MƯA THÁNG 9 VÀ CHUYỆN MỘT CHIẾC CẦU.

 

Nguyễn Anh Tuấn
 

Mến tặng Kaori-san, Thụ Ân-san và chị Thẩn
(người thích tranh của Utagawa Hiroshige và Katsushika Hokusai)
 

Tôi nh́n ra ngoài song cửa, những giọt mưa bong bóng chạm vào vũng nước nhỏ rồi tan biến như cái phù du của cuộc đời. Tháng 9 trời mưa ở Cali là một chuyện hiếm. Tôi không nhớ có cơn mưa nào thổi qua thành phố nầy vào những ngày đầu thu tháng 9 hay không. Không nhớ đây có nghĩa là "hầu như không có”. Cơn mưa ngày hôm nay không biết gọi tên như thế nào cho đúng.  

Mưa đầu thu, Akisame (秋雨  ) th́ chắc là không sai; hay Amagoi (雨乞い)  hay Kiu (祈雨 ) , là cầu nguyện cho trời mưa sau một thời gian dài không mưa. Ba năm qua, Cali đă ao ước có được "MƯA”. Mưa đến để cho cây cỏ, bông hoa được đâm chồi, nở nụ, được tươi tốt, để tưới vào ḷng người cho bớt đi những chia rẽ, hận thù.  

Th́ thôi cái nào cũng được . Cái tận cùng là mưa. Có những đêm nằm mơ, thấy ḿnh được tắm mưa như những ngày c̣n bé ở nhà quê. Hay mơ thấy lại, ngày lớn lên , trong những buổi chiều đi học về , chờ xe lam hoài không thấy đến , tôi cùng Châu , thằng bạn mà nhà nó ở gần bến xe lô , lội mưa mà đi , trong cảnh nắng sớm mưa chiều của miền sông nước Đồng Nai. Trong lúc trà dư, tửu hậu, tôi có nói những giấc mơ về mưa cho bạn bè nghe, có người nói đó là hiện tượng tâm lư và sinh lư, thiếu nước, nên uống nước nhiều . Tôi nghe và làm theo. Thân thể thấy có vẽ khỏe ra, nhưng thỉnh thoảng cũng nằm mơ thấy ḿnh dầm mưa. 

Nh́n những cành hoa trĩu nặng v́ mưa , chợt nhớ vài câu thơ của ngày học đệ nhất mà không dám trao thư giữa sân trường :

Đêm biếc cành soan, thơm giấc mơ
Đầu hiên hoa trắng nở bao giờ
Em mười sáu tuổi trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa

(Khi Em Mười Sáu, thơ Trần Dạ Từ)

Mới vài phút trước mây đen c̣n vần vũ , bây giờ th́ có len lơi vào đó một vài ṿm trời xanh. Nh́n bầu trời, tôi nhớ đến câu nói về người con gái mà ngày xưa tôi học được từ  Haba , thằng bạn cùng trường ở Yamanashi , "Onna gokoro to Aki no sora” (女心と秋の空、おんなごころとあきのそら): Con tim người con gái như trời mùa thu). Thời đại bây giờ th́ hơi khác v́ tôi có thấy nhiều người đàn ông mà kokoro (con tim) thay đổi như mây mùa thu. Câu nói tương tự có thể diễn đạt qua câu “Đằng sau một người đàn ông thành công, là thấp thoáng bóng dáng của một cô đào nhí “. Có lẽ không quá đáng. 

Cuối tháng 11 năm 2019, tôi có dịp sang Nhật và t́nh cờ đi ngang qua depato "Mitsukoshi" ở Nihonbashi. Nhớ lại tháng 12 năm 1968, khi mới đến Nhật , ông bà bảo đảm dẫn tôi đến depato nầy mua áo coat trong cơn lạnh mùa đông. 50 năm rồi, mới có dịp đi ngang qua nơi mà ḿnh đă đến đây nửa thế kỷ trước. Ngày đó tóc hảy c̣n xanh, ḷng c̣n đầy mơ mộng và đầy nhiệt huyết của tuổi hai mươi .Cảnh cũ vẫn c̣n đây, nhưng không c̣n ai nữa. Sao như có một bâng khuâng, một chua xót nào ở trong ḷng.

C:\Users\anhtu\Downloads\Web capture_1-6-2022_11849_www.bing.com.jpeg

Tôi rời Mitsukoshi depato, đi bộ khoảng vài trăm thước th́ có một cái cầu bắt qua khu phố Higashi Ginza. Phía dưới là một con sông nhỏ, phía trên là hai hàng xa lộ (高速道路), cầu được xây bằng đá (stone bridge) , ở giữa là một con lộ khá lớn. Tôi đọc tên hàng chữ kanji viết tên cầu " 日本橋  " , th́ ra , đây là "Nihonbashi", cây cầu nổi tiếng trong tranh vẽ của Utagawa Hiroshige, 歌川広重

Nihonbashi , Utagawa Hiroshige, 歌川広重 (1797 –1858 ), (Nihonbashi, Ukiyo-e, 東海道五十三次之内 日本橋): Source: internet

Nihonbashi in Edo (Edo Nihonbashi), from the series Thirty-six Views of Mount Fuji (Fugaku sanjūrokkei), Katsushika Hokusai (Japanese, Tokyo (Edo) 1760–1849 Tokyo (Edo)), Woodblock print; ink and color on paper, Japan

Edo-jo (Edo castle) và núi Phú Sĩ nh́n từ Nihonbashi, 江戸日本橋, của Katsushika Hokusai (葛飾 北斎, 1760 –1849). Source: Internet 

Ngày xưa học Nhật Ngữ, bà giáo Shiba có nói về Nihonbashi. Nhưng lúc đó tôi có hiểu ǵ về lịch sử nước Nhật và nhất là tiếng Nhật ḿnh c̣n kém, chỉ lờ mờ có một một khái niệm mơ hồ về chiếc cầu nầy ở Tokyo.  

Chợt thấy có một office nhỏ nằm hơi chênh xuống phía dưới cầu. Th́ ra đây là "Information center”. Tôi đẩy cửa bước vào th́ có hai cô mặc kimono xinh xắn ra chào "Ohayo Gozaimasu" . Tôi hỏi hai cô có thể cho tôi xin brochure/palmplet, những nơi đi xem trong vùng.

Nihonbashi, Information Center, (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

 

20191121_115326

Nihonbashi, Information Center (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

Tôi nói tôi muốn hiểu thêm về Nihonbashi. Một trong hai cô giải thích cho tôi vắn tắt về lịch sử của Nihonbashi. Chiếc cầu Nihonbashi hay Japan Bridge , là một chiếc cầu bằng gỗ, được xây cất năm 1603, khi Shogun Tokugawa Ieyasu thành lập căn cứ hành chánh và quân sự ở Edo (Tokyo ngày nay).  

Thuở đó dân gian gọi là "Nihonbashi" v́ chiếc cầu có hai chiều qua lại. Nếu viết theo tiếng Nhật là “二本橋, Nhị Bản Kiều”, ”two-lane bridge”. Trong tiếng Nhật, cách đọc: Nihon (二本, nhị bản)  và Nihon (日本 , Nhật Bản ) đều giống nhau. Về sau nầy, v́ sự quan trọng của cây cầu và vùng đất ở đây, người ta chánh thức đổi tên nó là Nihonbashi (日本橋, Nhật Bản Kiều), cầu Nhật Bản, Japan Bridge. Cô nói thêm là ở Osaka, vùng Kansai, cũng có một cây cầu, cách viết theo kanji giống nhau ,日本橋, nhưng không đọc là Nihonbashi, mà đọc là "Nipponbashi" để phân biệt với "Nihonbashi" ở Tokyo. 

Năm 1911, cầu được xây cất lại bằng gạch, có các cột đồng đúc, có hai nhịp theo phong cách "Phục Hưng (Renaissance-style), thay thế cầu bằng gỗ dưới thời Edo. Bốn con sư tử nằm chấn giử 4 đầu cầu, bảo vệ cầu khỏi ma quỹ quấy rầy. Ở chính giữa cầu hai bên thành cầu có tượng của 2 con kỳ lân (kirin) biểu tượng cho sự thịnh vượng. Một kiểu kiến trúc "Japanese - European" fusion : trong Nhật (kirin), ngoài Âu (lion). Ngày nay cầu dài khoảng 50 mét và rộng khoảng 27 mét. Nihonbashi  được xem như là trung tâm điểm của thời Edo trong quá khứ , cũng như là trung tâm của Tokyo ngày nay. Trong thời kỳ Edo (1603-1867), Nihonbashi là khởi điểm (cây số "0") đi khắp nước Nhật. Vào thời Edo có năm lộ chánh (Go Kaido, 五街道), đó là : Tokaido, Nakasendo, Koshu Kaido, Nikko Kaido, và Oshu Kaido. Mọi người đỗ về đây, các thuyền đánh cá, vận tải hàng hóa từ các nơi khác cũng đỗ về đây. V́ lư do đó, Nihonbashi đă trở thành một trung điểm thương mại hàng đầu trong thời Edo .Dọc theo con sông, phía bắc, từ "Nihonbashi" đến cầu "Edobashi" là chợ cá nổi tiếng gọi là "Uogashi" (?), dưới thời Edo. Năm 1935, chợ cá "Uogashi" dời đến Tsukuji (築地) cho đến tháng 10 năm năm 2018 chợ cá Tsukiji dời về Toyosu  (豊洲市場, Toyosu Shijō) gần đó, cho đến nay . 

Cô giải thích thêm là vào thời Edo, cá mới đánh được, đem vào Uogashi fish market, sau đó những con cá ngon nhất được đem vào Edo-jo (Edo castle) cho shogun. Số c̣n lại th́ bán cho các người giàu có. Do đó những giới nghèo không có được những món ăn nầy. Họ thèm đến nổi, họ nói là ăn được các loại thực phẩm đầu mùa th́ tuổi thọ thêm được 75 ngày. C̣n nếu ăn được cá "katsuo" đầu mùa, hatsu-gatsuo,  , (bonito, cá ngừ), hiệu quả sẽ gấp 10 lần. Có nghĩa là tuổi thọ sẽ tăng lên được 750 ngày. Cho thấy giá trị của cá "Katsuo" vào thời đó. Tôi nói với cô  " Lát nữa tôi sẽ t́m một restaurant có bán "katsuo" để được thêm 750 ngày vào tuổi thọ ". Cô cười và đáp lại, đó là lối chơi chữ gọi là "goroawase" (?). Cô cũng hănh diện cho tôi biết cô là “Edokko” (ông bà cha mẹ đă ra đời ở Edo và sống ở Edo/Tokyo từ ngày đó cho đến nay qua bao thế hệ), như ta thường nói "tôi là người Sài G̣n chính gốc”. Tôi cám ơn cô "Edokko" và đi trở lại cầu Nihonbashi.  

日本橋江戸ばしを新しいウィンドウで開きます。

Bức tranh số 43 (日本橋江戸ばし) trong tập tranh , "100 Cảnh Đẹp Nổi Tiếng Của Edo",(名所江戸百景), ông Utagawa Hiroshige (歌川広重 (1797 –1858 ) )  có vẽ một cạnh cầu Nihonbashi với giỏ cá Katsuo (Bonito, cá ngừ) đầu mùa, nh́n về phía Edobashi. Ngày nay người ta không c̣n thấy được Edobashi từ cầu Nihonbashi nữa, v́ hai cầu xa lộ xây bên trên đă che khuất mất rồi. Source: Internet

 

C:\Users\anhtu\OneDrive\Pictures\NIHONBASHI\20191121_113611.jpg

Nihonbashi ngày nay (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

 

20191121_113700

Nihonbashi, tượng sư tử đứng trấn trước thành cầu (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

Nihonbashi (Tokyo), Nihombashi Bridge 3

Nihonbashi, tượng hai con kỳ lân (Kirin) ở giữa thành cầu. Source: Kanpai 

20191121_113834

Ḍng sông dưới cầu Nihonbashi ngày nay, bên trên là hai xa lộ đi qua

 (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

20191121_120124

Nihonbashi, địa điểm cây số "zero" (ảnh chụp mùa thu 2019, Nihonbashi, Tokyo)

20191121_120023

Nihonbashi, cây số "Zero”.
Khởi điểm từ đây đi khắp nước Nhật, ảnh chụp mùa thu 2019

 

20191121_120000

Nihonbashi, cây số "Zero”.
Khởi điểm từ đây đi khắp nước Nhật, ảnh chụp mùa thu 2019

 

20191121_115913

Nihonbashi, cây số "Zero”. Khởi điểm từ đây đi khắp nước Nhật, ảnh chụp mùa thu 2019.

Tôi t́m thấy quê hương thứ hai của tôi trong bức ảnh nầy, Kofu-shi (甲府 )   

20191121_120106

Nihonbashi, cây số "Zero”.
Khởi điểm từ đây đi khắp nước Nhật, ảnh chụp mùa thu 2019
 

Hôm nay đứng trên chiếc cầu Nihonbashi mà mơ về 400 năm trước, ở nơi đây, vâng, ở nơi đây, ồn ào, náo nhiệt, với người đến, người đi, và những con thuyền đánh cá, những con thuyền mang tải hàng hóa, từ khắp nơi trên nước Nhật về Edo, đậu đầy ấp trên mặt sông. 400 năm sau, không c̣n con thuyền nào về đây nữa, chỉ c̣n trơ trọi chiếc tàu chở du khách đi dạo trên sông. Cảnh tượng vật đổi, sao dời đó làm tôi nhớ đến 7 năm trước, cũng cuối tháng 11, tôi cũng đi t́m quá khứ của thời Edo, đi bộ từ Ochiai (Gifu-ken), qua Magome-juku đến Tsumago-juku (Nagano-Ken) trên Nakasendo (中山道, Trung Sơn Đạo), nổi liền Edo (江戸, Tokyo ngày nay) về Kyo (, Kyoto). Nakasendo là trục lộ chánh cho những vùng nằm về phía tây bắc nước Nhật như Gunma, Nagano, Gifu, Ishikawa, Fukui, Toyama hay Nihon-kai. Tôi đi qua những đồi núi, qua những choba/machiba (町場 , như small town ở Mỹ ), với những juku (宿quán trọ) c̣n bảo tồn được sự nguyên vẹn như xưa. Như thấy ḿnh trở về (back in time) một không gian nào đó của 400 trăm trước. 400 năm trước, người người qua lại trên Nakasendo nầy. Bây giờ th́ vắng lặng như tờ, chỉ có ḿnh tôi đi trên những con đường ṃn, và đi qua những đoạn ishidatami (石畳) c̣n sót lại, trong trời mùa thu tuyết bay.

 

D:\Everywhere\Gifu Nakasendo.JPG

Nakasendo, Magome-juku (馬籠宿 )  (ảnh chụp khoảng mùa thu năm 2015

Tôi rời Nihonbashi đi Ryogoku (両国 ) theo lời chỉ dẫn của cô ở information center, đi thăm "Edo-Tokyo Museum " (江戸東京博物館, Edo-Tokyo Hakubutsukan), "nơi đây ông sẽ thấy lại Nihonbashi của 400 năm trước và những cảnh cũ của thời Edo và Edo castle". 

Đến Ryogoku trời đă quá trưa, bụng đă cào. Vào một tiệm kế bên nhà ga v́ thấy quảng cáo "chankonabe" (ちゃんこ鍋), thức ăn cho những lực sĩ sumo (sumo wsestler).  

Nó giống như món lẫu, có nhiều rau, nhất là phải có Napa cabbage, rau cải tàng ô (rau cúc), carrot, Naganegi (long white onion), mushrooms. Tôi thấy có thịt ṿ viên (meat ball) trong đó. Tôi hỏi họ đó là thịt ǵ ? Họ bảo đó là thịt gà ṿ viên (ground chicken meatball). Tôi ngạc nhiên v́ tôi tưởng đó là thịt ḅ hay thịt heo ṿ viên. Họ giải thích thêm là, theo truyền thống của sumo, các lực sĩ hiện dịch không ăn ḅ hay heo, hay bất cứ thịt của động vật bốn chân. V́ 4, hai chân và hai taynếu hai tay ḿnh chạm đất, là thua. Chứ c̣n gà th́ chỉ có hai chân, nên ăn thịt gà th́ hai chân ḿnh chạm đất vững như bàn thạch , và hai tay không bao giờ chạm đất (v́ gà đâu có tay hay hai chân trước), có nghĩa ḿnh bao giờ cũng thắng. Âu cũng là một điều thú vị mà tôi học được. Chanko-nabe là một món dể ăn như "Sukiyaki" hay "Shabu shabu" , nhưng món "chanko-nabe" không có dùng nước chấm (dipping sauce) . Khi tôi xong món "Chanko-nabe”, họ mang ra cho tôi một chén cơm, và giải thích thêm là, người Nhật "tận dụng" những ǵ họ có, nước súp c̣n nhiều, bỏ th́ uổng, nên họ bỏ cơm vào chanko-nabe, để ăn. Món ăn nầy có tên là "zosui”. Họ c̣n đùa với tôi là, "thỉnh thoảng th́ nên ăn "chanko-nabe", và "zosui" cho khỏe, nhất là về mùa đông. Nhưng ăn thường xuyên th́ ông sẽ trở thành sumo-san ". 

Trả tiền xong, tôi hỏi họ đường đi đến "Edo-Tokyo Museum" . Nó chỉ cách quán ăn khoảng 5 phút đi bộ. Bên kia đường là nơi đấu sumo, Ryogoku Kokugikan (両国国技館). 

Khi bước vào bên trong viện bảo tàng Edo-Tokyo, cái đầu tiên mà làm chúng ta xúc cảm nhất là thấy chiếc cầu Nihonbashi được làm lại (reconstructed) như thời Edo. Nó đem chúng ta trở về ngày xưa của Tokyo, lúc người ta gọi là Edo. Trai th́ phải là trai ở Edo. Trai Edo th́ dũng cảm, đầy nam tính (男らしい). C̣n gái th́ phải gái ở Kyoto. Con gái ở Kyoto th́ dịu dàng, khả ái. Do đó có câu nói dưới thời Edo là "Azuma Otoko ni Kyo onna" (東男に京女). Tạm dịch là "Trai Tài ở Edo th́ xứng đôi với gái dịu hiền ở Kyoto".

Thưở Edo, cầu Nihonbashi dài khoảng 50 mét, rộng khoảng 8 mét. Chiếc cầu được tái tạo nơi đây, ở Edo-Tokyo Museum, chỉ dài khoảng 25 mét, và chiều ngang của cầu 8 mét. Có nghĩa là chiều dài tái tạo nầy chỉ bằng phân nửa chiều dài thật của nó. Nhưng người ta giữ đúng kích thước chiều ngang 8 mét.

Việc tái tạo (reconstruction) chiếc cầu nầy trong Edo-Tokyo Museum dựa theo các tài liệu ghi chép lại về việc xây cất cầu năm 1806 và năm 1829 (source: Edo-Tokyo Museum)

 

D:\20191121_134205.jpg

Nihonbashi (reconstructed)
 (
Ảnh chụp ở Edo-Tokyo Museum, Autumn 2019, Ryogoku, Tokyo)
 

 

C:\Users\anhtu\Downloads\Web capture_8-10-2022_161854_tokyotourists.com.jpeg

Nihonbashi (reconstructed) trong Edo-Tokyo Museum (Ryogoku, Tokyo) 

 

20191121_132637

Nihonbashi trong thời Edo (Edo-Tokyo Museum).

(Ảnh chụp ở Edo-Tokyo Museum, Autumn 2019, Ryogoku, Tokyo)

 

D:\20191121_133720.jpg

Nihonbashi trong thời Edo (Edo-Tokyo Museum).

(Ảnh chụp ở Edo-Tokyo Museum, Autumn 2019, Ryogoku, Tokyo) 

 

D:\20191121_133347.jpg

Nihonbashi con lộ chánh (Chuo-dori) trong thời Edo (Edo-Tokyo Museum).

(Ảnh chụp ở Edo-Tokyo Museum, Autumn 2019, Ryogoku, Tokyo) 

 

D:\20191121_133148.jpg

Phong cảnh trong Edo-jo (Edo castle) (Edo-Tokyo Museum)

(ảnh chụp ở Edo-Tokyo Museum, mùa thu 2019, Ryogoku , Tokyo

D:\20191121_133838.jpg

Cổng chánh, dinh thự của lănh chúa Matsudaira Tadamasa (là daimyo của vùng Echizen-Fukui), một cận thần của Tokugawa shogun. Dinh thự được kiến trúc và xây cất theo kiểu Momoyama nằm trước cổng Ote-mon của thành Edo. Rất tiếc dinh thự nầy đă bị hỏa hoạn "Meireki " phá hủy và người ta không xây lại nữa.

 

D:\20191121_134045.jpg

Compound dinh thự của lănh chúa Matsudaira Tadamasa (là daimyo của vùng Echizen-Fukui), một cận thần của Tokugawa shogun . Dinh thự được kiến trúc và xây cất theo kiểu Momoyama nằm trước cổng Ote-mon của thành Edo. Rất tiếc dinh thự nầy đă bị hỏa hoạn "Meireki " phá hủy và người ta không xây lại nữa . 

Trời Tokyo cuối tháng 11, mới khoảng 4 giờ, mà bắt đầu tối. Có lẽ trời sắp mưa v́ mây đen vần vũ . 

Thôi giă từ "Edo”. Tôi thả bộ ra nhà ga Ryogoku, mua vé về Shinjuku. Con tàu vàng quen thuộc của thuở nào, đưa tôi đi, về của thời đi học ở Kokusai hơn 50 năm về trước, và hôm nay tôi lại có cơ duyên đáp chuyến tàu vàng năm xưa. Khi tàu ra khỏi "Ochanomizu" th́ trời đổ mưa, tàu đi ngang qua Sendagaya, tôi cố nh́n qua cửa kính xem geshuku ngày xưa của tôi nơi đây, nhưng nay không c̣n nữa. Một nổi buồn kỳ lạ như một quá khứ êm đềm đă đi xa. Nó không c̣n nữa như một thời Edo cũng đă xa dần, xa dần trong cơn mưa chiều nay. 

Con tàu vàng đến Shijuku, tôi bước ra, chợt nh́n thấy bên kia platform bóng dáng quen thuộc của chuyến tàu điện hai màu, trắng và xanh blue, đúng rồi, chuyến tàu Chu-o honsen (中央本線 ) đi về quê hương thứ hai của tôi : Kofu (Yamanashi). Ngày đó, anh em bỏ Nhật đi gần hết, thỉnh thoảng tôi về Tokyo, ghé Maruzen mua sách. Tôi thường đợi chuyến tàu cuối đi về Kofu. Đứng đợi tàu trên sân ga Shinjuku, nh́n những hạt mưa rơi trên platform, trong cái lạnh buốt của cơn mưa mùa đông, một nổi buồn xa vắng và cô đơn, mơ ước một buổi cơm chiều gia đ́nh của một quá khứ nào xa xôi ở Biên Ḥa, có cha, có mẹ, có những đứa em .  

C:\Users\anhtu\Downloads\VIDEOs\SHINJUKU EKI.jpg

Shinjuku , ngày mưa 

Không biết tôi tôi thích mưa v́ Cali không có mưa, tôi cần mưa để mang đến cho tôi những tươi mát trong ḷng, hay v́ mưa đem tôi về với những kỷ niệm của một thời. Có lẽ cả hai. 

Những tia sáng đầu ngày đă chiếu sáng trong căn pḥng qua cánh cửa sổ c̣n khép kín, Tôi đi làm tách cà phê buổi sáng, và nghe lại bản nhạc ngày xưa, của 50 năm về trước, mà một thời yêu thích . “Nagasaki wa kyo mo Ame Datta, Another Rainy Day in Nagasaki.” 

長崎は今日も雨だった(高音質) 内山田洋とクールファイブ - YouTube 

Nhớ về Edo trong cơn mưa tháng 9 .

Bắc Cali đầu thu 2022

Nguyễn Anh Tuấn 

C:\Users\anhtu\Downloads\「江都名所 日本橋」_source_MFA Boston.jpg

二本橋(にほんばし) -  NIHONBASHI

 

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com