổi Mới

Hiệu quả của chính sách Đổi Mới trên nền kinh tế Việt Nam sẽ được phân tích tường tận hơn trong Chương 4 (ảnh hưởng trên GDP), Chương 5 và Chương 6 (ảnh hưởng trên nông nghiệp), Chương 7 (ảnh hưởng trên các ngành công nghiệp), Chương 8 (ảnh hưởng trên thị trường lao động) và Chương 9 (ảnh hưởng trên phân phối thu nhập). Dưới đây chỉ xin đề cập một cách khái quát ảnh hưởng của chính sách này qua một số chỉ tiêu vĩ mô

  Ảnh hưởng của Đổi Mới trên GDP và vật giá

  Ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới hiện ra rất rơ trên các diễn biến của GDP và vật giá trong các năm trước và sau Đổi Mới (xem Bảng 3-5). Tổng sản lượng quốc nội đ́nh trệ trầm trọng trong các năm trước 1986, bắt đầu chỉ chiều hướng gia tăng rơ rệt tư khoảng năm 1988, tăng đến 7% hàng năm sau khi bước vào thập niên 1990 và đạt đến trên 9% hàng năm trong các năm 1992-96. Từ các số liệu tŕnh bày trong Bảng 3-5 có thể ước lượng được rằng trong 15 năm dưới chính sách Đổi Mới GDP gia tăng khoảng 7% trung b́nh hàng năm và mức thu nhập đầu người gia tăng khoảng 5,3% hàng năm (dân số gia tăng 1,7% hàng năm), cho ra kết quả là mức thu nhập trên đầu người tăng lên gấp 2,2 lần.

Trong giai đoạn 1986-88 khi mà chính phủ Việt Nam vừa thi hành chính sách băi bỏ giá nhà nước vật giá nhảy vọt lên 340% trung b́nh hàng năm nhưng sau đó suất lạm phát giảm xuống 60% hàng năm trong các năm 1988-90, 50% hàng năm trong các năm 1990-92 và từ đó duy tŕ ở mức 10-15%. Việt Nam đă đạt được nhiều thành quả trên cả hai mặt sản xuất và vật giá v́ đă tích cực trong việc nâng cao năng suất (cải thiện phương cách điều hành xí nghiệp nhà nước và thừa nhận hoạt động của xí nghiệp tư nhân trong và ngoài nước), giới hạn chi xuất công cộng (băi bỏ chế độ bao cấp xí nghiệp nhà nước) và nâng cao tác dụng thị trường trên phương diên phân phối tài nguyên (chuyển giao sang kinh tế thị trường).

 

Trong các hoạt động kinh tế, nông nghiệp có thể được xem là một ngành đă đáp ứng một cách năng động với các diễn biến trong môi trường mới. Trừ năm bị hạn hán (1987) sản lượng lúa đă gia tăng rất nhiều và từ năm 1989 biến đổi Việt Nam thành một nước xuất khẩu gạo quan trọng trong thị trường thế giới (Xem Bảng 3-6 và Chương 6 và Chương 7). Sản xuất trong ngành chế biến cũng bắt đầu chỉ khuynh hướng đi lên từ năm 1990, cho ra một suất tăng trung b́nh hàng năm khá cao (13%) trong giai đoạn 1990-96. Hiển nhiên gia tăng lớn này trong sản lượng ngành chế biến cũng là kết quả của các cải thiên trên năng suất trong các xí nghiệp nhà nước cùng với sự gia nhập của xí nghiệp tư nhân trong và ngoài nước.

Nh́n từ khía cạnh kinh tế vĩ mô có thể xem gia tăng GDP của toàn thể nền kinh tế và gia tăng sản lượng của các bộ môn kinh tế trong nước là kết quả của gia tăng trên tiết kiệm và đầu tư. Bảng 3-7 cho thấy rằng suất tiết kiệm (saving rate) thấp hơn 12% trong năm 1990, gia tăng đến 25% trong các năm 1994-95 và đến 30% trong năm 2000.

  Ảnh hưởng trên mậu dịch quốc tế và đầu tư nước ngoài

  Các số lượng về xuất khẩu và nhập khẩu tŕnh bày trong Bảng 3-5 bộc lộ các đặc điểm sau:

(1)   Cả hai lượng xuất khẩu và nhập khẩu gia tăng nhanh nhưng xuất khẩu có suất tăng trung b́nh cao hơn.

(2)   Lượng mậu dịch với các quốc gia khu vực xă hội chủ nghĩa giảm sút, ngược lại lượng mậu dịch với các quốc gia phương tây gia tăng nhanh.

(3)   Suất thiếu hụt trong cân bằng mậu dịch tính trên tổng ngạch xuất khẩu (thiếu hụt mậu dich/ tổng ngạch xuất khẩu x 100, xem số trong () trong Bảng 3-5) thuyên giảm nhanh trong giai đoạn 1986-92 nhờ vào gia tăng nhanh trong thu nhập tữ xuất khẩu nhưng có ṃi gia tăng trong các năm 1992-96, phản ảnh  gia tăng nhanh trong chi xuất xuất khẩu.

  Chuyển giao sang kinh tế thị trường đă có một kích thích mạnh đối với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Môi trường kinh tế và chính trị đặc biệt của Việt Nam trong các năm trước Đổi Mới đă có tác dụng giới hạn lượng đầu tư trực tiếp từ các nước vùng kinh tế thị trường, nhưng từ năm 1986 xí nghiệp của các quốc gia vùng Châu Á như Nhật Bản, Xin-ga-po, Đài Loan, Hồng Công và Hàn Quốc bắt đầu các công tŕnh đầu tư lớn vào Việt Nam. Trong giai đoạn 1988-93 đầu tư trực tiếp từ các quốc gia này tích luỹ đến 63 ức đô la Mỹ (xem Bảng 3-8). Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có ṃi thuyên giảm trong các năm 1997-99 v́ ảnh hưởng của nguy cơ tiền tệ trong khu vực Châu Á nhưng chỉ khuynh hướng hồi phục trong các năm gần đây.

 


 

[1] Dựa theo 45 Năm Kinh Tế Việt Nam, trang 84.

[2] Phản ảnh điều kiện cung cầu trong thị trường, mức giá nháy vọt lên cao sau nhiều năm kềm hảm dưới mức giá quản lư.

[3] World Bank, World Development Report, 1998/99.

[4] Le Thanh Nghiep, “State-Owned and Private enterprises in Vietnam’s Apparel and Machinery Industries: A Comparative Study of Production Efficiency”. Josai International University Bulletin Vol.1, No. 1 (March 1995)

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com