BUỒN BUỒN PHÓNG BÚT

 

(ĐỒ NHIÊN THẢO - TSUREZURE-GUSA)
 

Urabe Kenkô

Tượng Urabe Kenkô (ảnh Gallimard)

 

Nguyễn Nam Trân
dịch
, chú và khảo dị

 

 

 

PHẦN II  (Đoạn 47 đến 110)

Đoạn 47: Chuyện người đi lễ chùa Kiyomizu.
Đoạn 48: Ngài Mitsuchika giảng kinh cho thái thượng hoàng.
Đoạn 49: Đợi già đến mới t́m học đạo.
Đoạn 50: Chuyện từ xứ Ise hồi năm Ôchô.
Đoạn 51: Đầm nước của điện Kameyama.
Đoạn 52: Nhà sư chùa Ninna ấy.
Đoạn 53: Lại chuyện nhà sư chùa Ninna.
Đoạn 54: Chú tiểu xinh trai chùa Omuro.
Đoạn 55: Cất nhà.
Đoạn 56: Người lâu ngày gặp lại.
Đoạn 57: B́nh luận thơ hay thơ dở.
Đoạn 58: Nếu có ḷng cầu đạo.
Đoạn 59: Những ai muốn được cứu.
Đoạn 60: Vị pháp chủ Jôshin ở viện Shinjô.
Đoạn 61: Túc lệ ném niêu đất khi sinh đẻ.
Đoạn 62: Vẻ ngây thơ của công chúa Ensei.
Đoạn 63: Chủ tế buổi lễ Goshichi-nichi.
Đoạn 64: Xe ḅ có treo tấm trướng năm sợi dây da.
Đoạn 65: Mũ măng thời nay.
Đoạn 66: Đại thần Okamoto, chức Kanpaku.
Đoạn 67: Hai điện nhánh Iwamoto và Hashimoto của thần xă Kamo.
Đoạn 68: Quan tuần kiểm họ Mỗ ở Tsukushi.
Đoạn 69: Cao tăng Shosha.
Đoạn 70: Cuộc đi chơi Seishôdô năm Gen.ô.
Đoạn 71: Tên tuổi gợi h́nh ảnh.
Đoạn 72: Những cảnh khó coi.
Đoạn 73: Chuyện người đời truyền tụng.
Đoạn 74: Tụ tập như đàn kiến.
Đoạn 75: Những người khổ tâm v́ ngồi không.
Đoạn 76: Chung quanh cửa quyền.
Đoạn 77: Hồi đó, có người thế này.
Đoạn 78: Những câu chuyện hiếm có và mới lạ nhất. 
Đoạn 79: Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ.
Đoạn 80: Ai cũng thích những của lạ.
Đoạn 81: Chữ viết và tranh vẽ trên b́nh phong cửa kéo.
Đoạn 82: B́a sách bằng vải mỏng.
Đoạn 83: Ngài tả đại thần đă xuất gia Chikurin.in.
Đoạn 84: Ngài Pháp Hiển Tam Tạng qua Thiên Trúc.
Đoạn 85: Ḷng không ngay thật.
Đoạn 86: Quan tham nghị Koretsugu.
Đoạn 87: Cho phép người làm uống rượu.
Đoạn 88: Một người nói về nét bút của Ono no Tôfuu.
Đoạn 89: Con quái thú Nekomata trong núi sâu.
Đoạn 90: Người giúp việc cho quan Dainagon Hôin.
Đoạn 91: Chuyện xảy ra vào Ngày Lưỡi Đỏ.
Đoạn 92: Người tập bắn cung.
Đoạn 93: Người đi bán ḅ.
Đoạn 94: Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai lên sảnh đường.
Đoạn 95: Thắt nút giây nắp hộp.
Đoạn 96: Giống cỏ tên gọi Menamomi.
Đoạn 97: Vật sống bám theo.
Đoạn 98: Những lời dạy bậc cao hiền để lại.
Đoạn 99: Quan Tướng Quốc Horikawa.
Đoạn 100: Quan Tướng Quốc Koga.
Đoạn 101: Người chuẩn bị lễ nhậm chức cho đại thần.
Đoạn 102: Ngài, Mitsutada, chức In no Dainagon đă xuất gia
Đoạn 103: Ở điện Daikakuji.
Đoạn 104: Ngôi nhà trọ hoang vu.
Đoạn 105: Tuyết tàn c̣n đọng bên tường bắc.
Đoạn 106: Truyện cao tăng Shôkuu núi Koya.
Đoạn 107: Trả lời câu hỏi của đàn bà.
Đoạn 108: Không ai biết nuối tiếc thời gian.
Đoạn 109: Người rành nghề leo cây.
Đoạn 110: Người giỏi chơi cờ Sugoroku

 

Đoạn 47:  Chuyện người đi lễ chùa Kiyomizu[1].

Một người kia, nhân khi đi hành hương chùa Kiyomizu, làm bạn đồng hành với một ni sư lớn tuổi. Suốt đoạn đường, v́ thấy bà ta lẩm bẩm hoài mấy chữ “Kusame, kusame”[2], ông ta mới hỏi: “ Sư bà ạ, tại sao cứ lặp đi lặp lại mấy câu đó thế?” . Bà kia chẳng nói chẳng rằng, tiếp tục lẩm bẩm. Bị hỏi đi hỏi lại mấy lần, bà ấy mới bực ḿnh giải thích: “Ông cứ lải nhải! Khi nào ḿnh bị hắt hơi[3] phải đọc câu thần chú này th́ mới khỏi chết. Công tử mà tôi là vú em đang tu học trên chùa Hieizan[4]. Tôi lo bây giờ trên ấy cậu ấy có đang nhảy mũi hay không nên mới khấn khứa như thế đấy!”

Ở đời có lẽ cũng hiếm người biết bày tỏ tấm ḷng tận tụy như bà này[5].

 

Đoạn 48: Ngài Mitsuchika[6] đến giảng kinh cho thái thượng hoàng.

Quan thượng khanh Mitsuchika[7], giữ nhiệm vụ chấp sự giảng kinh Tối Thắng Vương[8] trong cung, khi đến ngự sở của Thái Thượng Hoàng[9] để thuyết giảng, lắm lúc được vời tới trước mặt người và cùng ngự thiện. Lần nào, sau khi nhuếnh nhoáng đụng đũa vào tất cả các món xong, ông ta cũng đẩy quách cái mâm nhiều tầng chất những đồ ăn đă nếm vào sau rèm, rồi cứ thế cáo lui. Mấy nữ quan phục dịch không bằng ḷng bảo: “Chao ôi, người sao mà bẩn thế. Muốn bắt ai dẹp vào mấy thứ này đây![10]”. Thái thượng hoàng, ngược lại, chỉ biết cảm thán: “Ấy, cách ăn uống của bậc thức giả khác phàm là như thế. Không ai sánh với ông ấy được đâu !”[11]

 

Đoạn 49: Đợi già đến mới t́m học đạo.

Không nên đợi đến lúc về già mới bắt đầu tu đạo Phật, v́ sẽ không c̣n kịp nữa. Hăy xem những ngôi mộ cổ kia, toàn của người chết trẻ.

Ngă bệnh lúc nào không biết, rồi phút giây sắp vĩnh biệt thế gian mới ư thức được những sai lầm của đời ḿnh. Chuyện gọi là sai lầm có ǵ lạ đâu: chuyện đáng lẽ phải làm bây giờ lại để sau rồi tính, chuyện thủng thỉnh suy nghĩ được th́ hấp tấp làm ngay, chuyện đă qua đứt rồi, cuối đời c̣n đứng đó mà tiếc. Lúc ấy có hối th́ được ǵ nào?

Chỉ nên ghi ḷng tạc dạ là cái chết đeo sát bên ta, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và không giây phút nào được quên điều đó. Nếu sống và hiểu được như thế, ta sẽ không có ǵ tiếc nuối với cuộc đời và ngày càng vững ḷng chuyên tâm theo con đường của Đức Phật.

Sách Ôjô Juuin của ngài Yôgan chùa Zenrin[12] kể là xưa kia có bậc cao hiền, khi khách đến nhà, muốn bàn luận với ông về những điều cần thiết th́ bỗng nghe ông ta trả lời : « Bấy giờ tôi c̣n có việc gấp như lửa cháy, gấp lắm, trước mắt, phải làm tức khắc ! »[13] rồi bịt tai, cất tiếng niệm Phật. Rốt cục, ông được văng sinh cực lạc như ư nguyện.

Ngoài ra, c̣n có nhà tu hành tên Shinkai[14], v́ thấy cơi tam giới lục đạo (tức cơi đời) quá đỗi vô thường, cả chuyện yên tâm ngồi xuống cho đàng hoàng thôi ông cũng không sao làm được, nên lúc nào cũng ở trong tư thế lom khom chồm hổm (cho dễ bề di động).

 

Đoạn 50: Hồi năm Ôchô[15] từ xứ Ise.

Khoảng niên hiệu Ôchô, có gă đàn ông từ vùng Ise lên kinh đô, dắt theo một người đàn bà hóa quỉ[16]. Suốt hai mươi ngày đêm, hôm nào cũng vậy, người ở vùng Shirakawa[17] và kinh đô lấy cớ đi xem quỉ, làm náo loạn khắp nơi. Họ đồn đại ầm ĩ nào là : « Hôm qua quỉ nó vừa lên chơi trên chùa Saionji[18], hôm nay thế nào nó cũng ghé qua cung của thái thượng hoàng. Giờ đây chắc nó phải đang ở chỗ này, chỗ nọ... » vv...Tuy chẳng hề thấy ai lên tiếng xác nhận : « Chính mắt tôi trông thấy nó », thế mà không lấy có một người cho lời đồn đại về quỉ là chuyện bịa. Bất luận sang hèn, ở đâu thiên hạ cũng chỉ bàn tán có chừng ấy.  

Thời gian đó, một hôm nhân ta trên đường đi từ Higashiyama về phía viện Ago-i, thấy từ đại lộ Shijô cho đến phía bắc, người người đang ùn ùn chạy về hướng đó. Họ xôn xao : « Quỉ đang ở khu giữa Muromachi với Ichijô ấy ! ». Đứng trên mạn sông Imadegawa mà ḍm thử xem thế nào th́ thấy chung quanh chỗ khán đài đặc biệt dựng lên cho thái thượng hoàng ngự (khi đi xem hội Kamo), thiên hạ đă đứng chật nghẹt, đi qua không lọt. Nghĩ rằng như thế th́ cái tin đồn kia không phải là chuyện dựng đứng, bèn xin phép người ta cho đến nơi xem tận mắt. Mới hay ra chẳng có ai trông thấy quỉ bao giờ. Thế mà thiên hạ cứ huyên náo măi đến chiều tối, trước khi tan đám c̣n sinh ra những chuyện gây gỗ đáng tiếc nữa.

Sau đó, h́nh như nhiều người mắc bệnh cảm mạo mất hai ba hôm. V́ vậy có kẻ bàn : « Cái tiếng đồn vô căn cứ về ma quỉ kia không hiểu có phải là điềm gỡ báo trước trận dịch đó hay không ! ».  

 

Đoạn 51: Đầm nước của điện Kameyama.

Muốn đem nước từ ngoài sông Ôi vào đầm nước của điện Kameyama[19], dân làng Ôi [20] được lệnh làm guồng dẫn nước. Người ta chu cấp cho họ tiền nong hậu hĩ để làm việc đó. Phải mất một thời gian mới làm xong, đem ra sử dụng. Thế nhưng, guồng nước chẳng chịu quay cho. Sửa tới sửa lui mà đâu vẫn hoàn đấy, guồng vẫn không mảy may nhúc nhích.

Lúc đó mới gọi bọn người làng Uji[21] đến và ra lệnh cho họ làm guồng nước. Bọn người làng này thoăn thoắt dựng lên một cái xong ngay và lần này, guồng nước quay như mọi người mong muốn. Cảnh nước được dẫn vào chan ḥa trong cung trông thật đẹp mắt.

Mới hay muôn sự, kẻ mà thạo nghề[22] th́ bao giờ cũng được việc.

 

Đoạn 52: Có nhà sư chùa Ninna[23].

Ở chùa Ninna[24], có một vị sư, già rồi mà chưa có lần nào đi tham bái đền Iwashimizu[25]. Đó là điều ông canh cánh bên ḷng. Một hôm nhớ ra, mới đơn thân lội bộ[26] đến đó hành hương. Thế nhưng sau khi xem cảnh chùa Kyokuraku và đền Kora[27] xong, chắc mẫm là nguyện ước đă đạt thành, bèn ra về.

Đến nhà, ông quay sang nói với tăng chúng : « Chuyện tôi bao năm ước nguyện, bây giờ mới thực hiện được. Quả là một ngôi đền tôn nghiêm, hơn cả tiếng đồn về nó. Có điều khó hiểu là thiện nam tín nữ hành hương xong rồi, ai nấy cũng nhắm núi mà trèo lên nữa. Ḿnh cũng tự hỏi trên đó không biết trên đó có ǵ chăng ? Thế nhưng lại nghĩ mục đích của ḿnh là đi thăm đền thần chứ phải leo núi đâu nên tôi chẳng lên tới đỉnh ngắm cảnh làm ǵ ».

Dẫu là việc nhỏ nhưng có người hướng dẫn phải hay hơn không ! 

 

Đoạn 53: Lại chuyện nhà sư khác ở chùa Ninna.

Đây cũng là chuyện một nhà sư chùa Ninna. Có một chú tiểu đến tuổi thành sư, người ta mới tổ chức ăn mừng để chú ta khỏi c̣n luyến tiếc khi giă từ h́nh dáng thiếu niên[28]. Trong buổi lễ, cả bọn mới rủ nhau làm tṛ múa hát. Một nhà sư trong đám, đă say khướt, lấy một cái vạc con có ba chân kiếm ở đâu bên cạnh đem chụp ngược lên đầu ḿnh. V́ cái vạc không trùm được vững vàng nên ông ta mới ấn mũi ḿnh xuống để nhét cho được cả khuôn mặt vào trong đó, rồi bước ra múa. Cả bọn cùng mâm tiệc say sưa nh́n, tán thưởng[29].

Múa được một hồi, nhà sư mới nghĩ đến chuyện gỡ cái vạc đang đội ra nhưng không tài nào làm được. Khi tiệc rượu tàn và tỉnh cơn say, mọi người mới t́m cách để tháo nó nhưng đành chịu phép. Trong khi đang xoay cách này thử cách khác, da chung quanh đầu nhà sư bị lột ra, máu me ṛng ṛng rồi sưng tấy lên làm cho cái vạc càng lúc càng khó tháo và ông bị nghẹt thở. Lúc đó, bọn họ định đập vỡ cái vạc ấy ra nhưng đâu có dễ dàng như vậy. Ông kia không chịu nỗi tiếng đập inh tai nên rốt cục họ phải ngưng. Hết c̣n biết phải làm sao, bọn họ đành trùm một tấm màn vải để dấu cái đầu nhà sư, lúc này giống như đang mọc ba cái sừng. Họ đưa ông ta cây gậy chống (để lần bước) rồi nắm tay kéo đến nhà một danh y ngoài phố Kyôto. Dọc đường, thiên hạ nh́n theo ngán ngẫm. Khi vào nhà ông lang, cảnh tượng ông lang và nhà sư đối diện với nhau, trông kỳ khôi hết sức. Ông lang bảo :

-          Chứng trạng như ông đây chưa có sách thuốc nào đề cập tới mà từ xưa, không thấy ai truyền lại phương pháp hay để chữa chạy!

Hết nước, nhà sư ấy đành phải lui về chùa Ninna. Bà mẹ già và thân thuộc xúm xít đầu giường khóc thương thảm thiết [30]nhưng có lẽ tiếng khóc ấy chẳng lọt được vào lỗ tai của ông ta.

Trong khi mọi sự diễn tiến như thế, có kẻ đề nghị :

-Cho dù sứt tai sứt mũi, chắc ǵ đă chết. Thôi th́ chúng ḿnh hợp sức mà kéo bật ra hộ ông ấy !

Họ bèn lấy lơi rơm mịn chèn chung quanh xen kẻ giữa cái vạc và lớp da đầu của nhà sư rồi hè nhau lấy hết sức kéo tưởng chừng giật đứt cả cái đầu. Mũi và tai bị bay mất chỉ c̣n sót lại mấy cái lỗ đánh dấu sự kiện khủng khiếp đó nhưng dù sao mọi người cũng đă kéo bật cái vạc ra được. Mạng ông ta tuy có thoát cảnh nguy ngập nhưng vết thương có lẽ chẳng bao giờ lành.

 

Cả bọn cùng mâm tiệc say sưa nh́n, tán thưởng (Đoạn 53)

 

Đoạn 54: Chú tiểu xinh trai ở điện Omuro.

Ở điện Omuro[31] tức nơi cư ngụ của các vị hoàng tử ra tu ở chùa Ninna, có một chú tiểu lanh lợi xinh trai[32]. Bọn tăng nhân nghịch ngợm muốn lập kế hoạch rủ rê chú ta ra ngoài chơi. Họ mới hội ư với bọn du tăng (tức tăng sĩ chuyên diễn tṛ mùa hát)[33], ra công làm một vật đựng đồ ăn thức uống trông như cái hộp cơm trang trí thật hoa mỹ, mang ra một chỗ nên thơ ở vùng đồi Narabigaoka[34] và chôn dưới đất. Trên đó họ c̣n rải phủ lên một lớp lá hồng (tức lá phong mùa thu trở màu đỏ) để che dấu. Thế rồi, làm bộ tự nhiên như không có chuyện ǵ, họ lên điện Omuro nơi chú tiểu ấy ở để thăm và khéo léo mời được chú đi chơi.

Bọn tăng nhân làm ra vẻ hết sức hớn hở, tung tăng dạo bước khắp nơi, rồi lần bước đến chỗ có thảm rêu xanh nơi dấu hộp thức ăn dưới lớp lá. Họ cùng nhau ngồi xuống :

-Chao ơi, mệt quá ! À này, đây có lá hồng, phải chi được người nào hâm rượu[35] cho ḿnh nữa th́ hết ư nhỉ ! Sư huynh nào xưa nay cầu ǵ được nấy, thử khấn Trời Phật hộ cái nào!

Nói với nhau xong, họ tiến tới gần gốc cây nơi chôn hộp thức ăn, làm bộ lần tràng hạt, bắt quyết,[36] đọc chú, giỡ đủ mọi thứ lăng nhăng. Cuối cùng, họ cào hết xác lá lên xem nhưng không t́m ra được vật ǵ cả. Tưởng là ḿnh nhớ nhầm chỗ, cả bọn lại tiếp tục xông xáo đào bới tiếp khắp nơi trên đồi. Không vẫn hoàn không. Thực ra thừa lúc cả bọn rủ nhau lên Omuro, có người trông thấy họ dấu cái hộp đă cuỗm nó đi mất. Bọn tăng nhân không biết nói ǵ để chữa thẹn, buông lời chữi bới lẫn nhau, rồi giận dữ quay về.

Mới thấy việc ǵ bày tṛ quá công phu th́ kết quả dễ trở thành tẻ ngoét. 

 

Đoạn 55: Cất nhà.    

Về cách cất nhà, phải cất sao để sống cho thoải mái vào mùa hạ. Mùa đông, sống ở đâu cũng được nhưng vào mùa hạ, không có ǵ khó chịu hơn nếu nếu nhà ḿnh ở không thích hợp với khí hậu oi bức.

Ḍng suối giả dẫn nước nếu sâu sẽ không mát. Nước cạn và luôn luôn chảy cho ta cảm giác mát mẻ hơn nhiều. Để có thể thấy (đọc) những vật (ḍng chữ) nhỏ, pḥng trang bị cửa kéo (ra kéo vào được) sáng hơn và tiện lợi hơn là pḥng có liếp che. Nếu trần cao, khi mùa đông đến, sẽ lạnh và ánh đèn không đủ tỏa sáng hết cả gian. Người ta thường đồng ư với nhau rằng, trong việc xây cất nhà cửa, nếu có làm dôi ra vài chỗ trống không mục đích ǵ th́ cũng rất hay, bởi v́ ngắm thôi đă đủ thích mà có khi c̣n dùng được vào trăm thứ việc.

 

Đoạn 56: Người lâu ngày gặp lại.

Gặp lại người lâu ngày xa cách, thật là khó chịu khi chỉ nghe anh (cô) ta thao thao bất tuyệt đủ thứ chuyện đă xảy ra cho bản thân trong khoảng thời gian đó. Dù trong chỗ thân t́nh đến đâu[37], bẵng đi ít lâu mới gặp nhau, thường thường phải biết giữ ư một chút chứ nhỉ ? Người thiếu nhân cách th́ dù mới bước chân đi đâu đó chút xíu thôi, khi trở về đă mê măi nói gần hụt hơi về những điều gây ấn tượng cho anh (cô) ta như chuyện đó đang xảy ra trước mắt. C̣n những người có phẩm hạnh th́ thái độ nói chuyện của họ là cho dù ở chỗ đông người, họ chỉ hướng về một người mà nói, những người khác tự nhiên sẽ lắng tai chăm chú nghe theo. Kẻ thiếu nhân cách  không thế đâu ! Anh (cô) ta chẳng cần biết có đối tượng nào đang ở trước mặt, cứ chen vào giữa đám đông, kể huyên thiên khoái trá những chuyện như ḿnh đang thấy trước mắt, làm cho ai nấy đều phải phá lên cười. Ta c̣n có thể định được giá trị cao thấp của người nghe ở chỗ họ có tỏ ra điềm đạm khi được kể cho nghe những chuyện hay và ư nhị hoặc cười ầm lên trước những chuyện tưởng là thích thú nhưng thực ra ngốc nghếch.

Ngoài ra, không ǵ khó chịu cho ta hơn là trong những dịp đánh giá về dáng dấp đẹp xấu hay tŕnh độ văn hóa cao thấp của ai đó mà trong đám b́nh luận gia có học vấn, có kẻ cứ đem cái tôi ra làm tiêu chuẩn để so sánh.    

Đoạn 57: B́nh luận thơ hay thơ dở.

Trường hợp có sự tương phản giữa giai thoại thi ca người ta dẫn ra để tô vẽ những bài thơ waka trong khi chính bản thân các bài thơ ấy lại dở là cái dễ làm ḿnh cụt hứng hơn cả[38]

Nếu là người hiểu biết chút ít về việc sáng tác thơ th́ không ai tha thiết đến cái thứ giai thoại ấy.

Nói chung, gặp phải những ai không rành rẽ về một lănh vực nào mà thích phát biểu[39], dù ḿnh là kẻ bàng quang cũng cảm thấy bực bội, không muốn nghe.

 

Đoạn 58: Nếu có ḷng cầu đạo.

 « Nếu có ḷng cầu đạo th́ sống ở đâu lại chẳng được. Ở ngay trong nhà ḿnh, tiếp xúc với người chung quanh như thường mà vẫn dốc ḷng tu Phật để kiếp sau được siêu sinh th́ có ǵ bất tiện đâu ! ». Nhưng những kẻ tuyên bố kiểu đó tỏ ra không hiểu tí ǵ về cách tu để văng sinh cực lạc [40]. Nói trắng ra, nếu đă biết rằng cuộc đời là mong manh bèo bọt và phải t́m cho được sự giác ngộ th́ vui thú ǵ mà họ c̣n sáng tối theo hầu chủ quân hay dồn hết tâm lực lo chuyện gia đ́nh. Cái tâm vốn biến đổi dễ dàng theo sự lôi kéo của nhân duyên [41], nếu tâm ta không thanh tĩnh th́ việc tu hành đạo Phật sẽ rất khó khăn. 

Người thời nay đâu có được cái bản lănh của cổ nhân nên dù họ có muốn vào chốn núi rừng[42], nếu không chuẩn bị tinh thần để chịu đựng đói khát, chống cự mưa băo th́ không tài nào sống nổi. Đôi khi, ta c̣n thấy họ bị những dục vọng thế gian lôi kéo mất. Nói th́ nói vậy, luận điệu phê phán : « Nếu thế, việc lánh đời chẳng có ư nghĩa. Đă biết là không thực hiện được ǵ cả, cớ sao cứ phải lánh đời ! » th́ ta cũng không thể chấp nhận. Bởi lẽ con người một khi đă vứt bỏ thế gian và chọn đường tu Phật th́ trong ḷng có dậy lên sự ham muốn chăng nữa, ḷng tham dục[43] ấy cũng không thể sánh bằng ḷng dục mănh liệt của người đời. Đồ ngủ bằng giấy, áo xống sô gai, đồ ăn vỏn vẹn một b́nh bát, canh nấu bằng rau dại...những thứ họ cần chỉ có chừng đó th́ dù phải ăn xin ai, họ cũng chả gây tốn kém cho thiên hạ bao nhiêu. Những thức đó có thể được người ta cho dễ dàng và khi đă có là ḷng họ măn nguyện ngay. Hiểu rằng ḿnh là kẻ đă lánh đời nên họ cũng biết hỗ thẹn và cẩn thận lấy thân [44], dầu có tí ti ham muốn nhưng hầu như trong mọi trường hợp, đều biết lánh điều ác để hướng thiện.

Đă được sinh ra làm người [45] và muốn xứng đáng với danh vị ấy, không ǵ tốt hơn là chấp nhận mọi khó khăn để có thể từ bỏ thế gian [46]. Nếu bị dục vọng che lấp hoàn toàn và không lập chí đi theo con đường giác ngộ [47] th́ dù mang tiếng làm người, có khác ǵ muông thú [48] đâu !

 

Đoạn 59: Những ai muốn được cứu.

Những ai lập chí đi theo đường Đại Ngộ phải dẹp ngay tức khắc, không đoái hoài ǵ đến những điều ḷng ḿnh thiết tha, tưởng như không làm là không dược. « Hượm cho một chút để tôi làm nốt chuyện này đă ! ». « Bề ǵ tôi cũng bỏ đi tu mà, cho tôi tính xong vụ nầy đi ! ». « Nếu cứ giữ nguyên thế này, không khéo thiên hạ rủa tôi mất. Để họ khỏi phiền trách, cho tôi thanh toán gọn ghẽ việc này rồi tôi sẽ đi tu ! ». « Chuyện này chờ đợi đă quá lâu rồi, nán thêm một tí nữa đến khi mọi sự xong xuôi cũng chẳng mất thời giờ lắm đâu. Thủng thẳng rồi hăy quyết định !». Lư luận kiểu đó sẽ làm cho những việc coi như là bổn phận tất nhiên sẽ chồng chất lên nhau và chuyện phải làm nối tiếp không bao giờ cho dứt. Tóm lại, sẽ chẳng bao giờ có ngày phát nguyện đi tu. Thường thường chỉ cần biết suy xét một chút, ta sẽ thấy tâm tư và hành động của người sống ở trên đời đều như thế cả.

Khi lửa đă cháy tới nhà hàng xóm rồi, người đáng lẽ phải tị nạn ngay không thể c̣n bảo : « Lửa ơi, chờ ta thêm chút xíu ! ». Nếu muốn cứu lấy ḿnh th́ mặc quách hổ thẹn, thây kệ dèm pha, vứt bỏ cả tài sản để mà lánh cho nhanh. Tính mệnh là cái vô t́nh, nó chẳng đợi lúc ḿnh tiện hay không tiện. Sự chết tập kích ta c̣n nhanh hơn nước, lửa và rất khó thoát thân. Lúc đó không lẽ v́ cho rằng cha mẹ già, con cái thơ dại, ơn của vua, t́nh với người là những cái khó ḷng dứt được mà c̣n khăng khăng giữ lấy hay sao ? [49] 

 

Đoạn 60 : Vị pháp chủ Jôshin ở viện Shinjô.

Ở viện Shinjô[50] chùa Ninna, có một pháp chủ đạo đức lại học rộng tên gọi Jôshin Sôzu[51]. Ông có món khoái khẩu, một loại khoai tên gọi imogashira[52], ăn măi không biết chán[53]. Ngay cả khi ngồi ở bục giảng kinh, bên cạnh đầu gối phải có một bát lớn đầy ắp khoai để vừa nhấm nháp khoai vừa đọc sách. Gặp lúc mắc bệnh, mượn tiếng chữa trị, lui vào thiền pḥng sống một ḿnh có khi bảy ngày, có khi hằng mười bốn ngày liên tiếp, chọn những củ khoai thượng hảo hạng, ăn thực là nhiều. Bệnh nào cũng phải lành. Ngược lại, ông chẳng mời ai ăn khoai mà chỉ ăn một ḿnh. Xưa kia ông hết sức nghèo, tôn sư của ông khi viên tịch có để lại cho hai trăm quan tiền[54] và một thiền pḥng. Thế nhưng, ông đă bán thiền pḥng với giá một trăm quan, quyết định dùng tất cả ba trăm quan để ăn khoai[55]. Ông bèn để nó cho một người quen biết ở kinh đô giữ hộ, mỗi bận cứ trích ra mười quan một, gửi cho ông. Ông chỉ dùng tiền vào việc mua khoai xơi chứ không chi dụng món ǵ khác. Thế mà chẳng bao lâu, món tiền đó đă sạch ráo. Thiên hạ mĩa mai : « Đă nghèo đến thế, được ba trăm quan tiền vào tay mà lại tiêu béng kiểu này th́ quả là người đạo đức cao dày!»

Có lần Jôshin gặp một nhà sư, ông đặt cho người đó cái tên diễu là Shiroururi[56]. Khi người ta hỏi shiroururi là vật như thế nào th́ ông bảo : « Tôi cũng chẳng biết vật ấy là ǵ nhưng nếu có th́ nó phải giống cái mặt ông sư nọ ».

Tăng quan Jôshin mặt mũi sáng láng, lại có sức mạnh, ăn khỏe, chữ đẹp, học vấn cao, lại giỏi đối đáp. Ông là người tài mạo hơn người, trong chốn thiền lâm được kính trọng, được xem như một danh tăng đáng đại diện cho đồng đạo (phái Chân Ngôn). Thế nhưng ông lại là người khác đời, không coi trọng thường thức, làm ǵ cũng cứ làm theo ư ḿnh chứ không hề cư xử rập khuôn đường lối của ai cả. Sau những buổi làm xong pháp sự ra đến chỗ thụ trai, không đợi cho người ta bày biện thức ăn xong xuôi, hễ thấy trước mặt ḿnh đă đặt xong cỗ là cứ một ḿnh xơi trước. Khi nào muốn về, tự tiện đứng lên rời khỏi chiếu tiệc. Dù là cơm trưa hay cơm tối, không bao giờ ăn cùng giờ với mọi người. Khi muốn ăn th́ dù cho nửa đêm hay hừng sáng cũng ăn, c̣n lúc buồn ngủ, giữa ban ngày cứ việc đóng kín cửa pḥng, cho dù có chuyện ǵ quan trọng, cũng không thèm lắng tai nghe người ta nói. Khi đă mở mắt ra rồi, mấy đêm cũng không cần ngủ, cứ đi ḷng ṿng ngâm thơ để thanh tâm thoát trần. Thật là một lối sống không giống ai.Thế nhưng, chẳng thấy ông ta bị ai ghét cả, mọi việc, người ta chỉ đưa mắt nh́n một cái rồi thôi. Như thế, ông này có phải là người có đạo đức cao hay không đây[57] ?    

 

Đoạn 61: Tục lệ ném niêu đất khi sinh đẻ.

Tục ném niêu đất từ trên nóc điện xuống (cho vỡ) khi các bà mệnh phụ phu nhân sinh con[58] không phải là một tập quán thông thường. Chỉ được dùng như một thứ bùa phép giải nạn mỗi khi thời gian hậu sản[59] của họ kéo ra quá dài mà thôi. Trường hợp mẹ tṛn con vuông không cần phải làm.

Đây là một tục lệ xuất phát từ dân gian cho nên không hiểu nguồn gốc thế nào. Loại niêu đất dùng trong trường hợp này là niêu do làng Ôhara[60] sản xuất và mang lên. Trong những tranh xưa c̣n lưu truyền lại như bảo vật [61], có vẽ cảnh đập niêu khi người nào đẻ khó. 

 

Đoạn 62: Vẻ ngây thơ của công chúa Ensei.

Bà Enseimon.in[62] lúc c̣n thơ, có nhờ người lên hầu thái thượng hoàng[63] chuyển giùm mấy vần thơ waka (bà gửi cho phụ vương như sau) :

Futatsu moji
Ushi no tsuno moji
Sugu na moji
Yugamu moji to zo
Kimi wa oboyuru 

Một chữ có hai nét,
Một chữ giống sừng ḅ.
Chữ thẳng, chữ cong ṿng,
Xếp thành ḷng nhớ bố. [64]

 

Đoạn 63 : Chủ tế buổi lễ Goshichnichi

Tập quán điều động các vũ sĩ để bảo vệ vị tăng chủ chùa Tôji chủ tế cuộc lễ Goshichinichi[65] bắt nguồn từ xưa khi có lần bọn đạo tặc gây rối loạn tấn công chủ tế trong cuộc lễ.Những người lính nầy được gọi là tonoibito (lính túc trực) và dần dần họ được chỉ định giữ trật tự cho buổi lễ. V́ sự hung kiết của một năm có thể nh́n thấy trước qua cuộc hành lễ cho nên việc sử dụng những vũ sĩ cảnh bị vào việc này là chuyện không thỏa đáng[66].

 

Đoạn 64 : Xe ḅ có treo tấm trướng năm sợi giây da.

Có một vị bảo ta hay là không phải chỉ có người thuộc giai cấp đặc biệt được đánh loại xe ḅ mà trước rèm có treo tấm trướng kết bằng năm sợi giây da[67]. Thật ra, loại xe dành cho bất cứ ai mà gia đ́nh đă đạt được chức vị những nhà quan cực phẩm[68] triều đ́nh. 

 

Đoạn 65 : Mũ măng thời nay.

Gần đây, chiều cao của những cái măo quan có vẻ cao lên hẳn so với trước kia. Những kẻ có hộp đựng mũ kiểu xưa phải gắn thêm vè hai bên hộp để hợp với loại mũ mới.[69]

 

Đoạn 66 : Đại thần Okamoto, chức Kanpaku[70].

Ngài Okamoto[71], chức Kanpaku, có lần đem một cành mơ hồng kèm theo đôi chim trĩ[72], ra lệnh cho người nuôi dạy chim ưng trong phủ là Shimotsukeno no Takekatsu[73] gắn đôi chim trĩ lên trên cành hoa cho ḿnh. Lúc đó Takekatsu bèn thưa : « Thần không biết cách gắn chim với hoa. Hơn nữa, cũng không nghe nói đến việc gắn một cặp chim lên cùng một cành ». Nghe thế, ngài Okamoto bèn đem chuyện đó hỏi đầu bếp và những người chung quanh mà ông nghĩ là rành rẽ, nhưng rốt cục đành gọi Takekatsu trở lại : « Thôi thôi, cứ gắn cho ta theo ư nhà ngươi cũng được ! ». Lúc đó, Takekatsu mới gắn chim vào một cành mai không hoa, và chỉ gắn một con thôi, rồi dâng lên.

Takekatsu tŕnh bày[74] như thế này :

-Nếu ghép chim lên cành cây, phải ghép lên cành gỗ tạp hay một cành mai lúc hoa vừa mới chớm nụ hoặc đă rụng hết. Cành tùng năm lá cũng dùng được. Chiều dài của cành phải cỡ độ sáu hay bảy shaku[75], lại dùng dao mà cắt xéo xuống ở đầu cành, phía đối diện th́ tiện ngược chiều lên ngắn khoảng năm phân[76]. Đặt con chim trĩ vào khoảng giữa cành, gắn chân chim lên một nhánh và thân nó lên một nhánh khác[77]. Để nối hai chỗ với nhau, phải dùng loại dây tử đằng lá rủ chưa ra hoa. Phải cắt đầu sợi dây sao cho vừa vặn với độ dài của cái « cánh giả »[78] và uốn cong nó lại như sừng ḅ.

Buổi sáng lúc tuyết đầu mùa rơi, (người dâng chim) vác cành cây lên vai, đỉnh đạc uy nghiêm từ cửa chính khu vườn đi vào chầu[79] trong hoàng cung. Thế rồi, (người đó) sẽ bước từ tốn trên lối nhỏ trải đá bên hiên, không để lại dấu vết trên màu trắng mới tinh khôi, vặt một ít nhẹ lông trên lưng chim rải trên mặt tuyết và dựng cành cây lên lan can cao nối hai ṭa nhà của ngự sở. Nếu được (bề trên) ban lộc ǵ th́ lại đặt nó lên vai[80], làm lễ tạ ơn rồi ra về. Trong trường hợp gọi là tuyết đầu mùa nhưng tuyết rơi ít quá không đủ che mũi giày th́ không vào dâng chim. Tập tục vặt lông lưng chim để rải ra tượng trưng việc chim ưng săn hay tấn công con mồi bằng cách quặp phần yếu ở cuối lưng, là (nghi thức) để tỏ ra rằng chính chim ưng (thiên hoàng) nuôi đă thực sự bắt được con mồi này[81].  

(Takekatsu c̣n nói ):

Việc người ta không gắn chim trĩ vào cành hoa, tất phải có cớ. Một đoạn trong Truyện Ise[82] nhắc đến việc người kia, vào khoảng tháng chín (đầu thu), đem gắn con chim trĩ lên một cành mơ giả để đi tặng kèm theo một vần thơ ư nói :

Để dâng lên người,
Bẻ một cành mơ.
Hoa chẳng lựa mùa,
Như ḷng không đổi.

Thế nhưng đâu có việc ǵ phải phân bua bởi v́ hoa ở đây chỉ là hoa giả[83].

 

Đoạn 67: Hai điện nhánh Iwamoto và Hashimoto của thần xă Kamo

Hai điện nhánh[84] Iwamoto[85] và Hashimoto[86] của thần xă Kamo[87] thờ hai nhà thơ Narihira và Sanekata làm thần. Người đi lễ thường nhầm lẫn thần của hai điện (vốn cất kề bên) với nhau. Có một năm, trong lúc đi thăm đền, t́nh cờ ta gặp một ông từ già giữ điện, mới chận lại hỏi thăm về chuyện này th́ ông cho biết :

« Tương truyền người nào đi viếng ông Sanekata[88] th́ khi đến con sông « rửa tội » Mitarashi[89] sẽ thấy bóng ma của ông ta in trên ḍng nước. Đó là đền Hashimoto. V́ đền này gần ḍng nước hơn là đền Iwamoto, cho nên tôi mới phân biệt được đó là nơi thờ ông ấy. C̣n câu thơ mà Ḥa thượng Yoshimizu[90] vịnh :

Tsuki wo mede
Hana wo nagameshi
Inishie no
Yasashiki hito wa
Koko ni ariwara[91]  

Nơi đây người tao nhă,
Của một thời đă qua.
Ngắm trăng và trầm mặc
Thương xót những mùa hoa.

ngụ ư nói về đền Iwamoto, nơi vương tử Ariwara no Narihira[92] sau này đă trở thành thần. Thế nhưng những người (trí thức) như ngài chắc phải hiểu rơ vấn đề hơn chúng tôi nữa chứ! »

Câu trả lời khiêm tốn[93] của ông làm ta cảm kích.     

Có bà tên gọi Konoe[94] hầu ở phủ hoàng thái hậu Imadegawa[95] vốn có nhiều bài thơ được chọn đăng vào các tuyển tập soạn theo sắc chiếu. Bà ấy hồi c̣n trẻ có làm các tập trăm bài thơ[96], rồi dùng nước sông trước hai cửa đền để pha mực chép lại và dâng lên cúng thần. Bà rất nổi tiếng, nhiều người thích ngâm thơ bà. C̣n được ái mộ v́ tài thơ chữ Hán và tài đề tựa các thi tập[97].

 

Đoạn 68 : Quan tuần kiểm họ Mỗ ở Tsukushi.

Ở vùng Tsukushi[98] có quan tuần kiểm[99] họ Mỗ chuyên lo tiễu trừ quân gian. Ông ta tin rằng củ cải là một thứ thuốc hay trị bá bệnh cho nên từ lâu năm sáng nào cũng nướng hai củ mà ăn.

Một hôm trong đồn binh, nhân lúc vắng người, kẻ địch đến bao vây tiến đánh. Bỗng thấy hai tráng sĩ không biết ở đâu xuất hiện, chiến đấu không tiếc tính mạng, đẩy lùi quân địch đi mất. Ông lấy làm ngạc nhiên, mới hỏi : « Thường ngày có được bái kiến hai vị bao giờ đâu, sao lại ra sức chiến đấu dũng cảm như thế. Chẳng hay quí ngài là ai vậy ? ». Họ bèn trả lời : « Thường ngày vẫn được ông đoái hoài. Chúng tôi chính là hai củ cải mà ông vẫn xơi mỗi sáng đấy ạ ! ». Nói xong th́ biến mất.

Nhờ ḷng tin sâu sắc[100] như thế nên công đức có ngày được báo đền vậy.  

 

Đoạn 69 : Cao tăng Shosha.

Ngài Shosha[101], một vị cao tăng nhờ công đức nhiều năm tụng kinh Pháp Hoa, đă đạt đến chỗ lục căn đều thanh tĩnh (nhờ đó, có thể nghe mọi thứ âm thanh). Một hôm trên đường du lịch, nhà sư dừng chân lại ở một căn nhà trọ, nghe tiếng sùng sục của những hạt đậu ninh dưới ngọn lửa chụm bằng vỏ đậu. Tiếng ấy bảo : « Sao ruột thịt với nhau mà chúng bay lại nhẫn tâm thiêu đốt chúng tao thế này. Bọn tao hận chúng bay lắm đấy! ». Vừa xong, thấy vỏ đậu kêu lốp đốp khi bị lửa đốt và nhà sư nghe chúng nó trả lời : « Bộ chúng mày tưởng bọn tao thích như thế này lắm hay sao ! Bị đốt bỏng cả ḿnh mẫy như có làm ǵ khác được đâu. Đừng giận chúng tao chi nhá ! »[102].  

 

Đoạn 70 : Cuộc đi chơi Seishôdô năm Gen.ô[103].

Chuyện xảy ra vào dịp xa giá đi chơi Seishôdô[104] vào năm Gen.ô[105] nguyên niên nhân dịp lễ tạ ơn được mùa sau khi thiên hoàng đăng quang. Lúc ấy cây đàn t́ bà Genjô[106], bảo vật trong cung, đă biến đâu mất tích, quan đại thần Kikutei [107]phải dùng cây Bokuba[108]. Sau khi yên vị, ông kiểm tra trục gắn dây đàn. Vừa lúc ấy, một trục bị sút ra. Tuy nhiên, đại thần đă lấy ngay hồ bằng cơm mà ông chuẩn bị sẳn trong áo trét lên gắn nó lại. Cho đến lúc tấu nhạc lên tế thần th́ hồ vừa vặn khô, không gây trở ngại ǵ cho buổi lễ cả. Chẳng hiểu có thù hận điều ǵ mà nghe nói một người đàn bà[109] choàng cái áo lụa kazuki trong đám quan khách đă tiến gần đến chiếc đàn Bokuba, giật sút trục đàn ra và để hờ lại nó như cũ không cho ai biết.

 

Đoạn 71 : Tên tuổi gợi ra h́nh ảnh.

Nghe tên ai ta thường tưởng tượng ngay được h́nh ảnh người đó. Thế nhưng trên thực tế, khi gặp mặt mới biết khuôn mặt họ không giống những ǵ ta đă tưởng tượng. Nghe kể chuyện xưa cũng vậy, ta nghĩ ngay là chuyện ấy từng xảy ra ở chỗ này chỗ kia trong ngôi nhà cũ của người đó cũng như đang xảy ra trong ngôi nhà ta thấy trước mắt. Ngay đối với những nhân vật từng đóng vai tṛ nào đó trong câu chuyện, ta cũng hay ghép họ vào với người đang có mặt. Phải chăng đó là một hiện tượng khá phổ thông ?[110]

Lại nữa, không hiểu v́ sao, đối với lời nói của một người thời bây giờ đang đứng trước mặt ta, và chính t́nh cảm mà ta đang có, ta thấy như đă từng nghe, từng cảm thấy một lần đâu đó trong quá khứ rồi. Tuy không khẳng định được thời điểm nhưng nhất quyết điều đó đă xảy đến cho ta. Không lẽ đó là kinh nghiệm mỗi ḿnh ta từng trải thôi sao ?[111]

 

Đoạn 72 : Những cảnh khó coi.

Khó coi là những cảnh thế này![112] Ngay chỗ ḿnh ngồi mà chất dụng cụ bừa băi. Cạnh nghiên mực lại bày bút tứ tung. Trong gian thờ Phật chưng tượng la liệt. Vườn th́ để cây cỏ và đá quá nhiều. Trong nhà con cháu quá đông. Ngồi truớc mặt ai mà lắm lời. Làm sớ để thỉnh nguyện thần phật điều ǵ mà chỉ dài ḍng kể tốt về ḿnh.

Cái tuy có nhiều nhưng nh́n vào không bực mắt họa chăng là sách vở đầy vun xe sách[113] và rác rưỡi chất đống ở chỗ đổ rác mà thôi.  

 

Đoạn 73 : Chuyện người đời truyền tụng.

Chẳng hiểu có phải v́ sự chân thực không có ǵ hấp dẫn hay sao mà những chuyện thế gian truyền tụng thường là láo khoét [114].

Theo ngày tháng, mấy chuyện người ta đă thổi phồng rồi, nếu c̣n được mang đi kể tới kể lui ở những nơi xa xôi (người nghe không có phương tiện kiểm chứng), sẽ được vẽ vời thêm cho đặc sắc. Khi chúng được viết ra th́ thiên hạ bèn chấp nhận như là chuyện thật. Những chuyện về tài nghệ phi thường của ai đó trong lănh vực này lănh vực nọ, nếu là người thô lậu, không phân biệt thực hư th́ sẽ ca ngợi họ như thần thánh. Thế nhưng kẻ học thức không thể tin suông những chuyện đó. Giữa đồn đại và sự thực hăy c̣n một khoảng xa ngăn cách.  

Kẻ không để ư rằng ḿnh đă đi xa sự thực, cứ để những điều dối trá tuôn ra ngoài cửa miệng th́ thiên hạ sẽ biết ngay anh ta ăn nói không có căn cứ[115]. Hơn nữa, khi chính bản thân người kể cũng c̣n không tin mà thuật lại y như người khác kể cho ḿnh, vênh váo[116] ra chiều măn nguyện, th́ lời nói dối ấy không phải là của anh ta.[117] Người đáng sợ là kẻ thuật lại một câu chuyện dối như là sự thật, đôi chỗ cố t́nh làm mù mờ một vài chi tiết, làm bộ như không nhớ chính xác những ǵ đă xảy ra, nhưng cẩn thận không để cho kết cấu câu chuyện thiếu ăn khớp[118].

Thường người ta không tích cực phủ nhận những lời nói dối đem lại danh tiếng cho ḿnh[119].

Trong khi một số người nghe một cách thích thú một lời nói dối nào đó, nếu ta quyết định rằng ḿnh không nên làm kẻ duy nhất lên tiếng phản đối : « Không, chuyện đó không xảy ra như thế đâu mà ! » v́ xét rằng vô ích, thế rồi cứ im lặng ngồi nghe, vô t́nh ta sẽ thành một nhân chứng và do (sự mặc nhận)[120] đó, câu chuyện kia lại mang màu sắc đích thực hơn nữa.  

Dù sao, ở đời đầy dẫy chuyện dối trá. Có điều nếu ta cứ xem cho là những chuyện tầm phào và không để tâm nghe chúng là tránh được phiền phức. Chuyện do bọn thấp hèn kể ra, có nhiều cái làm ta dựng đứng lỗ tai. C̣n chuyện của những người đàng hoàng thường không có ǵ lạ lùng khó tin cả[121]

Nói thế thôi chứ c̣n những sự tích kỳ lạ chung quanh chư thần chư Phật, hay truyền kỳ về sự hóa thân của các Bồ Tát th́ ta không cần phải nghi ngờ ǵ nữa. Ta chẳng điên rồ ǵ mà chấp nhận không suy xét về những hủ tục mê tín dân gian nhưng nếu bảo : « Ối chào, làm ǵ có chuyện đó ! » th́ cũng không tốt. Nói chung, cứ để yên như chúng là chuyện có thực tuy không nhất thiết đặt sự tin tưởng của ḿnh vào đó, không tỏ ra nghi ngờ một cách máy móc và cũng không cười cợt người tin.

 

Đoạn 74 : Tụ tập như đàn kiến.

Kiến tụ tập thành đàn[122], đi về mọi hướng đông tây nam bắc. Con người cũng thế. Đă sinh ra ở đời, có kẻ cao sang mà cũng có kẻ thấp hèn. Có người già, người trẻ. Mỗi một người đều có chốn ra đi, một mái nhà để trở về. Chiều tối đi ngủ, sáng mai thức dậy. Sống như thế để đeo đuổi mục đích ǵ đây? Thế mà người ta cứ muốn sống măi sống hoài và thêm nhiều lợi lộc.

Lo lắng bảo trọng thân xác ḿnh để đợi điều chi vậy ? Đúng hẹn với ta th́ chỉ có cái già và cái chết. Chúng nó đến mau tất tật và quá tŕnh đó không hề ngừng lại dù một chớp mắt[123]. Trong khi chờ đợi nó đến, biết lấy ǵ để làm vui ? Những kẻ đang đắm đuối trong mê muội th́ chẳng sợ già, cũng chẳng sợ chết, ví dụ như khi bị danh lợi làm cho ḷa mắt th́ đâu chịu quay lại để thấy rằng giây phút cuối của cuộc đời đă đến sát ḿnh rồi. Hơn nữa, những kẻ ngu muội lại hay lo lắng khổ sở về cái chết. Buồn cười là họ mong muốn sao cho tấm thân ḿnh không bao giờ thay đổi[124] mà không biết rằng sự chuyển hóa của vạn vật là đạo lư của cuộc đời.

 

Đoạn 75: Những người khổ tâm v́ ngồi không.

Tâm trạng của những người thở than sầu khổ v́ tháng ngày trống rỗng, không biết làm ǵ, nó ra sao nhỉ ? Trong hoàn cảnh đó, (như trường hợp của ta th́ nhờ) cái tâm không bị ngoại vật chi phối nên ta sẽ bằng ḷng với cảnh một thân một ḿnh.

Nếu sống mà chạy theo người đời, tâm ta dễ bị những kích thích của ngoại giới làm cho lầm lạc. C̣n khi giao tiếp với người hay phải thổ lộ điều ǵ, cần phải xem chừng để nói những điều người ta muốn nghe thành thử đâm ra lừa dối chính ḿnh. Đùa cợt hay tranh chấp với người đều dễ sinh ra vui buồn, hận thù, làm cho ḷng ḿnh không được b́nh yên. C̣n như suy nghĩ về việc được mất[125], đâm ra có nhiều tính toán so b́ [126] sẽ bị loạn tâm. Khi tâm trí đă loạn, ta (mất lư tính) giống như kẻ say, và t́nh trạng say sưa sẽ dẫn đến mộng mị. Con người ta ai cũng vậy, cứ sống ồ ạt mà không biết ḿnh đang chúi mũi chạy theo cái ǵ th́ sẽ đánh mất con người thật của ḿnh.

Người chưa hoàn toàn giác ngộ trên con đường tu Phật, nhưng biết ĺa bỏ cám dỗ trần tục, đem thân ra gửi nơi nhàn tĩnh, không c̣n liên hệ đến việc đời, có được tấm ḷng b́nh thản, th́ cho dù chỉ là trong thời điểm hiện tại, có thể nói là đă được măn nguyện.

Trong sách Maka Shikan đă có lời dạy : « Mưu sinh, thù tạc, tài nghệ, học thức đều là đầu mối của sự mê lầm. Phải dứt bỏ ! »[127].       

 

Đoạn 76: Chung quanh cửa quyền.

Nơi dinh cơ của kẻ được thời đắc thế, khi có dịp quan hôn tang tế, giữa đám đông ra vào tấp nập, lại có những nhà sư khất thực đă lánh đời trà trộn vào, chầu chực để xin được tham dự. Quang cảnh đó làm ta tự hỏi v́ cớ nào họ phải lụy đến thế.

Cho dù có lư do ǵ xứng đáng đi chăng nữa, đă là tăng nhân th́ phải lánh xa thế tục.  

 

Đoạn 77 : Hồi đó có người thế này.

Thật không thể nào chấp nhận được là ở đời, vào thời điểm nào đó, có những giai thoại được người ta mang đi nói hết chỗ này đến chỗ nọ như món quà thời thượng. Kẻ chẳng liên hệ nếp tẻ ǵ cũng tỏ ra hiểu biết hết ngọn ngành, không những đem nó ra đàm tiếu với mọi người, lại c̣n dọ hỏi chỗ khác cho giàu thêm chi tiết nữa. Đặc biệt có những tăng sĩ [128] đă lánh đời, đem thân gửi chốn thâm sơn cùng cốc, lại c̣n hăng hái đi t́m hiểu về hành vi của những người thế tục như thể nó dính líu đến ḿnh. Họ phóng ra những tin tức mà ta phải ngạc nhiên tự hỏi làm sao họ lại có thể thông thạo đến thế.

 

Đoạn 78 : Những câu chuyện hiếm có và mới lạ nhất.

Cũng thế, ta không thể nào chịu được việc người ta tỏ ra gắn bó đặc biệt với những chuyện hiếm có và mới lạ nhất rồi làm ầm lên thái quá.Ta thích lối xử trí thanh tao của kẻ lẳng lặng làm ngơ cho đến khi chuyện mới lạ đó trở thành cũ mèm.

Khi có một người bạn nào mới ở đâu đến nhập bọn với chúng ta, kẻ mất dạy và thô lỗ[129] sẽ nhắc đến những tên tuổi và bàn về những đề tài mà chỉ những ma cũ đang đứng chung quanh mới quen thuộc. Anh ta sẽ nói những câu hiểu ngầm, ném từng cái nh́n đồng lơa, cười đùa có hậu ư với những người này để cho ông bạn mới, v́ chả hiểu ất giáp ǵ, sẽ cảm thấy ḿnh quê kệch. 

 

Đoạn 79: Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ[130].

Trước một vấn đề, cứ giữ thái độ không hiểu biết thấu đáo là tốt hơn cả. Người lỗi lạc th́ cho dù chuyện có nắm vững chăng nữa, cũng làm ra vẻ ḿnh chỉ biết sơ sơ.

Chính cái anh nhà quê mới bước chân ra từ hốc núi mới là kẻ khi bàn luận điều chi, đối đáp như thể ta đây cái ǵ cũng biết, cái ǵ cũng rành. V́ là người dám lấy thái độ như thế, chắc hẳn anh chàng cũng có tài cán về một phương diện nào đó đáng để đời nể phục. Dù vậy, cái cách thức anh ta tŕnh bày hiu hiu tự đắc về ḿnh trông thật khó coi.

Gây ấn tượng tốt cho ta là loại người ăn nói thận trọng cho dù khi bàn về vấn đề ḿnh nắm rơ và không mở miệng nếu người khác không đặt câu hỏi.

 

Đoạn 80 : Ai cũng thích những của lạ.

Con người ta đều thích những ǵ không dính dáng tới (cuộc sống thường nhật của) ḿnh cho lắm. Cho nên nhà sư th́ thích vơ nghệ, trong khi vũ sĩ các tỉnh miền Đông[131] dường như chưa biết cách dương cung mà đă rành Phật pháp, thích họp nhau làm thơ renga[132], khổ sở để trau dồi âm nhạc. Bởi v́ hai loại người này không tích cực đeo đuổi chuyên môn của ḿnh mà lại đua đ̣i những ngón nghề thứ yếu cho nên càng ngày càng không tránh khỏi việc bị người đời khinh miệt.

Không riêng ǵ các nhà sư, ngay cả tầng lớp thượng lưu như  công khanh hay quan lại được quyền lên điện, đa số đều thích vơ nghệ. Cho dầu đánh trăm trận thắng cả trăm, chẳng thấy ai khen ngợi họ là dũng cảm. Bởi v́ lúc nhờ thời may vận tốt mà phá được giặc th́ ai cũng được coi là can đảm anh hùng. Mất hết đao kiếm, bắn cạn cả tên, chiến đấu đến phút cuối mà chẳng chịu hàng địch[133], b́nh thản chấp nhận cái chết xong rồi, lần đầu tiên mới được vinh danh. Đó là định mệnh của họ. C̣n sống th́ chưa được kể là con người vơ dơng. Lư do trên hết là vơ nghệ giống như hành vi của cầm thú, đưa ta rời xa khỏi đạo làm người. Nếu không phải là kẻ sinh ra nhằm nhà vũ sĩ th́ đừng có ham thích vơ nghệ làm ǵ vô ích.

 

Đoạn 81 : Chữ viết và tranh vẽ trên b́nh phong, cửa kéo [134]

Những tấm b́nh phong hay cửa kéo phết giấy bồi mà lại trang trí chữ viết theo thư pháp hay tranh vẽ với nét bút vụng về, tự thể không đến nổi xấu xí. Chúng chỉ làm người ta nghĩ rằng chủ nhân ngôi nhà là người thiếu óc thẩm mỹ. Nói chung, đồ đạc trong nhà có thể làm lộ rơ cho ta biết cái yếu kém không ngờ của chủ nhân. Dù vậy ta không chủ trương rằng họ bắt buộc phải có những món đồ quí giá sang trọng. Ta chỉ đặt vấn đề đối với những trường hợp như với lư do giữ cho chúng khỏi bị suy suyển, người ta đem trưng bày những đồ đạc hạ cấp không chấp nhận được, hoặc trang trí thừa thải vô dụng v́ muốn làm ra vẻ có của hiếm, hay tập trung vào những sở thích hiếu kỳ phiền toái. Cứ theo cung cách xưa, đồ đạc không trưng bày quá lố, không tốn tiền nhiều nhưng phẩm chất tốt là lối trang trí đáng được đánh giá cao hơn cả.

 

Đoạn 82 :B́a sách bằng vải mỏng.

Nghe có người bảo « Dùng vải mỏng[135] làm b́a, sách dễ bị hỏng », Tonna[136] mới trả lời : « Sau khi lớp lụa là bọc sách bị sờn và sổ ra ở hai đầu trên và dưới cũng như khi vỏ ốc trên trục cẩn xa cừ của các quyển sách cuốn đă bong đi, nh́n quyển sách mới thấy cái thi vị của nó ». Ư kiến của ông thật đáng khâm phục.    

Ngoài ra, khi nói về những tác phẩm do nhiều cuốn tập hợp lại thành một bộ, nếu h́nh thức các cuốn không đồng loạt, thường làm bực mắt. Thế nhưng, pháp chủ Kôyuu[137] nhận xét: « Thu thập mọi vật cho nó được hoàn toàn đồng bộ là việc làm của kẻ tầm thường. Cái không đồng bộ mới hay ! ». Ta cũng nể lời nói của ông thay ! 

Có người[138] nhắc rằng : « Ở đời mọi sự như thế cả. Những ǵ ngăn nắp, hoàn toàn, đều không tốt. Ngược lại, cái ǵ không trọn vẹn, để dở dang, mới đáng thích v́ làm cho ta yên tâm[139]. Trong cung cấm cũng vậy, lúc nào cũng chừa một chỗ không được phép hoàn thành ». Thật vậy, cứ nh́n ví dụ những nội điển, ngoại điển[140] mà hiền nhân đời xưa trứ tác, chỉ toàn[141] các loại thiếu chương, thiếu đoạn.  

 

Đoạn 83 : Ngài Tả Đại Thần xuất gia Chikurin.in.

Ngài Tả Đại Thần xuất gia Chikurin.in[142] có thể được thăng đến chức Thái Chính Đại Thần[143] một cách êm xuôi trót lọt nhưng lại bảo : « Đạt được địa vị đó khó khăn ǵ đâu, chuyện ấy nếu xảy ra (cho ta) cũng không đáng lấy làm lạ. Nhưng thôi, ta ngừng ở chức Tả Đại Thần và xin về vườn vậy ! ». Sau đó ngài bỏ đi tu mất.

Ngài Tả Đại Thần Tôin[144] hết sức khâm phục điều đó, không đeo đuổi việc được cất nhắc lên chức Thái Chính Đại Thần nữa.

(Kinh Dịch có chữ) Kháng Long Hữu Hối[145] cho thấy trăng tṛn rồi khuyết, sự vật cực thịnh sẽ suy vi[146]. Khi đạt đến tuyệt đỉnh rồi sẽ tiến dần tới chỗ tiêu diệt[147]. Đó là đạo lư của muôn vật.

 

Đoạn 84: Ngài Pháp Hiển Tam Tạng qua Thiên Trúc.

Có giai thoại kể rằng khi cao tăng Pháp Hiển Tam Tạng[148] qua bên Thiên Trúc, thấy cái quạt làm ở chốn cố hương th́ đâm ra buồn[149], lúc đau ốm, lại muốn nếm đồ ăn Trung Quốc[150]. Nghe thế, có người bảo : « Đă là nhân vật có tầm cỡ như vậy, sao khi ra nước ngoài lại để thiên hạ thấy chỗ quá yếu đuối của ḿnh nhỉ ? ». Ngược lại, pháp chủ Kôyuu[151] cho rằng : « Ôi chao, ngài Pháp Hiển Tam Tạng thực đáng yêu, đầy t́nh người ! ». Tuy lời của pháp chủ không đứng trên lập trường của người đi tu nhưng hết sức thâm thúy, làm cho ta cảm động.

 

Đoạn 85 : Ḷng không ngay thật.

Ḷng dạ con người đâu thẳng băng cho nên ở đời không phải chỉ toàn chuyện thực và không có chuyện giả. Ngược lại, cũng đừng v́ thế mà kết luận là chẳng có ai chính trực. Cho dù bản thân ḿnh không ngay thật, ḿnh cũng thèm có được cái ngay thật của những người hiền[152]. Thói đời là như vậy.

Tuy nhiên kẻ cực kỳ ngu ngốc th́ khi bất chợt bắt gặp một người hiền, lại đâm ra ghét bỏ, mở miệng nói xấu ngay : « Cái ngữ đó không chịu nhận chút lợi nhỏ, chắc hẳn chờ đợi món lợi lớn hơn. Y màu mè giả dối bề ngoài để nhắm tiếng tốt thôi ! ». Chẳng qua hành vi của người hiền đức ấy không giống với bụng dạ của anh chàng nên hắn mới có thái độ chê bai. V́ lư do đó, ta mới hiểu là người này lúc sinh ra đă vô cùng ngu độn, không bao giờ hướng thượng nỗi[153]. Ngay có muốn màu mè giả dối, bề ngoài tỏ ra không cầu lợi lộc, anh ta cũng không biết cách thực hiện. Dù chỉ là nhất thời, anh không thể nào bắt chước nổi hiền nhân.

Nếu có ai bảo là ḿnh đang bắt chước người điên rồi chạy rông trên đường phố kinh đô th́ anh ta đúng là người điên không chữa nỗi[154]. Bảo bắt chước kẻ hung ác[155] rồi giết người th́ chính là kẻ ác không sai. Nhưng muốn làm ngựa hay như ngựa Kư[156], tất là đồng loại của ngựa Kư, lấy vua Thuấn làm mẫu mực sẽ trở thành kẻ trị dân giỏi như vua Thuấn. Lúc đó th́ mang tiếng là kẻ giả dối (bắt chước) nhưng khi bắt chước người hiền, chính họ đă là kẻ hiền rồi.  

 

Đoạn 86 : Quan tham nghị Koretsugu.

Ngài Koretsugu[157], chức Gon-Chuu Daingon,  quan tham nghị bậc trung, rất có tài văn chương. Chuyên tâm tu hành, đọc kinh từ hồi chưa xuất gia. Sau ở cùng một chùa (Miidera) và theo học chánh tăng En.i Sôjô[158] là vị sư trụ tŕ chùa ấy, người có danh hiệu Tera Hôshi[159]. Trong niên hiệu Bunpô (khoảng 1319), khi ngôi chùa Miidera bị hỏa tai thiêu rụi, ngài mới thưa với chánh tăng En.i : « Tôi thường gọi ngài là Tera Hôshi (sư nhà chùa) nhưng bây giờ chùa đă cháy mất rồi, tôi chỉ phải gọi ngài là Hôshi (sư) (không khống) mà thôi. Thật là một câu nói khôi hài ư nhị[160].

 

Đoạn 87 : Cho phép người làm uống rượu.

Khi cho phép người ăn kẻ ở uống rượu, thường phải hết sức lưu ư.

Có một người kia sống ở vùng Uji[161]. Thường ngày vẫn đi lại thân thiết với người anh em cột chèo tên gọi Gugakubô, một vị sư tại gia nổi tiếng phong cách thanh nhă, có nhà ở kinh đô. Một hôm khi ông ta sai người mă phu đem ngựa đi đón Gugakubô xuống chơi th́ Gugakubô mới bảo anh kia : « Đường khá xa đấy. Trước khi khởi hành, chú dắt ngựa ơi, uống ít chén rượu cái đă ! ». Thế rồi cho bày rượu ra, người mă phu tiếp nhận chén mời liền tù t́ và nốc ừng ực. Anh ta đeo gươm lớn bên hông, ra dáng oai phong lẫm liệt. Ông Gugakubô  cho đi tháp tùng và nghĩ thầm người này trông cậy được. Đến quăng Kohata[162] th́ có bọn các nhà sư ở các chùa Nara[163] kéo tăng binh đi qua, gặp nhau ở giữa đường. Anh chàng mă phu mới hướng về đám người đó mà nói : « Trong chốn núi non, trời lại về chiều rồi, chúng bay đi đâu mà khả nghi quá! Đứng lại không nào ? » Nói xong chực tuốt gươm ra làm bọn tăng binh cũng hè nhau tuốt gươm, lắp tên vào cung chuẩn bị đối phó. Lúc đó ông Gugakubô mới chắp tay vái : « Cái chú em này say rồi nên không c̣n lư trí. Xin rộng ḷng tha thứ ! » Cả bọn bèn cười ồ rồi bỏ đi.

Lúc đó, anh kia mới quay lại ông Gugakubô, tức tối bảo: « Nhà thầy vừa làm một chuyện thật đáng tiếc. Tôi có say sưa ǵ đâu ! Đang lúc sắp sửa được cho chúng biết oai danh th́ v́ thầy, tôi tốn công đă tuốt gươm ra ». Rồi lia gươm chém bất kể về phía Gugakubô làm ông té lọt cả xuống ngựa. Anh ta lại hét to : « Có cướp núi !» làm cho dân làng vùng Kohata tụ họp đông đảo kéo đến. Lúc đó lại rao lên : « Cướp núi chính là ta đây ! », rồi xông vào giữa đám đông vừa múa gươm loạn xạ. Dân làng mới hùa nhau túm vào đánh anh ta bị thương, quật ngă và trói gô lại. Con ngựa bê bết máu người cưỡi nhắm con đường lớn vào thành phố Uji (quen đường cũ) đâm đầu chạy về hướng nhà chủ. Ông chủ kinh hăi đốc suất bọn người làm trong nhà chạy đi t́m th́ mới khám phá ra ông Gugakubô đang nằm dài rên rĩ tức tưỡi giữa cánh đồng cây mọc toàn cây sơn chi[164]. Họ vác ông ta về nhà. Tuy Gakugabô bảo toàn được tính mệnh nhưng cũng bị nhiều vết thương trên lưng và từ đó ông mang thân tàn tật[165].   

 

Đoạn 88 : Một người kia nói về nét bút của Ono no Tôfuu.

Có người giữ được tập thơ Wakan Rôei-shuu[166] do chính (nhà thư pháp) Ono no Tôfuu[167] chép ra. Nghe tin đó, một người khác mới bảo : « Những điều ǵ ông nói về quyển sách của ông, không phải không đáng tin. Thế nhưng, việc Ono no Tôfuu chép lại một quyển sách do ngài Shijô Dainagon soạn ra, nếu tính theo niên đại th́ rất ư phi lư . Tôi xin nêu lên thắc mắc về điểm này! ». Lúc đó người kia mới đáp : « Bởi v́ có chuyện lạ như thế nên quyển sách này mới được coi là quí báu chớ ! » rồi chăm bẳm cất giấu kỹ lưỡng.

 

Đoạn 89 : Con quái thú Nekomata trong núi sâu.

Khi nghe có người bảo : « Trong núi sâu có giống thú tên gọi Nekomata[168]. H́nh như người ta cũng bị nó ăn thịt. » th́ có kẻ khác phụ họa : « Đâu cần vào núi. Chung quanh đây cũng có. Mèo sống lâu năm th́ biến thành Nekomata, xơi cả người ta! ». Ở gần chùa Gyôganji, nhà sư pháp danh Ani.amidabutsu[169], lao khổ tu luyện thơ renga[170], khi nghe người ta kể chuyện này, tự thấy ḿnh sống đơn độc nên thường lo lắng để ư. Lúc đó, ông hay đi dự các hội thơ renga đến khuya mới về ngang qua vùng một ḿnh. Một hôm, đến bên bờ sông Kogawa, ông có cảm tưởng như thấy tiếng chân con quái thú Nekomata mà người ta hay đồn đại đang tiến lại bên, rồi nó bay đu lên người và quặp vào cổ định ăn thịt ông.  

Mất hết thần hồn, hai chân ông không c̣n đứng vững, muốn thoát thân cũng không biết làm sao. Ông ngă lăn xuống sông, miệng la oai oải : « Cứu tôi với. Nekomata ! Nekomata tấn công tôi ! ». Từ các nhà chung quanh, thiên hạ ào ào thắp đuốc chạy tới gần. Họ nh́n lại hóa ra là cái ông sư quen mặt bên láng giềng. Họ hỏi : « Thầy gặp chuyện ǵ thế ? » rồi vực ông từ dưới sông lên. Mới thấy ông đang ôm cứng trong tay mấy món phần thưởng kiếm được ở hội renga và các thứ linh tinh khác như quạt, tráp con, tất cả đều đẫm nước. Ông trông chẳng khác nào người được cải tử hồi sinh. Cứ h́nh dáng như thế, ông lết về đến nhà.

Thực ra chỉ là con chó ông nuôi giữa lúc đêm hôm thấy chủ về phóng lên mừng đó thôi[171].  

 

Đoạn 90 : Người giúp việc cho quan Dainagon Hôin.

Cậu bé Otozuru-maru, người giúp việc cho quan Dainagon Hôin[172], có quen biết với một nhân vật tên là ngài Yasura và thường xuyên đến thăm viếng ông ta. Một hôm cậu ta vừa đi về, quan mới hỏi : « Ngươi vừa đi đâu về đấy ? ». Cậu bèn trả lời : « Thưa con đến thăm ngài Yasura ». Quan mới hỏi tiếp : « Chứ ông Yasura ấy là tăng hay tục ? ». Cậu ḿnh bèn chắp hai tay lại cung kính trả lời : « Thưa con không biết. V́ con chưa bao giờ nh́n được cái đầu ông ta».

Ta không hiểu tại sao chỉ có cái đầu của ông kia là cậu ta không thấy ?[173]

 

Đoạn 91 : Chuyện xảy ra vào Ngày Lưỡi Đỏ.

Đạo âm dương[174] không đề cập ǵ đặc biệt đến Ngày Lưỡi Đỏ[175]. Người xưa cũng không kiêng kỵ chi cái ngày này. Mới gần đây thôi, có kẻ tung tin ấy là một ngày cần phải kiêng, trong ngày này có những chuyện không thể hoàn tất một cách êm xuôi, có những việc làm hay lời nói không trót lọt, vật nhận được lại mất, việc chủ trương không xong. Thật là chuyện ngu si. Đă có bao nhiêu kế hoạch không thành dù đă chọn ngày lành tháng tốt để khởi công và con số những trường hợp thất bại đó cũng chỉ ngang ngang với những cái thất bại xảy ra trong các Ngày Lưỡi Đỏ mà thôi.

Lư do là trong cuộc đời vô thường biến dịch[176] này, những ǵ in vào mắt ta chỉ là những cái không hề tồn tại, chúng không hề khởi đầu mà cũng chẳng cáo chung. Không có ước nguyện nào thành hiện thực mà cũng chẳng có dục vọng nào được thỏa măn. Ḷng người là cái không đáng đem ra thảo luận.Vạn vật chẳng khác ǵ tấn tuồng ảo hóa. Chúng không thể nào tiếp tục giữ nguyên h́nh thái cho dù chỉ trong phút giây. Kẻ kiêng cử cái Ngày Lưỡi Đỏ là kẻ không hiểu đạo lư. « Nếu làm việc ác trong ngày tốt th́ chỉ đưa đến chuyện gỡ thôi . C̣n làm điều thiện trong ngày xúi quẫy, thường vẫn tạo được cơ duyên tốt đẹp». Kết quả hung kiết hay không là do hành vi thiện ác quyết định, không có ngày nào quyết định cho nó.

 

Đoạn 92 : Người tập bắn cung.

Có người kia học bắn cung, mới cầm lấy hai mũi tên và ngắm đích. Khi vừa làm như thế th́ thầy anh ta mới dạy : « Kẻ mới tập bắn, không cần đến hai mũi tên. Nếu ỷ y có mũi thứ hai th́ khi bắn mũi thứ nhất sẽ sinh ra lơ đễnh. Mỗi lần bắn, phải nghĩ rằng ḿnh không có quyền thất bại, làm sao để mũi tên độc nhất trúng đích cho bằng được ».

Chỉ cầm mỗi hai mũi tên, lại đứng trước mặt thầy nữa, anh không có ư định phí phạm một mũi nào cả. Thế nhưng dù chính anh không ư thức, ông thầy đă nh́n thấy cả việc anh có yên tâm hơn khi h́nh ảnh của hai mũi tên hiện ra trong trí. Lời dạy bảo này của ông thày có thể áp dụng cho mọi t́nh huống.

Người học Phật cũng thế. Mới chiều hôm nay đă nghĩ đến sáng hôm sau, giữa ban mai đă nghĩ về buổi chiều và trông đợi rằng đến lúc đó ḿnh sẽ tập trung tinh thần trở lại và tu tập đàng hoàng. Người như vậy th́ có thể nào ư thức rằng cái lơ đễnh chỉ nháy mắt đă đủ lọt vào nằm trong ḷng ḿnh hay không ? Cho nên một khi vừa quyết tâm làm một việc ǵ th́ phải chuyển qua hành động ngay, được như thế là điều tuyệt vời.

 

Đoạn 93 : Người đi bán ḅ.

Có kẻ kể rằng : Giả dụ một người đem ḅ đi bán. Người mua bảo : « Ngày mai tôi sẽ đem tiền mua ḅ đến để đổi lấy ḅ ! ». Thế nhưng tối hôm đó, con ḅ lăn ra chết. Trong trường hợp này, người mua được lợi và người bán bị thiệt.

Khi nghe chuyện đó, kẻ đứng bên cạnh lư sự: « Rơ ràng người chủ ḅ có thiệt tḥi đấy nhưng một đằng, ông ta được mối lợi khác. Lư do là người và ḅ đều giống nhau ở một điểm : cả hai không biết hễ là có sinh mạng th́ phải kề cận cái chết. Ở đây, không ngờ ḅ chết và cũng không ngờ chủ ḅ lại sống sót. Sự sống dù một ngày (của chủ ḅ) đáng giá hơn đống vàng. Giá trị của con ḅ c̣n nhẹ hơn chiếc lông ngỗng[177]. Người (chủ ḅ ư thức được bài học đó như) thu được đống vàng mà chỉ mất một xu teng th́ thiệt tḥi ở chỗ nào ? ». Nói đến đây, mọi người bèn cười nhạo : « Cứ theo lối lư sự của nhà anh th́ phải mất con ḅ mới hiểu được giá trị của cuộc sống à ! ».

Người hồi năy lại lên tiếng : «Điều tôi muốn nói là con người nếu ghét sự chết th́ phải biết coi trọng mạng sống. Mỗi ngày phải thực sự cảm thấy niềm vui được sống ở đời. Kẻ ngu ngốc quên mất niềm vui ấy, hoài công đi t́m những thú vui khác. Quên mất ḿnh đă có cái quí báu nhất, chính là mạng sống, lại tham lam chạy theo những mối lợi mới nhưng thử hỏi biết đến bao giờ anh ta mới thỏa măn. Khi đang sống anh ta không biết hưởng cuộc sống, thế nhưng khi đối diện với cái chết, lại sợ nó. Có ǵ mâu thuẫn hơn không ? Con người không biết hưởng cuộc sống bởi v́ không biết sợ cái chết. Không, không phải họ không sợ cái chết đâu !Đúng ra, họ quên mất cái chết ở sát bên ḿnh. Nếu có một ai bảo rằng tâm trí ḿnh đă vượt lên khỏi h́nh tướng của sự sống chết th́ anh là người đă mở được cánh cửa để vào cơi giác ngộ vậy ».

Nghe thế, mọi người lại cười ồ lên nhạo anh ta nhiều hơn nữa[178].   

 

Đoạn 94 : Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai lên sảnh đường.

Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai [179] đang trên đường tới sảnh đường, viên vũ sĩ cấm vệ (tức đội hộ vệ thái thượng hoàng) có nhiệm vụ mang chiếu chỉ, khi đến gặp ngài lại xuống ngựa (để chào). Sau đó quan Tướng Quốc mới tâu lên : « Viên vũ sĩ họ Mỗ trong đội cấm vệ là kẻ trong người có mang chiếu chỉ mà lại xuống ngựa. Không thông hiểu nghi thức như thế, làm sao hắn ta có thể phục vụ lệnh bề trên được ».Nghe chuyện, thái thượng hoàng bèn băi chức viên Mỗ[180].

Trong trường hợp này, sứ giả phải ngồi trên ngựa mà nâng chiếu chỉ lên cho người kia xem. Xuống ngựa là vi phạm lễ tiết.

 

Đoạn 95 : Thắt nút giây nắp hộp.

Khi hỏi một người rành rẽ về nghi thức :« Muốn cột giây chung quanh nắp hộp[181] phải bắt đầu từ phía mặt hay phía trái ? » th́ được trả lời : « Có thuyết cho rằng phải bắt đầu từ « trục » (phía tả), có thuyết cho rằng phải bắt đầu từ « b́a ngoài » (phía hữu) cho nên muốn cột từ phía nào trở đi cũng không sao. Đối với những cái hộp đựng thư từ, người ta thường cột từ tay mặt qua. C̣n đối với những cái hộp đựng đồ vặt vănh th́ hay thấy người ta cột từ tay trái tới».[182]

 

Đoạn 96 : Giống cỏ tên gọi là Menamomi.

Có giống cỏ tên gọi Menamomi.[183] Người ta bảo khi bị rắn hổ mang cắn , lấy cỏ đó ṿ nát mà đắp lên sẽ lành ngay. Nếu biết cách nhận ra được thứ cỏ này trước th́ tốt quá[184].

 

Đoạn 97 : Vật sống bám theo.

Lúc nào cũng có một vật nào đó sống bám theo một vật khác, làm tiêu hao và nguy hại cho vật đó. Chúng nhiều không kể xiết : chấy rận trên thân người, chuột trong nhà, giặc trong nước. Đối với những kẻ tiểu nhân, đó là của cải, đối với người quân tử, đó là điều nhân nghĩa[185], đối với nhà tu, đó là đạo pháp[186].

 

Đoạn 98 : Những lời dạy bậc cao hiền để lại.

Ta có dịp đọc quyển sách nhan đề Ichigon Hôdan[187] th́ phải, thấy ghi chép lời của các bậc thánh hiền đáng kính c̣n để lại cho đời.Trong đó có những điều ta xin phép biểu lộ sự đồng t́nh và thuật ra đây :

1)       Chuyện c̣n đang lưỡng lự giữa làm hay để đó không làm th́, nói gọn lại là chớ nên làm[188].

2)       Kẻ lo tụng niệm để văng sinh cực lạc không nên sở hữu vật ǵ dù là một cái thạp đựng cám muối dưa. Từ việc trữ kinh sách cho đến cất tượng Phật để thờ, thảy thảy đều vô ích[189].

3)       Kẻ xa lánh trần tục nếu giữ được tấm ḷng thảnh thơi dù không có một vật dụng nào là kẻ có lối sống cao cả nhất[190].

4)       Kẻ tu lâu năm phải sống như người mới đi tu, kẻ trí phải sống như kẻ ngu, kẻ giàu có phải sống như kẻ nghèo khó, người có tài năng phải sống như kẻ bất tài.

5)       Mong muốn theo được con đường của Phật th́ không có ǵ khác hơn là coi việc làm sao cho thân ḿnh được nhàn hạ, không để chuyện thế gian bận tâm, như là cứu cánh duy nhất.

Sách đó c̣n viết nhiều chuyện khác nhưng ta không nhớ ra.  

 

Đoạn 99 : Quan Tướng Quốc Horikawa.

Quan Tướng Quốc Horikawa[191] không những là người đẹp trai mà c̣n có cuộc sống sung túc, hay xa hoa phí phạm. Ngài đặt con ḿnh là Mototoshi vào chức Tổng Chỉ Huy Lục Lượng Cảnh Bị và H́nh Pháp nhưng trên thực tế (chỉ là danh hiệu), bao nhiêu công việc liên quan đến an ninh ngài quyết đoán hộ ông ta cả. Có một hôm, ngài nhận thấy cái tủ đồ sộ (đựng công văn) [192] dùng trong nha quá xấu xí nên bảo con trai hạ lệnh đóng cái mới đẹp hơn. Tuy nhiên, bọn nha lại, vốn hiểu rơ về nghi thức và truyền thống, mới thưa rằng : « Chiếc tủ lớn này có tự đời thuở nào rồi. Không ai rơ nguồn gốc nhưng ít nhất nó cũng lâu đến mấy trăm năm. Đă là đồ vật ở chốn cửa công, truyền từ đời nọ đến đời kia, nếu càng xưa lại càng quí. Không nên thay đổi chúng một cách dễ dàng như vậy ». Nhờ đó, lệnh nói trên mới bị băi bỏ[193].  

 

Đoạn 100 : Quan Tướng Quốc Koga.

Quan Tướng Quốc Koga[194] ngồi xơi nước trong một gian pḥng trên điện Seiryô[195]. Lúc người thị nữ thuộc ty tạp dịch trong điện[196] dâng nước cho ngài trong một cái chén bằng sành, ngài bèn phán : « Đem cho ta gáo gỗ [197]! » và ngài uống nước bằng cái gáo.

 

Đoạn 101 : Người chuẩn bị lễ nhậm chức cho đại thần.

Có người (bậc công khanh) chuyên lo chuẩn bị nghi thức nhậm chức cho các đại thần, không nhận lấy sắc phong từ tay của viên quan thuộc trung thư tỉnh[198] mà lại bước lên điện Shishin[199], (nơi hành lễ). Đây là một lỗi lầm lớn nhưng v́ ông ta không thể quay xuống để tiếp nhận sắc phong được nữa nên hết sức khổ tâm. Lúc đó, chức quan lục phẩm thuộc phủ tướng quốc tên là Yasutsuna[200] mới nhờ một nữ quan trùm áo choàng kazuki[201] lên và đem sắc phong ngầm trao cho ông ta. Đây thật là một cách xử trí khéo léo[202].

 

Đoạn 102 : Ngài Mitsutada, chức In no Dainagon đă xuất gia.

Hồi ngài Mitsutada, chức In no Dainagon[203], c̣n giữ trọng trách cử hành lễ Tsuina[204] để trừ tà, có lần đến xin Hữu Đại Thần Tôin [205] chỉ thị về nghi thức điều hành cuộc lễ. Ngài Tôin dạy : « Ông hăy hỏi thăm Matagorô [206]. Theo ta, không có ai rành rẽ về việc công hơn chú ấy ! ». 

Người tên gọi Matagorô là một bác cận vệ già, thành thạo mọi công vụ. Có lúc ngài Konoe[207] đến dự một cuộc lễ lại quên mất tấm nệm trải xuống để qú gối, (c̣n đang lúng túng) mà đă gọi chức Geki[208] tới. Nhân v́ đôi khi già Matagorô hay châm đuốc ở ngoài vườn nên thoáng nghe được việc đó, mới thưa thầm: « Thay v́ gọi chức Geki tới, sao ngài không cho đem tấm nệm để qú gối tới trước đă ? ».

 

Đoạn 103 : Ở điện Daikakuji.

Ở điện Daikakuji[209], những người hầu hạ thân cận bên cạnh thái thượng hoàng xuất gia hay đặt ra những câu đố rồi t́m lời giải đáp với nhau. Nhân lúc có viên ngự y tên Tadamori[210] đến chầu, chức tham nghị cấp cao kiêm chức thị tùng thái thượng hoàng là ông Kin.akira[211] mới đưa ra câu đố của ḿnh : « Cái ǵ tên gọi Tadamori mà không phải là sản phẩm của nước ta ? ». Có người giải đáp : « Cái b́nh kiểu Tàu » (Karaheiji)[212]. Trong lúc cử tọa cười ầm lên, Tadamori nổi giận bỏ ra ngoài.

 

Đoạn 104: Ngôi nhà trọ hoang vu.

Có ngôi nhà bỏ hoang vu, không ai lui tới[213]. Một người đàn bà chẳng c̣n nơi nương tựa, và v́ một lư do ǵ đặc biệt phải xa lánh cặp mắt người đời, đang náu ḿnh nơi ấy. Lại có người đàn ông định đi thăm nàng, mới đợi lúc một tối trăng liềm, lén lút t́m đến.Khi nghe tiếng chó sủa râm ran, người thị nữ bước ra cất tiếng hỏi : « Vị nào ở đâu đến vậy ? » nhưng (có lẽ người ấy muốn dấu tên nên cô ta) cứ thế thông báo cho nàng rồi đưa vào. Sau khi nh́n không khí tịch mịch trong nhà, ḷng chàng đau đớn v́ không hiểu nàng đă sống những ngày qua như thế nào. Đứng chờ bên hàng hiên cũ nát một hồi lâu, chàng nghe một giọng nói trầm tĩnh nhưng trẻ trung bảo ḿnh : « Xin vào bên trong này cho ! » nên mới hé tấm liếp cửa (v́ ít đón tiếp ai) đóng mở hơi khó khăn mà bước vào[214].

 

Có người đàn ông muốn đến thăm một người đàn bà đang sống một ḿnh (Đoạn 104).

Nh́n vào bên trong th́ căn nhà không đến nỗi điêu tàn lắm. Lại c̣n có vẽ vô cùng thanh nhă. Tuy chỉ có ánh đèn chập chờn soi sâu trong góc pḥng nhưng cũng thấy cách bày biện thật đẹp mắt. Một làn hương, không phải là loại hương mới được đốt lên vội vàng[215], làm cho gian nhà như ngập tràn kỷ niệm. Người đàn bà bảo : « Đóng cửa khóa nẽo hộ ! Biết đâu trời mưa đấy ! Đẩy xe của khách vào trú dưới cổng nghe ! Nhớ dọn chỗ cho những người tùy tùng nghỉ tối nay nữa!» [216] và tiếng người thị nữ th́ thào : « Tối ngay coi bộ chúng ḿnh yên tâm ngủ ngon giấc được rồi đấy nhé ! »[217]. Tuy tiếng nói nhẹ nhàng nhưng v́ gian nhà quá nhỏ bé cho nên cũng đủ lọt vào tai chàng[218].

Thế rồi, hai người âu yếm kể lễ cho nhau t́nh cảnh của họ những lúc gần đây, và tuy trời hăy c̣n tối, tiếng gà đầu tiên đă cất lên. Trong lúc hai bên giăi bày hết cả tấm ḷng với nhau về quá khứ, bàn bạc những chuyện tương lai th́ gà đă gáy rộ lên một lần nữa, như nhắc với họ là đêm đă tàn rồi[219]. Tuy vậy cảnh vật chung quanh hăy c̣n tờ mờ và v́ không ǵ cấp thiết để phải rời nhau nên họ ráng nán thêm chút nữa. Chẳng bao lâu, vài tia ánh sáng trắng đă len vào khe cửa và đă đến lúc người đàn ông phải hứa rằng chàng không sẽ bao giờ quên tấm t́nh yêu với nàng[220], rồi ra đi. Qua màu xanh mướt mắt của những ngọn cây trong vườn lúc đó trải rộng bầu trời tháng tư với cảnh sắc một buổi b́nh minh.

Mỗi khi nghĩ đến cái đẹp và niềm vui chàng t́m được qua kỷ niệm của buổi mai hôm ấy, người đàn ông kia, mỗi khi rong xe đi ngang con đường trước nhà nàng, đều nh́n dơi cho đến khi bóng cây quế [221]đánh dấu ngôi nhà mất hút. Bây giờ chàng hăy c̣n nh́n theo như vậy[222].

 

Đoạn 105:  Tuyết tàn c̣n đọng bên tường bắc.

Ở phía bắc, khuất dưới bóng ngôi nhà, tuyết tàn[223] hăy c̣n đọng, đông cứng. Trên mấy cái càng của chiếc xe ḅ[224] dựng ở đấy, sương khuya đọng lấp lánh v́ phản chiếu ánh sáng trong vắt của vầng trăng tàn về sáng cũng vương chút âm khí lạnh lẽo. Trước khung cảnh như thế, trên hành lang của gian pḥng thờ Phật vắng lặng, có một người đàn ông nghi biểu khác vời đang cùng với một người đàn bà ngồi trên ngạch cửa nói chuyện với nhau. Không biết họ nói những ǵ nhưng câu chuyện tưởng chừng không biết bao giờ mới dứt.

Đầu tóc dung mạo cả hai xem ra đều thật trang nhă[225]. Thoảng đâu đây một mùi hương thơm không tả nổi nương theo luồng gió tỏa ra nên càng thêm quyến rũ[226]. Những ǵ họ nói nghe chỉ câu dược câu mất nhưng dễ thương, lôi cuốn làm sao khiến ḿnh cũng đâm ra muốn biết họ đang nói những ǵ[227].

 

Đoạn 106: Truyện cao tăng Shôkuu núi Kôya.

Đó là câu chuyện hôm ngài Shôkuu[228], cao tăng trên núi Kôya[229], có việc lên kinh đô. Trên con đường núi hẹp, t́nh cờ ngài chạm phải một người đàn bà cũng cưỡi ngựa như ḿnh. Không biết người dắt ngựa cho bà ta điều khiển vụng về thế nào mà làm con ngựa nhà sư rơi lọt hố.

Nhà sư vốn là người mau nổi nóng, mới lên tiếng trách móc : «Cái bà này sao hỗn thế. Nên biết nhà Phật có tứ bộ chúng tức bốn bậc đệ tử !Ưu bà di (nữ) phải ở dưới ưu bà tắc (nam) , ưu bà tắc ở dưới t́ khưu ni (nữ), c̣n t́ khưu ni phải ở dưới t́ khưu (nam) kia mà. Bà chỉ là hạng ưu bà di thấp kém lại dám đá t́ khưu lọt hố như thế là đă làm chuyện cực ác trước giờ chưa có đấy nghe ! ».

Người đàn ông dắt ngựa cho bà ta lúc đó mói bảo : « Ông thầy này nói ǵ lạ hoắc. Nghe chẳng hiểu đâu vào đâu !». Ngài Shôkuu càng thêm hùng hổ, hung hăng : «Nói ǵ hở chú kia ? Người ǵ mà chưa đi tu bao giờ, một chữ bẻ đôi cũng không biết [230]! ». Nói xong, ngài mới thấy ḿnh lỡ lời ăn nói vô lối, hốt hoảng rẽ ngựa ra hướng khác, phóng như chạy trốn.  

Nếu có ai hiểu được nghĩa lư của câu nói sẽ thấy những lời trách mắng của ngài thật đáng nễ [231].

 

Đoạn 107:  Trả lời câu hỏi của đàn bà.

Khi được các bà dọ hỏi điều ǵ, thật ít thấy đấng nam nhi nào đủ thông minh để có thể trả lời một câu nghe được. Thời thái thượng hoàng Kameyama[232], bọn nữ quan tinh quái ma mănh mỗi lần thấy mấy ông quan trẻ vào chầu trong nội, hay hỏi những câu kiểu như: « Thế năm nay, ông đă nghe tiếng cuốc (đầu mùa) chưa nhỉ ? »[233] để xem tài đối đáp của các vị ấy đến đâu. Có ông quan Dainagon (tham nghị cấp cao) họ Mỗ nọ đă trả lời : « Bẩm thân phận thấp hèn như tôi th́ sao có thể nghe được ạ ! ». C̣n quan nội đại thần Horikawa th́ đáp : « H́nh như tôi đă có lần nghe ở Iwakura.[234] ». Các nữ quan b́nh luận với nhau : « Câu trả lời của ông này c̣n nghe được chứ kiểu xưng hô « thân phận thấp hèn » của ông kia thật khó lọt tai!».

Hầu như tất cả những người đàn ông đều được nuôi nấng dạy dỗ làm sao để tránh khỏi bị đàn bà chê cười. Có người kể rằng : « Ngài đại thần ở chùa Jôdo[235], nguyên giữ chức kanpaku (chuyên việc thưa bẩm với vua), lúc nhỏ đă được hoàng thái hậu Ankimon.in[236] dạy dỗ rèn cặp nên biết đối đáp lanh lợi ». Ngài tả đại thần Yamashina[237] th́ nói : «Khi bọn thị nữ hầu hạ có mặt là ḿnh đủ đă ngượng chín và bắt buộc phải giử ư ». Nếu cơi đời này không có mấy bà th́ cách đội mũ hay mặc quần áo (của đàn ông chúng ta) thế nào cũng xong thôi, chẳng cần phải tề chỉnh làm ǵ.   

Ta cứ ngỡ hạng đàn bà hiếp đáp đàn ông được như thế là thứ giỏi giang lắm, thật ra họ chỉ là những kẻ tính t́nh lươn lẹo, coi ḿnh bằng trời, đầy ḷng tham và không biết một chút lư lẽ. Họ chỉ để mặc cho ḷng mê lầm dẫn lối, ăn nói tuy có vẻ khéo léo tinh vi nhưng khốn thay, khi bị người ta đặt những câu hỏi tầm thường cũng không có lấy câu trả lời đáng lọt tai. Khi ta đang tưởng họ sẽ lễ phép ngồi im th́ thoắt cái họ đă mở miệng nói lung tung, ngay cả những ǵ chẳng ai hỏi tới. Cái khéo léo thêu dệt bề ngoài của họ tưởng chừng đánh lừa được trí thông minh của đàn ông nhưng họ quên rằng không có ǵ che dấu nổi sự thật. Đàn bà thật là giống không thực thà và chẳng biết nghĩ đến nơi đến chốn. Thật là khó chịu khi phải uốn lưng để ch́u theo ư các bà. Có bà nào xứng đáng được ta thần phục như thế không ? Cho dầu có một người đàn bà thông minh hiền đức xuất hiện trên đời th́ người đó cũng chỉ là kẻ khó gần gũi và thân mật được. Chỉ có anh đàn ông khi mê mệt đàn bà và đánh mất lư tính th́ mới thấy đàn bà là đáng yêu và thanh nhă[238].

 

Đoạn 108: Không ai biết nuối tiếc thời gian.

Không thấy ai tỏ ra nuối tiếc từng khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua[239]. Chẳng lẽ v́ mọi người đều đă ư thức điều đó, hoặc giả họ ngu ngốc đến nỗi không biết tiếc thời khắc. Nếu cần nhắn nhủ một lời cho những ai ngu si chểnh măng như thế, ta chỉ xin thưa rằng đúng là một đồng xu không có nghĩa lư ǵ nhưng khi tập hợp và chồng chất chúng lên nhau th́ anh nhà nghèo cũng trở thành giàu có. V́ vậy người đi buôn mới cắc củm từng đồng bạc một.

Sát na là một đơn vị thời gian quá nhỏ nhoi thế nhưng cứ để nó thi nhau kéo tới th́ cái giờ chết cũng chẳng mấy chốc đă đến bên lưng ta. Do đó, người tu tập theo c̣n đường của Đức Phật không có quyền tiếc nuối ngày tháng xa xôi tận đâu đâu mà phải biết quí trọng cái giây phút đang oan uổng trôi qua trước mắt. Ví dụ như có ai đó đến với ta và cho biết ngày mai ta sẽ tới số, thử hỏi hôm nay cho đến khi nắng tắt, ta sẽ mong đợi những ǵ và sẽ hành động như thế nào ?

Cái ngày chúng ta đang sống so với cái ngày ta hết số đó thực chất chẳng khác ǵ nhau. Hôm nào ta cũng ăn, cũng uống, cũng bài tiết, cũng ngủ nghỉ, cũng nói năng, cũng đi lại, nghĩa là ta mất nhiều th́ giờ để làm những việc chẳng đặng đừng. Thời giờ gọi là nhàn hạ không có là bao mà ta lại đem phung phí để làm những chuyện không đáng làm, nói những câu không đáng nói, nghĩ những điều không đáng nghĩ. Trọn ngày trọn tháng rồi trọn đời phí phạm thời gian như thế th́ hỏi thử c̣n có ǵ ngu ngốc hơn chăng ?

Tạ Linh Vận[240] là người từng có công đức hiệu đính bản dịch bộ kinh Pháp Hoa[241] nhưng v́ ḷng c̣n nhiều dục vọng [242] nên bị ngài Huệ Viễn[243] không cho dự phần vào nhóm Bạch Liên Xă[244]. Nhất định những ai không biết giá trị của thời gian đều đáng bị xem là người đă đánh mất đi ư nghĩa của cuộc sống, là người coi như chết rồi. Tiếc thời gian (sử dụng thời gian một cách tích cực), hỏi để làm ǵ ? Xin thưa, đó là để ḷng ḿnh không vướng bận điều lo nghĩ vớ vẫn, chung quanh ḿnh khỏi xảy ra chuyện thế sự lăng nhăng, khi muốn (tập trung tinh thần) thôi làm việc ác th́ dứt được liền việc ác, c̣n muốn làm điều thiện th́ làm được ngay điều thiện[245].

 

Đoạn 109: Người rành nghề leo cây.

Có người nổi tiếng là vua leo cây[246]. Ông ta thường làm công việc chỉ dẫn người khác leo lên những cây thật cao để chặt nhánh trên ngọn. Khi người leo đang ở đoạn tưởng chừng nguy hiểm, chẳng nghe ông ta nói ǵ. Đến khi anh ta tụt xuống đến chỗ cao cỡ ngang mái nhà, ông ấy mới bắt đầu lên tiếng : « Xuống cho khéo nhé. Đừng để ngă bị thương ! ». Ta bèn hỏi thăm : «Đă tụt xuống chỗ thấp như thế này th́ chỉ cần nhảy phóc một cái là chạm đất. V́ cớ ǵ lúc ấy ông lại khuyên anh ta phải thế này thế nọ ? ». Ông mới giải thích : «Vâng, quan trọng là ở điểm đó. Ở độ cao thấy hoa cả mắt, lúc ngỡ là cành có thể găy lúc nào không biết, người leo cây hết sức chú ư nên ḿnh không cần phải khuyên lơn ǵ cả. Người ta hay bị thương lúc xuống chỗ thấp và nghĩ là an toàn rồi ».

Ông giỏi nghề leo cây kia chỉ là kẻ địa vị thấp hèn nhưng lời nói sao chẳng khác điều các bậc thánh hiền dạy dỗ[247]. Đá cầu[248] nghe đâu cũng vậy. Người đá cầu khi đă tập trung tinh thần đá được quả cầu khỏi nơi khó khăn rồi th́ lại yên trí và đâm ra lơ đễnh, thế nào cũng để cầu rơi xuống đất. 

 

Đoạn 110: Người giỏi chơi cờ song lục [249].

Khi hỏi thăm một người nổi tiếng sành chơi cờ song lục (sugoroku) thế nào là bí quyết để đánh cho giỏi th́ ông ta giảng : « Đánh mà nghĩ rằng ḿnh đánh để thắng là không được. Phải đánh để đừng thua. Suy nghĩ đánh quân nào sẽ bị thua nhanh và tránh đi nước ấy. Cứ chọn cách đi quân nào làm ḿnh chậm thua thêm một ô mà đánh là tốt [250]».

Rơ ràng là người đạt đạo trong lănh vực này. Lời nói của ông c̣n có thể áp dụng cả vào việc tu thân, trị quốc nữa.

 


[1]         Ngôi chùa cổ nổi tiếng linh thiêng xây khoảng năm 798 (có thuyết khác là vào năm 805) ở Kyôto thờ Thập Nhị Diện Thiên Thủ Quan Âm. Được mọi giới từ quí tộc đến bần dân tôn sùng.

[2]         Thần chú để giải hạn trừ tai, nguồn gốc không rơ. Theo S.M., có thuyết của nhà dân tộc học Yanagita Kunio cho rằng nguyên nó là Kusohame糞喰め, một tiếng chữi tục. Tuy nhiên, nó tương tự với những câu chúc “God bless you” hay “A vos souhaits” ở Tây Phương cho ai đang hắt x́ hơi.

[3]         Kushami. Chữ này gần giống Kusame nên dễ gây liên tưởng cho bà ni sư vú già.

[4]         Để chỉ Enryakuji (Diên Lịch Tự), ngôi chùa chính trên ngọn Hieizan, núi thiêng của Phật giáo Nhật Bản. Nơi này dành để dạy dỗ, đào tạo con cái quí tộc. Chùa cấm đàn bà lai văng.

[5]         Mới đọc th́ thấy bà già ngớ ngẩn, làm chuyện buồn cười. Đọc kỹ mới thấm thía cái t́nh thương và sự tận tụy của một người nhũ mẫu dành cho cậu chủ trẻ, lẽ sống duy nhất của bà trong những ngày xế bóng, mà bà không c̣n được ở bên cạnh hầu hạ chăm nom (v́ chùa cấm các bà). Kenkô đă khéo miêu tả tâm sự đó qua câu chuyện giản dị, ngắn gọn (theo S.M.).Trong lịch sử Nhật Bản có nhiều bà nhũ mẫu tận tụy như thế, có khi quên cả con ruột. Nổi tiếng nhất là bà Fuku (Kasuga no Tsubone, 1579-1643) nhũ mẫu của Tướng Quân Tokugawa Iemitsu.

[6]         Mitsuchika no Kyô, cách đọc tôn xưng tên của đại thần Fujiwara no Mitsuchika (Đằng Nguyên, Quang Thân, 1176-1221), một công khanh gương mẫu, sủng thần của Thiên Hoàng Go Toba. Ông chịu trách nhiệm lănh đạo cuộc đảo chánh chống Mạc Phủ trung hưng vương thất năm Jôkyuu thứ 3 (1221) nên bị xử trảm dù trên thực tế ông đă thuyết phục thái thượng hoàng đừng mưu sự nhưng không được nghe theo (theo D.K.). Thọ 46 tuổi. Thái thượng hoàng th́ bị đi đày ra đảo Oki (ngoài khơi tỉnh Shimane ngày nay).

[7]         Có thuyết cho rằng nhân vật liên quan đến câu chuyện này là một người khác (Fujiwara no Naganobu) chứ không phải Mitsuchika.

[8]         Xem chú đoạn 22.

[9]         Ư nói Kaya no in (Cao Dương Viện) nơi thiên hoàng Go Toba (trị v́ 1183-1198) sau khi nhường ngôi, lui về để lo giật giây chính trị bên trong.

[10]        Có người, theo D.K. hiểu là “Ai mà ăn đồ ông ấy bỏ mứa!”.

[11]        Thái thượng hoàng Go-Toba có vẻ hiểu giá trị và kính trọng người bề tôi thân cận này. Ông Mitsuchika vượt khỏi nghi lễ thông thường nhưng có thể là, theo S.M., một người quá bận bịu công việc?

[12]        Tức sách “Mười nguyên nhân để được văng sinh” (Văng Sinh Thập Nhân), thánh điển phái Tịnh Độ, do tăng Yôgan (Vĩnh Quán, 1033-1111), tu ở Thiền Lâm Tự (chùa Zenrin) thuộc nội thành Kyôto, trứ tác. Giai thoại này cũng từng được thấy trong nhiều sách khác như Phát Tâm Tập, Bảo Vật Tập, Tư Tụ Bách Nhân Duyên Tập. Theo sách Văng Sinh Thập Nhân Tư Kư, người trong truyện là một nhà tu đạo đức tên Ryôe (Liễu Huệ), sống gần chùa Ninna (S.M.)

[13]        Nguyên văn: “Kim hữu hỏa cấp sự. Kư bức như đán mộ”.

[14]        Tức tăng Tâm Giới, tục danh Munechika (Tông Thân) con nuôi của tướng Taira no Munemori (B́nh, Tông Thịnh), không rơ năm sinh năm mất. Trước là quan trấn thủ vùng Awa trên đảo Shikoku. Sau khi họ Taira thua trận Yashima, ông bỏ mọi người lên núi Kôya tu, sau vân du khắp nơi.

[15]        Niên hiệu Ứng Trường đời Thiên Hoàng Hanazono. Lúc ấy Kenkô trên dưới ba mươi tuổi.

[16]        Có chuyện một người đàn bà hóa quỉ được thu thập lại trong một quyển truyện răn đời Phật giáo nhan đề “Bạn nhàn cư” Kankyo no Tomo (Nhàn Cư Hữu, 1221). Tuy nhiên, theo Kenkô, liên quan đến đoạn này, tất cả lời đồn đại về nữ quỉ đều dựng ra từ trí tưởng tượng của người ta.

[17]        Khu vực ngày xưa thuộc ngoại thành Kyôto.

[18]        Ngôi chùa của một chi nhánh họ Fujiwara.

[19]        Cung điện dưới chân ngọn núi Kameyama do Thiên Hoàng Go-Saga (1220-72) ra lệnh kiến tạo hồi năm Kenchô (1249-56). Thiên hoàng Kameyama (1249-1305) cũng ngự ở đây. Khuôn viên rất rộng lớn, giáp sông Ôi, cảnh trí đẹp đẽ. Sau trở thành hoang phế. Vị thiên hoàng được nói đến trong điện này không rơ là thiên hoàng Go-Saga hay Kameyama (D.K.).

[20]        Thuộc khu vực phía tây Kyôto, bên cạnh vùng Arashiyama.

[21]        Làng phía nam Kyôto bên cạnh hồ Biwa, nổi tiếng về nghề làm guồng nước.

[22]        Trong Tsurezure-gusa, Kenkô hay ca tụng những kẻ thạo nghề. Đây là đoạn đầu tiên. Chú ư là ông có bảo “chu cấp tiền nong hậu hĩ” chứng tỏ, theo ư ông, kẻ thạo việc mới đáng đồng tiền bát gạo. S.M. tự hỏi không lẽ Kenkô đă hiểu nguyên lư kinh tế thị trường?

[23]        Có một thời Ken kô sống gần chùa Ninna nên ông có cả một mớ chuyện về các nhà sư ở đó, kể cả chuyện nhà sư thành tâm nhưng khờ khạo này.

[24]        Một ngôi chùa lớn, có ư nghĩa lịch sử, của phái Chân Ngôn, được hoàn thành ở tây bắc Kyôto vào niên hiệu Ninna (888) dưới đời Thiên Hoàng Uda.Thiên Hoàng từng ra đấy tu, sau bổ nhiệm các hoàng tử nối tiếp trụ tŕ.

[25]        Đền trấn sơn trên ngọn Otokoyama ở phia nam Kyôto. Tên đầy đủ là Iwashimizu Yawata hay Iwashimizu Yahata. Đền này thờ thần chiến tranh (thần cung tên) Hachiman có liên quan đến ḍng họ Minamoto (Genji) và là một đền thần đạo có tầm cỡ quan trọng toàn quốc chẳng kém đền Ise và Kamo.

[26]        Thời đó, viếng đền Iwashimizu người ta thường đi thuyền cho đỡ mệt. Lội bộ khổ nhọc hơn, chứng tỏ nhà sư này có ḷng thành.

[27]        Hai đền chùa phụ thuộc dưới chân núi nhưng không phải là đền chính mà nhà sư muốn thăm vốn ở trên núi.

[28]        Để thành sư (ở lứa tuổi từ 17 đến 19), chú tiểu này phải gọt tóc hoàn toàn.

[29]        Trong câu chuyện này, Kenkô đặc biệt ta thán sự suy đồi trong kỹ cương của một ngôi chùa lớn và có truyền thống như Ninnaji khi các nhà sư say sưa và hát hỏng. Các tranh mộc bản liên quan tới đoạn này thường khắc thêm bên cạnh những bài thơ dâm t́nh.

[30]        Mới vừa vui nhộn, hoạt kê đó mà thoắt cái đă trở thành thảm cảnh cười ra nước mắt. Kenkô muốn chứng minh là “cực lạc sinh bi”? “Xúm xít đầu giường” muốn nhấn mạnh là t́nh trạng đă đến chỗ tuyệt vọng.

[31]        Tuy thuộc khu vực chùa Ninna nhưng đây gọi là Omuro hay ngự thất để tỏ ḷng tôn kính việc Thiên Hoàng Uda từng ra đó tu.

[32]        Chắc đây là một cậu công tử con nhà nào đó. Sự mến mộ của các tăng nhân này, theo S.M., không được ngay thực hồn nhiên cho lắm. Các chùa chiền thời trung cổ Nhật Bản chứng kiến nhiều cảnh phong hóa suy đồi, đặc biệt là chuyện đồng tính luyến ái giữa nam giới (danshoku).

[33]        Cần chú ư là những người gọi là asobi-hôshi có thể là những tăng lữ chuyên múa hát, nhưng ở đây, ám chỉ những người chỉ mượn áo tăng chứ không phải là tăng sĩ thật.

[34]        Vùng có ba quả đồi bên cạnh chùa Ninna. Cuối đời Kenkô về sống ẩn dật ở đấy. Dưới chân núi hăy c̣n bia mộ của chính ông.

[35]        Theo ư thơ Bạch Cư Dị trong Bạch Thị Văn Tập được dẫn ra trong thi tuyển Wakan Ryôei-shuu: Lâm gian noăn tửu thiêu hồng diệp. Thạch thượng đề thi tảo lục đài. (Đốt lá giữa rừng hâm nậm rượu. Quét rêu trên đá thảo vần thơ).

[36]        Phương pháp bí truyền với thần chú và ấn quyết của phái Shingon (Chân Ngôn) chùa Ninna. Khai tổ của phái ấy là tăng Kuukai (Không Hải, 774-835) đă tu học ở Trung Quốc.

[37]        Cũng có thể là người (phụ nữ) ngày đêm khắng khít không rời thấy trong đoạn 37.

[38]        Theo C.G., Kenkô muốn châm biếm thói quen của một số nhà thơ thường vẽ vời hoa ḥe hoa sói chung quanh hoàn cảnh sáng tác của nó trong khi chính bài thơ tự thể chẳng có giá trị văn chương ǵ. Những người đó chắc đă bắt chước kiểu tŕnh bày của Truyện Ise, trong đó, trước mỗi bài thơ đều có lời giải thích về nguyên lai của nó.

[39]        Xin xem thêm đoạn 79 : Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ.

[40]        Dường như Kenkô phản đối việc chỉ dựa vào cái tâm cầu đạo để tu Phật. Ông chống lại mọi h́nh thức thỏa hiệp. Có lẽ ông cho rằng phải cắt mọi liên lạc với cơi tục th́ mới tiến lại gần với đạo được. Sống ở cơi tục mà cầu đạo như Duy Ma Cật, Bạch Lạc Thiên hay Vương Khang Cư (Đại ẩn tại triều thị, Tiểu ẩn nhập sơn khâu, Văn Tuyển) là một chuyện không dễ dàng tí nào.

[41]        Duyên là cái nguyên nhân đă tạo ra kết quả. Nếu nhân trực tiếp th́ duyên gián tiếp gây ra cái quả. Xin xem thêm đoạn 75, trong đó sinh hoạt, nhân sự, kỹ năng, học vấn…là những cái duyên được nhắc đến.

[42]        Thơ Trương Hoa: Ẩn sĩ thác sơn lâm. Độn thế dĩ bảo chân. (Người ở ẩn gữi thân nơi rừng núi. Lánh đời giữ được ḷng chân thật)

[43]        Kinh Pháp Hoa, Tỉ Dụ Phẩm: Chư khổ sở nhân. Tham dục vi bản.(Mọi cái khổ đều có nguồn gốc. Tham lam là nguyên nhân lớn nhất)

[44]        Xem Cảm Nghĩ Trong Am, đoạn 11: “Cũng có lần ta lên kinh đô, hỗ thẹn về h́nh dáng ông sư khất thực của ḿnh” (Kamo no Chômei).

[45]        Tuy cho rằng phải xa lánh thế tục để cầu đạo nhưng Kenkô cho rằng muốn sống ẩn dật cũng phải tích cực và cố gắng v́ người ở ẩn cũng là con người với những đ̣i hỏi vật chất của nó. Do đó, ta thấy ông từ chối cả hai quan điểm cực đoan (S.M.).

[46]        Làm người là được một cơ hội qui hiếm để tiến về cơi văng sanh cực lạc nên phải tận dụng.

[47]        Nguyên văn: đạo bồ đề.

[48]        Kinh Niết Bàn, chương 16: Thân tuy đại phu. Hành đồng súc sinh (Thân tuy là người. Hành động thú vật).

[49]        Đoạn này cũng như đoạn 49, phủ nhận thái độ lần khân của con người trước sự cấp bách của việc tu hành.

[50]        Chân Thừa Viện chùa Nhân Ḥa, có nhiều quí tộc đến tu.

[51]        Thịnh Thân tăng đô, tiểu truyện không rơ. Tăng đô (Sôzu), chỉ đứng sau tăng chính (Sôjô), là cấp bậc cao nhất của một tông phái.

[52]        C̣n gọi là oya-imo (một loại khoai môn, khoai sọ), không có vị ngọt, người Nhật hay ăn vào dịp Tết.

[53]        Làm liên tưởng đến cô tiểu thư chỉ thích ăn hạt dẻ trong đoạn 40.

[54]        Đơn vị tiền đồng (zeni). Cứ 1.000 mon (văn) th́ thành một kan (quan). Thời đó, giá chính thức một thạch gạo (hộc gạo, 180 lít) chỉ có một kan. Tăng Jôshin dùng cả món tiền 200 quan thầy cho và 100 quan tiền bán thiền pḥng để ăn khoai th́ biết ông ăn nhiều như thế nào. (S.M.) 

[55]        Về chuyện tiêu lớn cho một món nào đó th́ Tống Thư Ẩn Dật Truyện có chép việc Đào Uyên Minh được Nhan Diên Chi cho hai mươi vạn tiền, dùng cả vào việc uống rượu (dẫn từ Bansaishô tức Bàn Trai Sao, của nhà quốc học Katô Bansai, 1661).

[56]        Một cái tên không rơ nghĩa, có thể được tạo ra bằng cách ghép hai âm shiro và ruri, trắng hếu và trơn láng như vỏ dưa.

[57]        Nhất định Jôshin là mẫu người có cá tính (kusemono) nhưng không hiểu Kenkô có định đem so sánh nhà sư bất cần đời này với mẩu người lư tưởng “vượt được khỏi điều hiền, ngu, được, mất” mà ông đă nói đến trong đoạn 38 chăng?”

[58]        Trong Truyện Heike (chương 3), nhân bàn về cảnh Hoàng Hậu Tokushi sinh Thiên Hoàng Antoku, có cho biết nếu sinh hoàng tử th́ ném niêu đất về hướng nam, nếu sinh công chúa th́ ném niêu đất về hướng bắc. Tục đó gọi là koshiki-otoshi. Phải chăng v́ chữ koshiki (niêu đất dùng để thổi cơm hay hấp thức ăn) có âm koshi (phần hông và mông của cơ thể) nên được dùng làm bùa giải nạn?.

[59]        Atozan (hậu sản): thời gian nhau rớt (ena) được đẩy ra khỏi thân thể người mẹ.

[60]        Có thể là Ôharano nay thuộc về khu Sakyô trong thành phố Kyôto. Ôhara có thể viết bằng hai chữ Hán khác nhau: Đại Nguyên (Cánh Đồng Lớn) hay Đại Phúc (Bụng Chửa).

[61]        Tranh dân gian có những mảnh niêu đất vỡ đă được thái thượng hoàng Go-Shirakawa thu thập và giữ ở một nơi tên gọi Rengeô.in Hôzô (Liên Hoa Vương Viện Bảo Tàng). Go-Shirakawa là một người yêu chuộng nghệ thuật dân gian, đă sưu tập dân ca đầu đường xó chợ trong tập Ryôjin Hishô (xem chú thích ở đoạn 14).

[62]        Diên Chính Môn Viện, tên cúng cơm là công chúa Esshi (Duyệt Tử, 1229-1332). Đi tu năm 1284. Một nữ quan theo hầu bà, tên là Enseimon.in Ichijô, có một mối t́nh với Kenkô. 

[63]        Tức Thiên Hoàng Go-Saga, cha bà Enseimon.in, lúc này đă thoái vị nhưng vẫn bận bịu đa đoan, ít gặp con cái. Bà phải viết bài thơ này truớc năm bà 14 tuổi tức năm Go-Saga băng. Thiên Hoàng sinh bà lúc ông đă 40.

[64]              Chữ có hai nét chữ giống sừng ḅ chữ thẳng chữ cong ṿng hợp lại thành chữ (こいしく ko-i-shi-ku) có nghĩa là nhớ thương. Tuy nhiên, chữ kimi ở đây có nghĩa tôn kính như “quân vương”, “thiên hoàng”, “ngài” chứ không phải “cha”, “bố”.

[65]        Cuộc lễ cử hành ở viện Shingon trong cung từ ngày thứ tám trong tháng giêng và kéo dài một tuần lễ. Chữ Hán viết là Hậu Thất Nhật, một nghi thức mật giáo của phái Shingon (Chân Ngôn), có lập đàn, đọc kinh, bắt quyết. Mục đích đa dạng (trừ tai, tăng ích, kính ái, hàng phục). Người chủ tế (Ajari) phải là tăng sĩ có địa vị cao nhất của chùa Tôji.

[66]        Không thỏa đáng v́ trong những nghi thức thiêng liêng đă có cái trần tục dính vào.

[67]        Loại xe ḅ của giới thượng lưu ở trước rèm thường kết ở tả, hữu, trung ương… những sợi giây da nhuộm màu, hoặc bảy, hoặc năm hoặc bốn sợi.  

[68]        Đó là các gia đ́nh quan chức lớn cỡ nhiếp chính, quan bạch, thái chính đại thần như họ Fujiwara, Konoe, Kujô, Ichijô, Takatsukasa, Koga, Saionji. Thời của Kenkô, những qui luật này c̣n được theo dơi kỹ lưỡng. Tuy nhiên khi có sự không rơ ràng về cách dùng xe như ở đây, ta thấy trật tự của thời đại đă có phần nào biến đổi.

[69]        Đoạn 65 này (mũ măng) và đoạn 64 (xe cộ) có liên quan với nhau. Tác giả xúc động v́ mũ măng xe cộ là những cái không cần chạy theo thời thượng mà đă thay đổi. Làm ta nhớ thơ Đổ Phủ (Thu Hứng bát thủ) từng có câu: Văn vũ y quan dị tích th́ (Áo măo các quan văn vơ nay đă khác thời xưa). Tuy nhiên ông không giải thích tại sao các ông quan không sắm hộp mũ (kaburi-oke) mới mà chỉ nới vè hai bên hộp cũ.

[70]        Chức quan dành cho quyền thần, mọi chính vụ phải bẩm báo qua người đó mới đến tai vua. Bắt đầu có ở Nhật từ đời Heian, khoảng năm 884. Xuất xứ từ Hán Thư, Hoắc Quang Truyện: Chư sự giai tiên quan bạch Quang, nhiên hậu tấu ngự thiên tử. Quan bạch có nghĩa “thưa gữi”.

[71]        Ông tên thật là Fujiwara Iehira (Đằng Nguyên, Gia B́nh, 1282-1324), làm chức Kanpaku năm 1313, mất năm 1324, lúc 43 tuổi. Okamoto là vùng đất đông bắc Kyoto, nơi ông có dinh.

[72]        Nguyên văn là tori (chim). Tuy nhiên qui ước trong cổ văn Nhật là khi chỉ nói chim không thôi, phải hiểu là chim trĩ, một món ăn thông dụng thời đó cũng như gà bây giờ.

[73]        Một cận vệ (zuijin) trong phủ Konoe (quân cấm binh) đă làm việc từ đời cha của Kanpaku Okamoto. Thời đó, trong đám cận vệ có nhiều người có sở trường về một môn đặc biệt.

[74]        Takekatsu trả lời đại thần Okamoto là ông không biết ǵ hết nhưng qua đoạn văn sau đây, ta thấy ông biết rất nhiều tập tục nghi lễ trong cung liên quan đến việc săn mồi bằng chim ưng. Thành thạo như vậy nên ông không chịu nghe lệnh chủ sai gắn chim lên một cành hoa, một chuyện mà ông xem là trái với thường thức.

[75]        Shaku ( xích) khoảng 30cm. Như vậy cành cây hơi dài.

[76]        1,5cm.

[77]        D.K. dịch là “Có khi gắn bằng thân chim lên cành, có khi lại gắn bằng chân chim” nhưng như thế e không ổn.

[78]        Nguyên văn hiuchi-ba (D.K.: false wind), một từ kỹ thuật khó hiểu. Có thể là cái mấu để gắn “cánh thật” (real wind). C.G. cho rằng đó là những cái lông dài nhất trên lưng chim (les plus longues plumes dorsales).

[79]        “Sơ tuyết tham bái” là một nghi lễ mà quần thần phải làm hằng năm.

[80]        Thường vật vua ban vào dịp này là áo xống.

[81]        Văn từ đoạn này tuy không được dễ hiểu cho lắm nhưng đă cho ta thấy h́nh ảnh rất đẹp của văn hóa quí tộc Nhật Bản thời trung cổ.

[82]        Tập truyện thơ đời Heian, không rơ ai viết. Gồm 125 đoạn, tập trung vào chủ đề t́nh yêu nam nữ. Đoạn 98: Wa ga tanomu / kimi ga tame ni to / oru hana wa / tokishimo wakanu / mono nizo arikeri (Ư nói: Tôi bẻ một cành hoa cho người tôi tôn quí, trông cậy, nhưng hoa kia không biết đến thời tiết, lúc nào cũng nở ) (S.M.).

[83]        Takekatsu chỉ đưa ra câu chuyện nhưng không thấy giải thích.

[84]        Đền thượng Kamo có tất cả 16 phân nhánh,

[85]        Iwamoto ở tả ngạn sông Nara no Ogawa trên một kè đá (iwa).

[86]        Chánh điện của đền Hashimoto ở bên một chiềc cầu (hashi) cạnh sông Mitarashi.

[87]        Nguyên Kamo có hai đền: thượng và hạ. Đây là truyện về đền thượng.

[88]        Fujiwara no Satekata, cũng là một thi nhân, từng làm chức trấn thủ vùng Mutsu. Không rơ liên quan thế nào đến đền Hashimoto. Chết năm 994 trên đường đi đày trên miền bắc v́ bị Thiên Hoàng Ichijô bắt tội sau một cuộc cải vă với Fujiwara no Yukinari, nhà thư pháp nổi tiếng.

[89]        Con sông nhỏ chảy gần thần xă Kamo. Mitarashi có nghĩa là “nước để tẫy sạch”, ở gần mỗi đền thần đều có chỗ để khách thập phương tẫy uế trước khi vào đền.

[90]        Được biết với tên khác là Jien (Từ Viên, 1155-1225). Đứng đầu phái Thiên Thai. Yoshimizu là nơi ông ở ẩn. Cũng là một nhà thơ, có 91 bài tuyển đăng trong tập thơ Shin Kokin.

[91]        Để ư  koko ni ariwara (hiện ra nơi đây) là một h́nh thức chơi chữ v́ nó cũng là tên của vương tử Ariwara no Narihira.

[92]        Vương tử đa t́nh, một trong 6 nhà thơ lớn (ca tiên) thời Heian. Không rơ liên quan như thế nào với đền Iwamoto.

[93]        Truyện Ise gợi ra trong đoạn 66 được nối tiếp ở đây với nhân vật trung tâm của nó, vương tử Narihira. Thái độ nhũn nhặn của ông từ giữ đền trong đoạn 67 này tương phản với cách nói chuyện đầy tự tin của Takekatsu trong đoạn 66. Có lẽ trọng tâm của đoạn này là ông từ giữ đền chứ không phải là hai cái đền.

[94]        Con gái quan Dainagon Fujiwara no Korehira, có xuất hiện trong tuyển tập thơ Shoku-Kokin và nhiều tập khác.

[95]        Bà tên là Fujiwara Kishi (Đằng Nguyên, Hỷ Tử), hoàng hậu của Thiên Hoàng Kameyama.

[96]        H́nh thức thi tập với số bài nhất định thường để cúng đền chùa.

[97]        Kenkô h́nh như muốn mượn hai ông thần thơ để ca tụng bà  Konoe này. Thi tăng Tonna cũng kính trọng và tán dương bà.

[98]        Tên cũ của vùng đất phía bắc đảo Kyuushuu.

[99]        Nguyên văn Ôryôshi, một chức quan địa phương lo việc trị an đời xưa. Có lẽ chuyện đă xảy ra trước thế kỷ 12 v́ vào thời Kamakura, danh xưng này đă trở thành hữu danh vô thực.

[100]       Kenkô là người chú ư đến việc dưỡng sinh. Nếu cấu chuyện được b́nh giảng theo chiều hướng đó th́ nghe được nhưng nếu định gán cho nó ư nghĩa siêu h́nh th́ hơi trẻ con, buồn cười. Phải chăng nó chỉ là một tiểu phẩm thuộc loại truyện báo ân báo oán đầy dẫy trong thời trung cổ.

[101]       Thư Tả Thượng Nhân (928-1007), pháp danh Tính Không, ḍng dơi quí tộc Tachibana, tu trên núi Shosha vùng Harima.

[102]       Chuyện này mô phỏng “Củi đậu nấu đậu” liên quan đến giai thoại Tào Thực đời Tam Quốc, bị anh là Ngụy Văn Đế Tào Phi bức bách, bảy bước thành thơ. Có lẽ đây là một truyện có mục đích dùng uy tín của nhà sư Tính Không để giảng đạo.

[103]       C.G. đọc là Gennô.

[104]       Thanh Thự Đường, một trong 9 nhạc viện trong cung.

[105]       Niên hiệu Nguyên Ứng (1319-21) đời Thiên Hoàng Go Daigo, lúc Kenkô khoảng 37-38 tuổi.

[106]       Một cây đàn quí trong cung, tên được viết theo âm Hán là Huyền Thượng hay Huyền Tượng. Đă được đem về từ Trung Quốc.

[107]       Tức đại thần Fujiwara (Saionji) Kanesue (1284-1339), một người giỏi đàn Biwa. Hiệu Kikutei (Trúc Đ́nh) v́ ông nổi tiếng yêu hoa cúc.

[108]       Mục mă, cây đàn quí thứ hai trong cung, cũng được đem từ Trung Quốc về.

[109]       Có thuyết cho là một người đàn ông trá h́nh. Âm mưu phá hoại của ai đó chăng? Dù sao Kanesue đă b́nh tĩnh cứu văn t́nh thế.

[110]       Nhà thơ haikai Matsunaga Teitoku (1571-1653), một người đi trước Bashô, trong tác phẩm Nagusami-gusa của ông cũng tỏ ra đồng cảm với Ken kô khi đọc đến đoạn này (S.M.).

[111]       Không đợi khoa tâm lư học hiện đại ra đời, vào thế kỷ 14 mà Ken kô đă nói về những hiện tượng tâm lư như “déjà vu” (đă thấy ở đâu rồi) chẳng hạn.

[112]       Bút pháp theo kiểu liệt kê hết chuyện này tới chuyện nọ như ở đây có vẻ học được từ Makura no Sôshi của bà Sei no Shônagon.

[113]       Fuguruma, một chiếc xe nhỏ có tay nắm để thồ sách. Hiền nhân Trung Quốc xưa có câu nói: “B́nh sinh nhất hồ tửu. Thân hậu ngũ xa thư” (Sống đời một be rượu. Chết để sách năm xe) cũng cùng chung một ước nguyện như thế chăng?  

[114]       Trong đoạn này, Kenkô t́m hiểu quá tŕnh biến chuyển thế nào để điều dối trá lại trở thành sự thực dưới mắt mọi người.

[115]       Cách nói dối thứ nhất (vô căn cứ, bị khám phá tức khắc) theo phân tích của S.M. về 5 cách nói dối chủ động hay nói dối thụ động mà Kenkô quan sát.

[116]       Việc Kenkô viết là okomeku hay ogomeku ở đây gây nhiều tranh căi. Theo D.K. có nhà chú giải đă viết cả ba trang giấy để bàn về nó. Theo DK, đó là “vênh váo măn nguyện”, trong khi C.G. dịch là “làm lộ cái nói láo ra mặt”. S.M. cho rằng dịch kiểu trước hợp với văn mạch hơn.

[117]       Cách nói dối thứ hai (tiếp vận thông tin nói dối).

[118]       Cách nói dối thứ ba (có chủ tâm, nói dối lăo luyện).

[119]       Cách nói dối thứ tư (v́ tiếng khen, cam chịu sự dối trá).

[120]       Cách nói dối thứ năm (buông thả, mặc nhận một điều nói dối).

[121]       Sách Luận Ngữ có câu: Tử bất ngữ quái lực loạn thần (Khổng Tử không nói tới những chuyện sức mạnh quái dị hay tranh chấp của các thần).

[122]       Văn Tuyển, quyển 9, trong bài Trường Địch Phú có câu: Phong tụ, nghị đồng (Họp lại như ong và kiến) . Tùy Thư, truyện Vu Trọng Văn có chép: Hà Nam nghị tụ chi đồ (Bọn đồ đảng họp như kiến ở Hà Nam). Con người khi họp thành đàn thường được ví với ong hay kiến.

[123]       Kinh Duy Ma đưa ra ví dụ về kiếp người: Thị thân như điện. Niệm niệm bất trú.

[124]       Thường trú, hằng thường. Trái lại với vô thường.”Không bao giờ thay đổi” là dịch theo ư của biến (lăo, bệnh) và hóa (sinh, tử). Hữu hóa ra vô. Trong đoạn này, tư tưởng của Kenkô có nhiều chỗ giống với Kamo no Chômei (xem Hôjôki).

[125]       Sách Maka Shikan (Ma Kha Chỉ Quán): Sinh hoạt duyên vụ giả kinh kỷ sinh phương. Xúc đồ phân củ đắc nhất thất nhất, táng đạo loạn tâm. Ư nói người sống ở đời v́ việc được mất là ḷng bị rối loạn. Maka Shikan là tác phẩm đời Tùy của Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (Chigi, 538-97) , vị tăng khai tổ phái Thiên Thai sáng tác và đệ tử là Chương An (Shôan, 561-632) chép lại (594). Đây là quyển sách ảnh hưởng rất lớn đến Phật Giáo Nhật Bản.

[126]       Sách Văng Sinh Yếu Tập (Ôjô Yôshuu) có viết: Ức tưởng vọng phân biệt, tức thị ngũ dục bản. Trí giả bất phân biệt. Ngũ dục tắc đoạn diệt. Ư nói sự tính toán so b́ là đầu mối của ḷng dục.

[127]       Sách Maka Shikan (Ma Kha Chỉ Quán): Duyên vụ hữu tứ. Nhất sinh hoạt. Nhị Nhân sự. Tam kỷ năng. Tứ học vấn. Sách dạy phải thoát khỏi bốn cái trần duyên th́ mới diệt được khổ.

[128]       Cả hai đoạn 76 và 77 đều nói về t́nh trạng xă hội đương thời, lúc một số tăng sĩ đă xuống cấp, đồi bại về mặt phong hóa.

[129]       Đời nào cũng có và chỉ phục vụ ḷng tự tôn của ḿnh thôi.

[130]       Đoạn 79 này thừa hứng và bổ túc cho đoạn 78 ở trên.

[131]       Nguyên văn Ebizu tức man di, ám chỉ những vũ sĩ thô bạo miền Đông Nhật Bản.

[132]       Thơ khổ 5/7/5/7/7 do nhiều người họp nhau lại tiếp nối nhau mà làm, có thể dài đến 10.000 câu. Rất được giới vũ sĩ yêu thích.

[133]       Cảnh ngộ của Lư Lăng, tướng nhà Hán thua Hung Nô bị bắt cầm tù. Văn Tuyển, Đáp Tô Vũ Thư: Binh tận, thỉ cùng, nhân vô xích thiết, do phục đồ thủ phấn hồ, tranh vi tiên đăng. (Lính chết, hết tên, tay không tấc sắt).

[134]       Đoạn 81 này lại nói về gia cư, có thể kết hợp với các đoạn 10, 72 có liên quan ít nhiều với nó.

[135]       Vải mỏng (usumono) dùng để chỉ chung lụa, là, sa…là loại vải quí dùng để trang trí b́a sách đời xưa. Trong “Truyện Genji, chương Sakaki (Cây Thiêng) có chép: “trục bằng ngọc, b́a bằng là”.

[136]       Tức danh tăng phái Th́ Tông tên Đốn A (có thể đọc là Ton.a hay Tonna, 1289-1372),. Ông là nhà thơ waka, môn đệ của Nijô Tameyo, cùng với Kenkô, Jôben và Keiun là bốn đại thụ trong làng thơ thời ấy. Có nhiều thi tập và thơ đăng trong các tập soạn theo chiếu chỉ.

[137]       Tức Hoằng Dung Tăng Đô, nhà sư trụ tŕ chùa Ninna, một người bạn của Kenkô, nhỏ hơn ông khoảng bốn tuổi.

[138]       Có thể là chính bản thân Kenkô. Ông dùng chữ “có người” trong nhiều trường hợp.

[139]       Ư nói hoàn hảo hay trật tự quá đều làm cho người ta hoảng sợ.

[140]       Trong ngôn ngữ nhà Phật, nội điển là kinh Phật, ngoại điển là các sách Nho hay thuộc các luồng tư tưởng khác.

[141]       Tác giả thậm xưng. Tuy nhiên các sách vở nổi tiếng như Truyện Genji, Ma Kha Chỉ Quán, Mao Thi, Đại Học… đều thiếu mất một số chương hay đoạn.

[142]       Chỉ Fujiwara (chi nhánh Saionji) no Kinhira (Đằng Nguyên, Công Hành) làm Tả đại Thần năm 1309 có 3 tháng, sau bỏ đi tu. Ông mất năm 1315 thọ 52 tuổi. Chikurin.in (Trúc Lâm Viện) là tên phủ đệ.

[143]       Nếu Tả Đại Thần là một trong hai chức Tổng Trưởng Đặc Nhiệm (Tả/Hữu) th́ Thái Chính Đại Thần ngang hàng với Thủ Tướng trong quan chế đời xưa. Chi Saionji của ḍng họ quyền thần Fujiwara đă 4 đời làm Thái Chính Đại Thần nên khả năng Chukurin.in, con gịng đích trong nhà, lên đến chức này rất lớn.

[144]       Chỉ Fujiwara no Saneyasu (Đằng Nguyên, Thực Thái) hiệu Tôin (Động Viện) hai lần làm Tả Đại Thần từ năm 1318 đến 1322. Mất năm 1327, thọ 59 tuổi. Cha và con ông đều làm Thái Chính Đại Thần. 

[145]       Lời bàn về quẻ Càn trong Kinh Dịch: Thượng cửu, kháng long hữu hối. Ư nói “Con rồng lỡ leo lên đến chỗ cao hết nấc th́ chỉ c̣n có nước đi xuống, nên nó đâm ra ăn năn”. Kháng có nghĩa là nơi cao.

[146]       Điển trong Sử Kư Tư Mă Thiên, truyện Phạm Chuy (c̣n đọc là Tuy) Sái Trạch: Ngữ viết: Nhật trung tắc di, nguyệt măn tắc (khuyết), vật thịnh tắc suy, thiên địa chi thường số dă”.

[147]       Chỉ c̣n một nấc nữa là đạt đến tột đỉnh trên nấc thang danh vọng mà Chikurin.in lại bỏ ra đi khiến cho cả Tôin và Kenkô đều thương cảm. Xin xem thêm đoạn 155 (Người chạy theo thời) để thấm thía hơn.

[148]       Cao tăng Trung Quốc thời Đông Tấn (337? – 422?), v́ cảm thấy phần Luật của ḿnh chưa đầy đủ nên sang Thiên Trúc (Ấn Độ) học hỏi. Mười lăm năm sau mới về tới nước. Ra công dịch nhiều tạng kinh và viết sách nói về chuyến đi tu học bên đó. Được gọi là Tam Tạng (cũng như Huyền Trang và các vị khác) v́ thông hiểu ba tạng Kinh, Luật, Luận. Người Nhật gọi ông là Hokken Sanzô.

[149]       Sách Cao Tăng Pháp Hiển Truyện có kể là khi một thương nhân cúng dường một chiếc quạt lụa trắng làm ở Trung Quốc th́ tăng Pháp Hiển nhỏ lệ v́ nhớ nước, cảm cảnh cuộc đời vô thường và thương những đồng đạo cùng ra đi với ḿnh nay không c̣n nữa.

[150]       Kư sự ghi trong Pháp Uyển Châu Lâm, truyện thứ 91 có nói về một vị tăng Trung Quốc “vị khách tăng mịch bản hương trai thực” (v́ nhà sư nước ngoài (tức Pháp Hiển), kiếm cơm chay nấu kiểu quê ông ấy) nhưng không hề nói đó là ước mong của chính Pháp Hiển.

[151]       Xem chú của đoạn 82.

[152]       Sách Luận Ngữ, thiên Lư Nhân: Kiến hiền, tư tề yên. Kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dă. (Thấy người hiền, muốn được giống như họ. Thấy người không hiền, lấy đó mà phản tỉnh)

[153]       Sách Luận Ngữ, thiên Dương Hóa: Tử viết: Duy thượng tri dữ hạ ngu bất di (Chỉ có người cực kỳ sáng láng và kẻ cực kỳ ngu si mới không thay đổi).

[154]       Câu này mượn ư từ Shasekishuu (Sa Thạch Tập), đoạn 10 : “Nếu kẻ điên chạy, người không điên cũng bắt chước chạy theo. Các vị tổ sư là người không chạy vậy”.

[155]       Sách Dương Tử Phương Ngôn, chương Tu Thân: Nhân chi tính dă, thiện ác hỗn. Tu kỳ thiện tắc vi thiện nhân. Tu kỳ ác tắc vi ác nhân (Tính con người lẫn cả thiện ác vào nhau. Dốc ḷng vào việc thiện th́ thành người thiện, ngược lại, bắt chước kẻ ác th́ thành kẻ ác). Dương Tử Phương Ngôn do Dương Hùng (53 TCN-18) đời Hán soạn.

[156]       Ngựa hay ngày chạy ngàn dặm, ư nói người hiền đức, giỏi giang.

          Dương Tử Phương Ngôn cũng có câu: Hy Kư chi mă, diệc Kư th́ thừa dă. Hy Nhan chi nhân, diệc Nhan chi đồ dă (Mong được như ngựa Kư, ắt cũng là vật để cưỡi giống ngựa Kư. Mong được là người như Nhan Hồi, ắt phải là đồng đạo của thầy Nhan). Có lẽ Kenkô nh́n tự dạng Nhan sai thành Thuấn. Lư do là sách xưa có câu: Phụ Kư vĩ nhi hành ích hiển (Theo đuôi ngựa Kư để hành vi càng phong phú và tỏa sáng) nói việc Nhan Hồi theo học Khổng Tử (theo Thiều Chữu). 

[157]       Chỉ Taira no Koretsugu (B́nh, Duy Kế), năm 1330, có thời làm chức Gon-Chuunagon, một chức quan cố vấn về chính vụ. Ông học giỏi, được phong Monjô Hakase (Văn Chương Bác Sĩ), có nhiều thơ đăng trong tuyển tập soạn theo chiếu chỉ. Xuất gia năm 1342 và mất năm sau đó, thọ 78 tuổi.

[158]       Viên Y Tăng Chính. Giỏi văn chương, có thơ trong các tuyển tập soạn theo sắc chiếu. Ngoài ra c̣n nổi tiếng về vẽ tranh cuốn.

[159]       Miidera (c̣n gọi là Onjôji, Viên Thành Tự) và Enryaku (Diên Lịch Tự) là hai chùa lớn. Cảnh chùa Miidera, bản sơn của phái Thiên Thai được gọi gọn là Jimon (Tự môn) trong khi cảnh chùa Enryakuji trên núi Hieizan được gọi là Sanmon (Sơn môn).

[160]       Ít ai hiểu câu nói này ư nhị ở chỗ nào. Có thể là một câu nói “khôi hài đen”. Chữ Hôshi (sư) ở đây c̣n có thể hiểu là (lo lửa cháy = hi+ushi) ám chỉ hỏa hoạn do tăng nhân chùa địch thủ (Enryaku) tạo ra v́ có cuộc tranh chấp giữa hai tôn phái. Theo thiển ư (N.N.T.) ư nhị ở chỗ khi nhà sư mất chùa đi rồi ngài mới thong dong, thật sự gần đạo được.

[161]       Thành phố nhỏ gần Kyôto, có nhiều phủ đệ.

[162]       Vùng rừng núi giữa Kyôto và Uji.

[163]       Dưới thời phong kiến, để giử lănh địa và gây áp lực với chính quyền, các chùa như Kyôfukushi (Hưng Phúc Tự) và Tôdaiji (Đông Đại Tự) ở Nara đều có lực lượng quân sự riêng.

[164]       Kuchinashi (gardenia = cây dành, cây sơn chi), cũng có thể là tên riêng của cánh rừng.

[165]       Bàn về cái hại của rượu, xin xem thêm các đoạn 117 và 175.

[166]       Tuyển tập thơ nửa Nhật nửa Hán do Fujiwara no Kintô (Đằng Nguyên, Công Nhiệm, 966-1041) soạn khoảng năm 1012, gồm 588 bài thơ chữ Hán và 216 bài thơ Nhật nổi tiếng.Kintô thường được gọi là Shijô Dainagon (quan tham nghị cấp cao nhà ở phường số 4).

[167]       Tức Tiểu Dă Đạo Phong (894-966), cùng với Fujiwara Sukemasa và Fujiwara Kôzei là một trong ba cây bút thư đạo lỗi lạc (sanseki) thời Heian. Ông mất năm 966 là năm Kintô sinh ra đời nên không thể nào chép một tập thơ mà 46 năm sau Kintô mới soạn xong.

[168]       Một loại “mèo ǵa hóa cáo” tương truyền có hai đuôi và biến hóa được. Các sách cổ của Nhật chẳng hạn Meigetsuki (Minh Nguyệt Kư), nhật kư của thi hào Fujiwara no Teika (1180-1235) có nhắc đến sự xuất hiện của con thú này vào năm 1233.

[169]       Tên các sư Tịnh Độ Tông và Th́ Tông thường có chữ A Di Đà Phật. Ken kô viết Ani. Amidabutsu co nghĩa là Ǵ ǵ đó. A Di Đà Phật, có vẽ chế diễu.

[170]       Theo ư trong bài, ông sinh nhai bằng nghề này.

[171]       Phê phán những lời đồn đại như đă thấy ở đoạn 50 nói về quỉ cái.

[172]       S.M. cho là một Hôin (tăng lữ chức vị cao nhất trong hàng giáo phẩm và con của một quan tham nghị cập cao (Dainagon). Có thể là En.i (Viên Y, xem đoạn 86), Dôga (Đạo Ngă, đoạn 160) hay Ryuuben (Long Biện, đoạn 216). Thuyết về Ryuuben có vẽ dễ được chấp nhận hơn cả v́ ông ta là người đồng thời và là bạn thân của tác giả.

[173]       Dựa vào việc đầu có tóc hay không để phân biệt tăng và tục. Quan hệ đi lại thân thiết giữa một tiểu đồng ngây thơ và một ông quan lớn mà cậu ta v́ một cớ ǵ không thấy mặt, có thể suy diễn như S.M. là giữa hai người có một liên hệ đồng tính ái. D.K. chỉ bảo đây là một truyện đùa không thanh nhă trong khi C.G. dịch nguyên văn không thêm không bớt. Tuy nhiên, xin xem thêm các đoạn 53, 54 về chùa Ninna để có một ư niệm rơ hơn về cách giải thích của S.M..

[174]       Đọc là Onmyôdô hay Onnyôdô, h́nh thức học vấn của Trung Quốc dựa trên tư tưởng âm dương ngũ hành, sử dụng thiên văn, lịch số, bói toán để đoán biết sự hên xui, may rũi. Truyền vào Nhật Bản qua ngă Triều Tiên, có thời trở thành một thứ quan học, ảnh hưởng lớn đến triều chính.

[175]       Nguyên văn Shakusetsunichi (Xích Thiệt Nhật). Ngày đó, một trong sáu bộ hạ quỉ sứ của Thần Lưỡi Đỏ (Xích Thiệt Thần) giữ nhiệm vụ canh gác cửa Tây Môn của Thần Thái Tuế (Mộc Tinh) đổi phiên gác. Ngày thứ sáu nhằm phiên của quỉ La Sát. Có 60 ngày Lưỡi Đỏ trong năm (360:6=60). Tục kiêng Ngày Lưỡi Đỏ xuất hiện từ cuối đời Kamakura (thế kỷ 14). 

[176]       Kinh Niết Bàn, đoạn 27: Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính. Như Lai thường trú, vô hữu dịch biến. “Cái có cái không thay đổi biến chuyển” 

[177]       Nguyên văn gamô (nga mao). Có thể hiểu theo nghĩa bóng là nhẹ như như lông hồng.

[178]       Lăo Tử , chương 41viết: Thượng sĩ văn đạo, cẩn nhi hành chi. Trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vi đạo. Tạm hiểu: Người cao hiền nghe đạo th́ nghiêm cẩn chấp hành. Người kha khá nghe đạo, lúc giữ lúc quên. Kẻ thấp kém nghe đạo th́ cười ồ. Thế nhưng hễ  lời nói không bị người cười th́ chưa xứng đáng gọi là đạo.

[179]       Ông tên là Fujiwara (chi Saionji) Saneuji (Đằng Nguyên, Thực Thị, 1194-1269) làm chức Thái Chính Đại Thần tùng nhất phẩm. Tướng Quốc là cách gọi theo Trung Quốc. Ông là ông ngoại của hai thiên hoàng và tằng tổ phụ của Kinhira (Tả Đại Thần Chikurin.in trong đoạn 83). Học tṛ của thi hào Teika, ông có nhiều thơ (236 bài) được tuyển vào các tập thơ soạn theo chiếu chỉ. Tokiwai là tên phủ đệ.

[180]       Cho thấy cái quyền thế của Tướng Quốc Tokiwai, người mà phán đoán cá nhân không khác ǵ chính lệnh triều đ́nh.

[181]       Có thể dây phải được xỏ qua một ṿng khoen (kan) h́nh chiếc nhẫn trên nắp hộp. Dây cột quanh nắp hộp có mục đích giữ cho nó cố định và kín. Câu chuyện cho ta thấy nghi thức đời xưa rất chi li nhưng cách tŕnh bày ở đây hơi khó hiểu ngay đối với các nhà chú giải. Các dịch giả như D.K. và C.G. cũng tránh né. Có lẽ phải thấy cái hộp trước mặt (N.N.T.).

[182]       Lănh vực nghi thức dầu là chuyện nhỏ nhặt đều là mối quan tâm của Kenkô.

[183]       Một loại cỏ thân thảo họ cúc, mọc quanh năm. C̣n gọi là yabutabako hay “thuốc lá dại”, cao khoảng 80 cm, nhiều lông, hơi giống lá thuốc lá. Từ hạ sang thu có hoa vàng. Tên Hán là Thiên Danh Tinh. Sách Bản Thảo Cương Mục cho biết tính chất của nó là trừ được chất độc của các loại trùng và rắn.

[184]       Theo S.M., bản Shôtetsu chép: “hái cất sẳn đâu đó”.

          Đây cũng là một lănh vực mà Kenkô quan tâm nghĩa là chú ư đến vấn đề sức khỏe để sống lâu. Xem thêm 3 đoạn 147, 148 và 149 cũng như đoạn 224.

[185]       Ư trong sách Trang Tử, thiên Biền Mẫu: Thiên hạ tận tuẫn dă.  Bĩ kỳ sở tuẫn nhân nghĩa. Dă, tắc tục vị chi quân tử. Kỳ sở tuẫn tài hóa. Dă, tắc tục vị chi tiểu nhân. Bởi v́ nhân nghĩa đi ngược lại bản tính tự nhiên của con người nên nhân nghĩa hại phẩm chất , ràng buộc hành động của bậc quân tử.

[186]       Đạo pháp, giới luật… là cái có giá trị nhưng có thể ngăn cách, làm cho người tu hành không thông cảm được với người thường. Các sách Phật như Dă Chùy, Duy Ma Kinh và Ma Kha Chỉ Quán đều nhắc tới. Ma Kha Chỉ Quán chép: Quán pháp tuy chính, trước tâm đồng tà. Ư nói giữ phép tắc là điều phải nhưng để nó ám ảnh tâm hồn th́ cũng là xằng bậy.

[187]       Tên quyển sách dạy giáo lư Nhất Ngôn Phương Đàm chép lại hơn 150 lời dạy của 34 cao tăng phái Tịnh Độ và viết bằng chữ katakana nghĩa là văn tự biểu âm Nhật Bản. Tác phẩm vào giai đoạn sau của Mạc Phủ Kamakura nhưng không biết đích xác ai viết và vào thời điểm nào. Có thuyết cho tác giả là Tonna (Đốn A, xem thêm đoạn 82 có nói về ông) .

[188]       Câu nói của Minh Thiền Pháp Ấn (1167-1242), học tṛ Hônen.

[189]       Câu nói của Shunjôbô (Tuấn Thùa Pḥng, túc Chuugen (Trọng Nguyên), 1121-1206), một đệ tử khác của Hônen.

[190]       Câu nói của Kyôbutsubô (Kính Phật Pḥng, không rơ năm sinh năm mất) cũng là đệ tử Hônen.

[191]       Tức Thái Chính Đại Thần Koga (Cửu Ngă, Cơ Cụ), con trai Tomomori (Cụ Thủ), người mà Kenkô giúp việc lúc chưa xuất gia.

[192]       Tủ rất lớn có từ 4 đến 6 chân, màu đỏ, gọi là karahitsu, dùng để quần áo hay đồ vật.

[193]       Tuy là một truyện tiêu cực nhưng dụng tâm Kenkô không nhằm nói xấu gia đ́nh chủ cũ mà chỉ muốn bày tỏ tinh thần kiệm ước và phục cổ của ḿnh.

[194]       Xưa nay vẫn tin rằng đó là Minamoto no Masazane (Nguyên, Nhă Thực,1059-1127). Thuyết mới cho rằng chính là Minamoto no Michimitsu (Nguyên, Thông Quang, 1187-1248) cũng làm Tướng Quốc nhưng về sau. Để phân biệt với Masazane (Koga trước), Michimitsu được gọi là Nochi no Koga (Koga sau). Thơ Michimitsu có 49 bài được đưa vào các tuyển tập.

[195]       Thanh Lương Điện, nơi thiên hoàng đọc công văn, nghe tấu sớ.

[196]       Nguyên văn Tonomozukasa, một trong 12 ty quản lư hậu cung, lo việc đèn đóm, củi lửa, nước nôi.

[197]       Nguyên tác Magari. Các nhà chú giải đều bối rối trước cái chữ khó này. Họ phỏng đoán là bát bằng gỗ hay một loại chén bát thích hợp với hoàn cảnh lúc đó hơn. C.G. c̣n đi xa hơn, ông cho rằng đây là một cái bát sắt (écuelle de fer) hay gáo, môi (louche) để giữ nước cho mát. Nhân là ở Nhật, nơi các đền thần, người ta hay dùng gáo gỗ uống nước và cũng v́ Kenkô có thể viết đoạn này để so sánh sự khiêm cung, thanh đạm của Tướng Quốc Koga so với cái xa xỉ của Tướng Quốc Horikawa trong đoạn trước nên kiểu dịch “gáo gỗ” này xem ra không vô lư lắm.

[198]       Nguyên văn Nakatsukasa-shô, cơ quan bên cạnh thiên hoàng phụ trách sắc chiếu, tuyên chỉ, nhận tấu sơ và giám tu quốc sử. Trung Quốc gọi là Trung Thư Tỉnh, Phượng Các.

[199]       Tử Th́n (Thần) Điện nơi triều hạ, nghi lễ.

[200]       Nakahara Yasutsuna (Trung Nguyên, Khang Cương, 1289 -1339)

[201]       Xem chú về áo chàng kazuki ở đọan 70. Tuy nhiên trong trường hợp này, mọi sự tự nhiên hơn.

[202]       Đoạn này có mục đích ca tụng tài ứng phó của các viên chức hành chánh, ra tay cứu nguy một đồng liêu đang gặp khó khăn mà không làm mất danh dự gia đ́nh vị đại thần nhậm chức.

[203]       Tức Minamoto no Mitsutada (Nguyên, Quang Trung), sẽ c̣n xuất hiện ở đoạn 136. Có làm chức In no Dainagon, chuyên đàn hặc những lỗi lầm các quan lại, và mất khoảng năm1332, thọ 48 tuổi. Không nghe nói đến việc xuất gia của ông.

[204]       Xem chú đoạn 19.

[205]       Xem chú đoạn 83.

[206]       Matsugorô Onoko. Gọi một người Onoko là xem họ như phận dưới nhưng cũng tỏ t́nh thân ái.

[207]       Một nhân vật thuộc ḍng họ Konoe, một đại thần cấp bậc cao nhưng không nói rơ là ai: Iehira (Gia B́nh, đoạn 66), Tsunetada (Kinh Trung, 1302-1352) hay Tsunehira (Kinh B́nh, 1287-1318).

[208]       Geki (ngoại kư), chức quan trông coi (kiểm soát, điều hành) nghi thức và kư lục.

[209]       Cung điện nằm trong khuôn viên ngôi chùa cùng tên, là nơi thái thượng hoàng Go-Uda về ẩn tu nhưng vẫn giật dây chính trị cho nên nơi đây quần thần vẫn hay tụ họp để hoặc bàn bạc hoặc làm thơ tiêu khiển.

[210]       Đă xuất hiện ở đoạn 12. Tên là Tanba Tadamori (Đan Ba, Trung Thủ), trưởng quan phụ trách y dược trong cung, nhà thơ có thơ được tuyển vào các tập sắc chiếu, cũng là nhà nghiên cứu cổ văn. Ông gốc người di dân đến từ Trung Quốc.

[211]       Đă xuất hiện ở đoạn 24. Tên là Nijô Kin.akira (Nhị Điều, Công Minh, 1282-1336), cũng là một nhà thơ nhưng trong đoạn này, chứng tỏ ḿnh kỳ thị người di trú và không có hồn thơ cho lắm.

[212]       Xưa kia, quyền thần Taira no Tadamori (B́nh, Trung Thịnh) xuất thân ở Ise nên đă bị gọi Ise-heiji (b́nh đất Ise) rồi. Ngoài lư do Heiji là cách đọc chữ Hán của B́nh thị (họ Taira), c̣n v́ tướng mạo ông không đẹp, giống như lọ đựng giấm. Kara có nghĩa là Trung Quốc, nước ngoài, hay rỗng, cạn. Chữ Kara-heiji c̣n nghe na ná như Kara-ishi (y sĩ người Tàu) nữa. Ngoài việc hai người giống nhau v́ có cùng một cái tên (Tadamori), có thuyết cho rằng h́nh dáng ông y sĩ Tadamori ở đây cũng thô kệch giống b́nh rượu.

[213]       Hơi văn và chữ dùng gần với câu mở đầu trong chương Hanachiru sato (Làng hoa rụng) trong Truyện Genji.

 

[214]       Kể từ đoạn 44 mới thấy lại một đoạn có cái không khí của cuộc sống cung đ́nh. Người đàn ông đến thăm có phải chính Kenkô hay sao mà ta có cảm tưởng đang theo bước chân ông vào căn nhà ấy. Đoạn 104 này có thể kết hợp đọc với các đoạn 26 và 105.

[215]       Trùng hợp với phong cách của người đàn bà trong đoạn 32.

[216]       Có hương vị và chi tiết trong chương 50 nhan đề Azumaya (Mái đông) của Truyện Genji.

[217]       Có nhiều thuyết nói về ai là người sẽ ngủ ngon. Bọn thị nữ? Bọn tùy tùng? Cô chủ và chàng trai?

[218]       Không khí nồng nàn và ướt át đă hội đủ cho cuộc tái ngộ.

[219]       Cách tả cảnh gà gáy sáng chịu ảnh hưởng chương 2 Hahakigi (Cây kim tước chi) trong Truyện Genji.

[220]       T́nh yêu vĩnh cửu với nàng, kỷ niệm một đêm hay cả hai?

[221]       Quế là loại cây to, cao đến 20 hay 30 mét, chứng tỏ chàng nh́n theo rất lâu. Cành quế cũng thấy trong chương 11 Hanachiru sato (Làng hoa rụng) của Truyện Genji.

[222]       Giống như thơ Sugawara no Michizane (845-903) lúc bị đi đày: Kimi ga sumu / yado no kozue wo / yuku yuku to / kakururu made mo / kaeri mishi haya. Ngọn cây nhà em ở đâu. Bước đi một bước ngoái đầu ta trông. Kimi có hai nghĩa (vua hay người yêu). Chương 31 Makibashira (Cây trụ xinh) cũng có lời thơ với ư tương tự.

[223]       Bạch Thị Văn Tập, bài Dữu Lâu Vọng Hiểu (Trên lầu của Dữu Tín ngắm trời sáng) có câu: Tử thành ẩn xứ do tàn tuyết. Bởi v́ “tử thành” có nghĩa là “phía bắc” nên đúng với ư đoạn này. Phía bắc không có mặt trời nên có cái đẹp tịch mịch thê lương. Trong Truyện Genji, chương Wakana Jô (Rau Non, phần thượng) cũng có tả lại cảnh vợ chồng Genji -Murasaki no Ue nói chuyện với nhau và câu thơ trên được nhắc đến để nói lên tâm trạng của Genji lúc ấy. Có lẽ thời điểm vào giữa hoặc cuối tháng hai. 

[224]       Xe của quí tộc sử dụng, đi chậm chạp cho trang trọng.

[225]       D.K. cho rằng từ kabushi katachi dùng ở đây c̣n là đề tài của nhiều tranh căi. D.K. và C.G. đều dịch theo cái nghĩa “Người đàn bà đầu nghiêng nghiêng về phía người đàn ông trông thật khả ái” và “hương thơm toát ra từ áo xống của nàng” chứ không nói về cả hai người. Chúng tôi dịch theo ư của S.M.

[226]       Quí tộc ngày xưa bất luận nam nữ hay xông hương áo xống.

[227]       Đoạn này như một khung cảnh được miêu tả trong văn học vương triều, tŕnh bày cái đẹp cao nhă trong cảnh lạnh lẽo thê lương, theo chủ trương thẩm mỹ của Kenkô.

[228]       Nhân vật chưa rơ là ai.

[229]       Cao Dă Sơn, gần Kyôto, ngọn núi danh tiếng của Phật giáo Nhật Bản, có chùa Kongôbuji (Kim Cương Phong Tự) của phái Shingon do đại sư Kuukai (Không Hải) thiết lập.

[230]       Nguyên tác: phi tu phi học.

[231]       Hy vọng Kenkô chỉ có ư châm biếm chứ không thái độ thành thực kính trọng ông Shôkuu lỗ măng này như đối với cao tăng Hônen trong đoạn 39. Tuy nhiên S.M. bảo ngược rằng không thiếu ǵ thuyết cho là Kenkô thực bụng khen ông Shôkuu (có lẽ thế, nếu dựa vào quan điểm thiên trọng nam giới của ông trong đoạn 107, N.N.T.).

[232]       Thiên hoàng đời thứ 90 (trị v́ 1259-1274) tức là trước khi Kenkô ra đời. Sau khi thoái vị làm thái thượng hoàng cho đến lúc mất (1305).

[233]       Tiếng cuốc kêu báo mùa hè. Thời vương triều, khi nói ḿnh nghe tiếng cuốc kêu đầu tiên (hatsune) trước cả mọi người là để tỏ ra tự đắc về ḿnh.

[234]       Ông Minamoto no (chi Horikawa) Tomomori này (1249-1316)  cũng hóm hĩnh trả lời. V́ Iwa, hai âm đầu địa danh Iwakura c̣n có nghĩa là “không nói” (C.G.). Dù sao, Iwakura c̣n là tên một vùng núi non thanh u, nơi ông có sơn trang, địa điểm thích hợp để nghe cuốc kêu (S.M.).

[235]       Có lẽ muốn nói về Kujô Moronori (Cữu Điều, Sư Giáo), làm nhiếp chính, quan bạch, mất năm 1320, thọ khoảng 45 tuổi. Có thuyết cho là Tadanori (Trung Giáo), cha ông ta.

[236]       Hay An Hỉ Môn Viện, con gái nhà Fujiwara, tên là Yuushi (Hữu Tử), hoàng hậu của Thiên Hoàng Go-Horikawa. Mất năm 1286 lúc 80 tuổi. Bà vai chị của bà nội Moronori.

[237]       Tôin (Saionji) Saneo (Động Viện (Tây Viên Tự) Thực Hùng) làm Tả Đại Thần năm 1261, mất năm 12173). Yamanashi là tên phủ đệ.

[238]       Tuy trong sách vở Nho, Phật, giá trị người đàn bà thường bị phủ nhận nhưng ôi chao, những ḍng “buộc tội đanh thép” này của Kenkô thật vượt quá sức tưởng tượng nên thấy hơi buồn cười. Tương phản rơ ràng với những đoạn khác mà ông đă rất tinh tế khi nói đến đàn bà và t́nh yêu. Ư kiến về phụ nữ trong đoạn này của ông sẽ được bổ túc với đoạn 190.

[239]       Nguyên tác: nhất thốn quang âm. Sách Shôhô genzô zuimonki (Chính pháp nhăn tàng tùy văn kư) có viết: “Người học đạo, phải biết tiếc quang âm”. Hiền nhân Trung Quốc cũng từng nói:”Nhất thốn quang âm, nhất thốn kim.”

[240]       Tạ Linh Vận là văn nhân (sinh 385- mất 433) Trung Quốc đời Lục Triều, nổi tiếng về thơ sơn thủy. Sinh trong gia đ́nh quí tộc họ Tạ triều Đông Tấn, tước Khang Lạc Công. Đông Tấn mất, làm thái thú Vĩnh Gia nhà Tống nhưng sau bất măn, bỏ đi chu du. Môn hạ rất đông. V́ triều đ́nh nghi ông có chí mưu phản nên bắt giết.

[241]       Tạ Linh Vận có liên quan đến việc hiệu đính kinh Niết Bàn nhưng không nghe nói ǵ về kinh Pháp Hoa.

[242]       Nguyên tác “tư phong vân” có thể vừa hiểu là có tham vọng chính trị vừa hiểu là thích rong chơi giữa thiên nhiên.

[243]       Huệ Viễn (334-416), cao tăng thời Đông Tấn.Thủy tổ Tịnh Độ Tông Trung Quốc.

[244]       Nhóm đồng đạo vài trăm người của tăng Huệ Viễn ở chùa Đông Lâm núi Lô Sơn, chuyên tu tập theo lối niệm Phật để được văng sinh. Hai bên đông tây Phật đường có hồ sen trắng nên tên của nhóm là Bạch Liên Xă.

[245]       Có lối dịch “bỏ việc đời để chuyên lo tu niệm”. Chúng tôi theo S.M., người đă dịch từ “chỉ” (ngừng lại) , tu” (dốc ḷng) trong nguyên văn của Kenkô theo lối b́nh giảng của tăng Mujuu (Vô Trú): “chỉ ác tu thiện…thoát ṿng sinh tử, gần với đạo của Bồ Tát”.  

[246]       Kenkô lại ca tụng những người lành nghề. Đây có lẽ là một “đ́nh sư” chuyên môn trông coi việc làm vườn.

[247]       Ví dụ câu nói trong Kinh Dịch, thiên Hệ Từ: Quân tử, an nhi bất vong nguy, tồn nhi bất vong vong, trị nhi bất vong loạn, thị dĩ thân an nhi quốc gia khả bảo dă” (Người quân tử lúc yên ổn không quên sự nguy hiểm (có thể xảy ra)”vv...

[248]       Cầu làm bằng da hươu. Tṛ chơi của quí tộc. Do tám người đá trên một sân h́nh vuông có trồng bốn loại cây anh đào, liễu, phong, tùng.

[249]       Sugoroku hay suguroku, tṛ chơi truyền từ Trung Quốc vào Nhật đă lâu, có lẽ vào thời Nara (710-784). Chữ Hán viết là song lục nhưng không giống hẳn tṛ mang tên đó ngày nay. Tṛ này có hai người chơi, mỗi bên có 12 quân (6 x 2) bằng gỗ hay tre, bên đen bên trắng, sử dụng c̣n tḥ ḷ sáu mặt để tiến quân, chiếm được nhiều ô th́ thắng.

[250]       Nếu đoạn 109 nói về việc leo cây, Ken kô chủ trương không nên lơi là v́ thất bại thường đến lúc lơ đểnh, đoạn 110 này, ông đánh giá tính nhẫn nại như ch́a khóa của thành công.

 

Xem tiếp :  Phần III: Đoạn 111 đến 182

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com