Truyện 12 TT: 

TRUNG DUNG CỦA TƯ TƯỞNG (1)

FUKUZAWA Yukichi (*)

Dịch: Nguyễn Sơn Hùng

***

Con người dù đă đạt đến mức độ đầy đủ cơm ăn áo mặc để yên tâm sinh sống nhưng không có nghĩa là không c̣n ham muốn những thứ khác. Một khi đă có được thực phẩm, y phục tránh được đói khát, rét lạnh lại bắt đầu nghĩ đến ăn ngon mặc đẹp; nghĩa là được một, muốn hai, được hai lại tiến lên ba không bao giờ dứt. Đây là ham muốn và tham vọng của con người. 

Ham muốn và tham vọng mới nghe qua có thể nghĩ là không tốt nhưng thật ra nhất định không phải vậy. Chính v́ nhờ trời bẩm sinh con người có ham muốn và tham vọng mà văn minh nhân loại mới có tiến bộ! Có thể nói dứt khoát rằng từ lúc khai tịch (thế giới bắt đầu có lịch sử) cho đến nay văn minh, học thuật con người được phát triển như ngày nay là do kết quả của ḷng ham muốn và tham vọng nói trên.  

Như vậy thử hỏi ḷng ham muốn con người là ǵ? Câu trả lời là ḷng ham muốn này có loại thuộc lĩnh vực vật chất, xác thịt giống như động vật và cũng có thứ rất cao thượng thuộc phần tinh thần. Người trí thức, học giả đọc sách, nghiên cứu t́m hiểu chân lư của sự việc, người làm chính trị cực nhọc lo vận doanh việc quốc gia, doanh nhân để hết tâm sức vào kinh doanh, người thường dùng sức lao động tay chân, tất cả đều do ḷng ham muốn bẩm sinh. Cách biểu hiện ham muốn có chênh lệch giữa cao quư và tầm thường nhưng nếu không trái luật pháp và đạo đức, không gây tổn hại cho người khác th́ không có loại ham muốn nào đáng trách hoặc nên phủ nhận. 

Từ lư do nói trên, từ đầu tôi vốn không có ư định đổ lỗi hoặc quy tội cho việc có ḷng ham muốn nhưng điều trọng yếu là không nên để ḷng ham muốn mất căn bằng. Có lẽ điều mà người xưa gọi trung dung (2) là có ư nghĩa này. Người có học nên lưu tâm ghi nhớ điều này. 

Thí dụ, việc uống rượu như thói quen của con người không phải là điều xấu bởi v́ người ta nói rượu đứng đầu bách dược (trăm thứ thuốc), nên nếu dùng rượu như một phần hỗ trợ cho ăn uống th́ tự nhiên không phải là không có hiệu quả. Tuy nhiên nếu uống nhiều cho đến mức say sưa, so với các thức ăn khác mất đi căn bằng, không có quân b́nh th́ không tốt. Quá mức căn bằng sinh ra hại không phải chỉ có rượu mà ngay cả rau thịt cũng tương tự. Ngay cả cơm gạo được cho là vô hại nhưng nếu ăn quá độ chắc chắn sẽ trở thành thứ độc hại

Tai hại của việc không giữ căn bằng không chỉ giới hạn ở việc ăn uống mà c̣n có thể thấy rơ ràng ở những sự việc khác. Học giả và nhà chính trị chỉ biết hết ḷng dùng đầu óc sẽ rơi vào t́nh trạng thiếu vận động cơ thể, quên mất giải trí tiêu khiển để thanh thản tinh thần rồi sinh ra bệnh đưa đến qua đời sớm cũng là do phạm lầm lỗi đă đánh mất căn bằng hay điều ḥa giữa cực khổ và vui sướng.  

Sau đây xin được giới thiệu vài thí dụ trong giới giàu có của thời nay. 

Các nhân vật tài ba trong giới doanh nghiệp nhiệt tâm kinh doanh để có lợi nhuận cũng là do ḷng ham muốn, và hoàn toàn không phải là việc xấu. Kinh doanh giỏi, lập thân (tạo dựng được sự nghiệp cho ḿnh) thành công là điều rất tuyệt vời. Tuy nhiên, sau khi đă thành công, ḷng ham muốn, tức tính hiếu kỳ vẫn chưa hết, và chắc chắn c̣n có nhiều việc muốn thực hiện khác. Điều này vốn là tự do của mọi người, người ngoài không nên xía miệng vào. 

Xây cất nhà cửa, vườn tược nguy nga tráng lệ, thu thập đồ cổ thư họa quư hiếm, cùng bạn bè du lịch thưởng ngoạn thắng cảnh danh lam, thưởng thức âm nhạc là thú vui thanh nhàn của con người thượng lưu, rất là tuyệt hảo. Tuy nhiên bản chất chất của việc này chẳng qua là trong phạm vi của một gia đ́nh, chỉ làm thỏa măn, xoa dịu ḷng hiếu kỳ của một cá nhân. 

Nếu như những người nói trên biết nới rộng giới hạn của ḿnh hướng mắt ra phạm vi ngoài gia đ́nh, họ sẽ phát hiện một thế giới to rộng hơn để làm đối tượng cho ḷng hiếu kỳ và đáng để cống hiến công sức cùng tiền tài của họ. Thí dụ, giúp đỡ hay hiệp lực với tôn giáo để nuôi dưỡng tâm đức của những người đang lạc lối, bỏ tiền giúp đỡ các trường học để khuyến khích giáo dục, hoặc quyên góp vào các bệnh viện đang gặp kinh doanh khó khăn, cơ quan đoàn thể cung cấp y liệu cho người nghèo v.v…c̣n rất nhiều việc thật không thể nào kể ra hết! Các thí dụ vừa kể trên thật là những nơi tuyệt vời để cho các bậc phú hào giàu có đem ḷng sử dụng tiền tài cống hiến xă hội. 

Kinh doanh để nội bộ trong gia đ́nh, gia quyến được thịnh vượng, truy t́m lợi ích cho xă hội vốn là ḷng ham muốn vượt qua ḷng ham muốn đủ ăn mặc ở của cá nhân, và vốn không hẳn là điều mà người khác có thể cưỡng chế bắt buộc phải làm. Nói theo cách thông thường, đó là sở thích, thú tiêu khiển của cá nhân. Tuy nhiên chính v́ là sở thích hoặc thú tiêu khiển nên việc giữ căn bằng quân b́nh giữa thú vui thuộc phạm vi gia đ́nh và thú vui đem lợi ích cho cộng đồng, thực hiện tinh thần trung dung mới thực sự là hành động đáng khen đáng quư trọng đối với xă hội. 

Tiếc thay, nh́n nh́n vào t́nh trạng hiện nay, các nhà hào phú sau khi sự nghiệp thành công, đầu tư tiền của vào các thứ đồ vật cá nhân yêu thích, tiêu xài nhiều tiền vào ăn uống y phục, nhà cửa vườn tược, một lần bỏ ra chục triệu yên cho khoái lạc một lúc nhưng lại không những keo kiệt bủn xỉn từng triệu yên khi dùng tiền đầu tư vào việc công cộng mà ngay cả tiền xài trong việc giáo dục con cái của họ, họ cũng tiếc. Việc chênh lệch căn bằng trong cách sử dụng tiền của họ thật to lớn. 

Chênh lệch nói trên lại c̣n to lớn hơn đối với trường hợp của những người có chí theo Tây học (3). Học Tây học ở trong nước hoặc ra nước ngoài du học, sau khi tốt nghiệp có tài năng giỏi trội hơn người chung quanh nên giữ được địa vị chức vụ cao, có được nhà cửa hoành tráng hơn người. Lúc c̣n nghèo khó mọi việc không được như ư, nay tài sản đă có nhiều nên mọi người chung quanh thầm nghĩ chắc chắn những người này sẽ tận sức hết ḷng với công việc học vấn, giáo dục của nước nhà. Nhưng không phải vậy. Ngược lại khi các vị Tây học này bắt đầu có tiền của, dư dả họ dần dần bắt đầu nhiệt tâm vào thú vui, sở thích nhưng đối tượng không phải Tây học mà nào là quư trọng yêu thích đồ cổ của Nhật Bản, thu thập đồ sứ, thư họa, say mê ưu mỹ của cắm hoa, nhàn nhă của trà đạo, cao thượng của ca khúc truyền thống cổ điển, phong lưu của nghĩa thái phu (4) rồi cho rằng “So sánh sự vô vị của các nước Tây phương, nghệ thuật cổ điển của Nhật Bản thật là tuyệt vời”. Chính việc với thân phận là người lớn đáng lẽ biết phân biệt tốt xấu họ lại đi say mê điên cuồng tṛ chơi trẻ con, c̣n tỏ ra chỉ có ta đây mới biết cực ư (cái hay ẩn sâu kín) của văn minh, đúng là tạo ra chuyện cười cho thiên hạ.    

Tư tưởng về văn minh của những người nói trên mới nh́n qua nghĩ rằng họ đă đến đỉnh cao của mục tiêu nhưng trong thực tế th́ không phải vậy, họ đă thông qua đỉnh và tới nơi huyền bí của chỗ thâm sâu và bị sự vi diệu của huyền bí mà đánh mất tư tưởng về văn minh đi (5). Một khi tư tưởng về văn minh đă không c̣n th́ dù họ có đọc sách hoặc nghiên cứu cũng không vào tâm. Khi hỏi t́nh trạng gần đây của các vị tiên sinh này th́ họ trả lời là quá bận rộn nên không có thời giờ để đọc sách Tây học. Sự việc này cho thấy hiện nay họ giống như rời khỏi giới học thuật, không c̣n quan tâm đến chuyện học hành của thế gian, họ cho rằng đó là việc của người khác chớ không phải bổn phận của bản thân họ. 

(Người lớn ở xă hội Âu Mỹ mặc dù rất bận rộn nhưng họ vẫn đọc sách, họ dành thời giờ giảng giải lư thuyết, tŕnh bày suy nghĩ của họ để phụng sự xă hội là việc thường có. Ngày xưa Benjamin Franklin (6) của Hoa Kỳ trong thời loạn lạc của trước sau chiến tranh giành độc lập, ông đă phát minh khoa học cống hiến cho học thuật và xă hội. William Ewart Gladstone (7) của Anh quốc ngày nay mặc dù đă 80 tuổi nhưng vẫn viết sách về tôn giáo không liên quan ǵ về chính trị (là chuyên môn của ông).   

Ngay ở giới b́nh dân hạ lưu, người môi giới của sở giao dịch bàn luận về giáo dục, chủ nhân của cửa bán trang phục Nhật Bản truyền thống viết sách về vật lư học không phải là chuyện hiếm có. 

Tóm lại, có thể nói người ở các quốc gia văn minh luôn có tinh thần khoáng đạt, dư dả, lúc nào cũng không quên thu thập tích trữ tư tưởng và tư duy.) 

Từ sự việc này, Tây học mà các vị tiên sinh nói trên đă khổ cực học tập từ thời thiếu niên không khác ǵ với lớp mạ vàng làm bằng văn minh Tây phương phủ lên trên ḿnh người đàn ông Đông phương có phong thái cổ xưa. Khi đặt ḿnh vào thế giới quan lại bị các công việc thế tục ma sát, lớp mạ vàng liền bong ra, bộc lộ h́nh dạng vốn có, mùi hôi cũ kỹ làm mọi người muốn nôn mửa. 

Mặc dù nói vậy nhưng là người dân nước Nhật nên vốn không thể bài trừ văn hóa có từ xưa của Nhật Bản, và tôi cũng hiểu rất rơ trong những chuyện cũ, đồ cũ tự ḿnh cần chọn lựa những thứ nên giữ lại. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản mới khai quốc (ư nói mở cửa giao dịch với thế giới) hiện nay, đúng là thời điểm đang phải bận rộn hết sức nỗ lực xây dựng và kinh doanh nền văn minh mới. Công việc đi đầu hướng dẫn mọi người đến với văn minh Tây phương là thiên chức của những người đă học văn minh Tây phương, và dù có đem sức lực cả đời người một mực tiến thẳng đến mục tiêu sợ c̣n không đủ. Vào thời điểm trọng đại như vậy mà những người trí thức, học giả nói trên không những không chịu đựng nỗi khổ cực cho tiến bộ, giữa đường trút gánh mà ngược lại tự ḿnh c̣n đi chơi tṛ chơi trẻ con đúng là đă đánh mất căn bằng của tư duy, của tư tưởng, có thể nói là đă mất đi con mắt sáng suốt để phán đoán nặng nhẹ của sự việc. 

Nguyễn Sơn Hùng

Tháng 6/2017 

(*) Nguồn: Truyện số 12 trong quyển “Phúc Ông Trăm Truyện Tiếp Theo” của Fukuzawa Yukichi, 1897, Thời Sự Tân Báo Xă phát hành. 

Chú thích

(1)  Tác giả dùng từ “trung dung” với ư nghĩa là “giữ căn bằng, giữ quân b́nh”. Để dễ hiểu hơn đáng lẽ nên dịch tựa bài là “Giữ tư tưởng quân b́nh” nhưng “trung dung” là từ ngữ quan trọng trong triết học nên người biên dịch giữ lại nguyên văn. Cũng là cơ hội để độc giả có thể so sánh với nội dung giải thích của từ ngữ này với các sách Nho học của nước ta.

(2)  “Trung dung” là một trong các tư tưởng quan trọng của Nho học nên trong Tứ thư, 4 quyển sách căn bản quan trọng, có cả một quyển tựa “Trung Dung” để giảng giải khái niệm, tư tưởng này. Trong “Khổng Học Đăng”, cụ Phan Bội Châu giải thích như sau:

“Chữ “Trung”, có hai nghĩa: không thái quá, không bất cập tức là trung; không chếch lệch về một phía nào, không nghiêng dựa về một phía nào cũng tức là trung. “Dung” nghĩa là thường, cũng nghĩa là dùng. Đúng với đạo lư mà thường thường dùng được luôn là gọi bằng “dung”.

“Đạo làm người ở trong thiên hạ có ǵ hơn đức trung, đức dung nữa đâu! Vô luận thời nào chốn nào, chỉ vừa đúng với lẽ phải mà không chếch lệch về một phía nào gọi bằng “đức trung”. Cứ giữ chặt lấy đức trung ấy mà không bao giờ thay đổi là gọi bằng “đức dung”. Trung dung chỉ làm nên đức đó, thiệt rất tốt rồi đó mà!”

(Thái quá: quá độ, quá mức; bất cập: chưa đủ mức cần thiết, chưa đến nơi.)

(3)  Tây học: học thức, học thuật của Âu Mỹ.

(4)  Nghĩa thái phu (gitayuu): một loại âm nhạc cổ điển của Nhật Bản tŕnh bày chung với kịch múa rối của phái Tịnh Lưu Ly mà người khởi xướng đầu tiên lấy tên Trúc Bản Nghĩa Thái Phu (Takemoto Gitayuu) vào năm 1684, ở Osaka.

(5)  Đoạn văn này khó hiểu, h́nh như tác giả có ư châm biếm, chế giễu.

(6)  Benjamin Franklin (1706~1790): Ông là một thành viên trong nhóm lập quốc của Hoa Kỳ, và đă tham gia soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước này. Ông cũng là một chính trị gia, nhà khoa học, nhà văn, thợ in, triết gia, nhà phát minh, nhà hoạt động xă hội, nhà ngoại giao. Các phát minh khoa học của ông gồm có: cột thu lôi, đàn armonica, bếp ḷ Franklin, kính hai tṛng, và ống thông tiểu mềm.

(7)  William Ewart Gladstone (1809~1898): nhà chính trị của Anh quốc, ông làm Thủ tướng 4 lần và là Thủ tướng Anh lâu đời nhất, từ chức lần cuối vào năm 84 tuổi.