NHẬT BẢN: TẠI SAO TÊN PHỤ NỮ THƯỜNG CÓ CHỮ TỬ?
 

Nguyễn Sơn Hùng

 

1.     Tên kèm theo chữ Tử ở Nhật Bản đầu tiên là tên của phái nam

Trong thời đại Asuka (592~710) Nhật Bản có những nhân vật lịch sử nổi tiếng như Nakatomi no Kamako 中臣鎌足 (Trung Thần Liêm Tử) vào thời Khâm Minh 欽明 thiên hoàng (592~710), Ono no Imoko 小野妹 (Tiểu Dă Muội Tử), và Soga no Umako 蘇我馬子 (Tô Ngă Mă Tử), Abe no Toriko 阿倍鳥子 (A Bội Điểu Tử) vào thời Thôi Cổ 推古thiên hoàng (nữ) (554~628). Tất cả các nhân vật này đều là phái nam và có tên với chữ Tử ở sau cùng và âm tiếng Nhật đọc là ko.

Như chúng ta đă biết những học giả nổi tiếng thời xưa của Trung Quốc thường được gọi bằng họ và chữ tử kèm theo sau như Lăo tử, Khổng tử, Mạnh tử…. Từ “tử” không phải là tên nhưng dùng để chỉ người đàn ông có đức hạnh đáng kính, gần nghĩa với “tiên sinh” (thầy). Do đó ở đây không viết hoa chữ tử cho trường hợp này.

   Nho giáo được truyền sang Nhật Bản trước Nho giáo. Vào thời thiên hoàng Ứng Thần 應神, thiên hoàng thứ 15 của Nhật Bản, Vương Nhân 王仁 của nước Bách Tế dâng tặng sách Thiên Tự Văn và sách Luận Ngữ khi đi sứ sang Nhật Bản. Và vào năm 513 thời thiên hoàng thứ 26 hiệu Kế Thể 継体, các quan Ngũ Kinh Bác Sĩ của Bách Tế sang Nhật Bản để truyền bá nho học. Có lẽ do ảnh hưởng cách gọi các học giả nổi tiếng của Trung Quốc mà tên của phái nam thời Asuka kèm theo từ “tử” ở phía sau. 

2.     Tên kèm theo chữ Tử cho phái nữ bắt đầu từ thời kỳ đầu Heian

Vào thời thiên hoàng Tha Nga 嵯峨, tại vị 809~823, đă đổi cách đặt tên cho các công chúa (hoàng nữ): các người nữ c̣n lưu lại trong hoàng tộc thêm chữ Tử ở sau cùng, đối với các người nữ ra khỏi hoàng tộc thêm chữ ở sau cùng. Trong trường hợp này cũng có thể hiểu Tử để biểu hiện sự tôn kính hoặc sự cao quư như trường hợp của phái nam nói trên.

   Từ đó cách đặt tên phái nữ kèm theo chữ Tử ở sau cùng được truyền sang giới quư tộc rồi vào lan rộng cả giới thường dân và trở nên tổng quát, thông thường vào thời Kamukura (1185~1333). Theo tài liệu để lại hầu hết tên nữ giới trong quư tộc vào cuối thời Heian hầu hết đều có chữ Tử kèm theo. Trong giới quư tộc, ngoài chữ Tử, tên thường có 1 chữ Hán có 2 âm đọc đứng trước. Tuy nhiên vào thời kỳ ban đầu cũng có trường hợp 2 chữ Nhật (Kana) với 2 âm đọc.

   Phần chữ Hán có cách đặt như sau: lấy 2 chữ Hán tên của người cha chia một chữ cho con gái đầu và một chữ cho con gái kế. Nếu có 3 con gái trở lên th́ lấy tên của ông nội. Hoặc nhờ có nhà nho chọn cho chữ Hán.

   Tên chính thức gọi là húy (imina) được đặt vào lễ thường trước 裳着 (mogi), lễ mặc áo và trang điểm dành cho phái nữ tương ứng với lễ nguyên phục 元服 (genbuku), lễ thành nhân dành cho phái nam. Ngoài húy, tên chính thức, trẻ em thường có một tên khác để gọi thường ngày. Sau khi kết hôn, tên thật cũng ít khi được dùng đến ngoài trừ trên các giấy tờ chính thức. 

3.     Tên phụ nữ Nhật Bản vào thời Muromachi

Vào thời Muromachi (1336~1573), Nhật Bản lâm vào t́nh trạng loạn lạc nên lễ thường trước hầu như không c̣n được thực hiện nên việc đặt tên thật cũng không c̣n được thực hiện nhưng thói quen đặt tên với chữ Tử cho phái nữ vẫn c̣n tiếp tục. Tuy nhiên, có các loại tên khác xuất hiện như Oichi お市 (Thị), Chacha  茶々 (Trà Trà). Có thuyết cho rằng chữ O được dùng để diễn tả sự dễ thương.  

4.     Tên phụ nữ Nhật Bản vào thời Meiji (1868~1912)

Vào năm 1871 (Minh Trị thứ 4) luật hộ tịch được đặt ra, các tên phụ nữ có chữ sau cùng đều đổi sang chữ Tử và tên không có chữ Tử cũng được thêm vào. Vào khoảng giữa thời Minh Trị trong giới b́nh dân ngoài tên có âm đọc 2 âm thêm xuất hiện tên 3 âm. 

5.     Tên phụ nữ Nhật Bản vào sau thời Taisho (1912~)

Tài liệu cho biết tên phụ nữ có chữ Tử có đỉnh cao từ 2 thập niên 1930 và 1940 chiếm trên 80%. Theo kết quả tra cứu của công ty bảo hiểm Meiji Yasuda Seimei, tên phụ nữ có chữ Tử liên tục đứng đầu mỗi năm từ 1913 đến 1964 nhưng từ năm 1965 th́ có năm đứng đầu có năm không, và năm 1982 là năm sau cùng đứng đầu. Vào năm 2019 và 2020 chiếm hạng 6.

Thập niên 1970, tên nhiều nhất là Dương Tử 陽子 (Yôko, Takako…), Trí Tử 智子 (Chiko, Satoko, Tomoko…) . Thập niên 1980: Ái (Ai, Mana, Chika, Megumi…). Thập niên 1990: Mỹ Tiếu 美咲 (Misaki,Miku,Misa…). Thập niên 2000: Sakura, Dương Thái 陽菜 (Hina, Haruna, Hana…). Sự phức tạp của tên người Nhật Bản là cùng một chữ viết nhưng có rất nhiều cách đọc! Do đó khi phải phiên âm đọc đúng tên nhân vật trong tài liệu tiếng Nhật là việc khó khăn phiền phức.

Hiện tượng tên có chữ Tử kèm theo giảm sự yêu chuộng của quần chúng có lẽ do xă hội không thích những ǵ thông thường, cho đó là không có cá tính hoặc có thể cũng do không biết ư nghĩa của chữ Tử mà ngày xưa cha mẹ muốn gửi gắm trong đó chăng? Hiện tượng này giống như tên phụ nữ có chữ Thị ít được dùng đến ở Việt Nam về sau này.

 

Nguyễn Sơn Hùng

19/1/2022