HAKU RAKUTEN

(Bạch Lạc Thiên)

Nguyên tác: Vô Danh

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

神々と人々の絆(9):「白楽天」と神国 - Humanoid K's diary

Chư thần đuổi Bạch Lạc Thiên (tranh b́nh phong) 

Đặc trưng: 

Lớp:

Vở tuồng Nô này thuộc loại số 1 hay sơ ban (Shobanme), diễn trước tiên trong 5 lớp tuồng cần phải có cho mỗi buổi diễn. Nó tương đương với lớp Thần trong thứ tự Thần, Nam, Nữ, Cuồng, Quỷ. Cùng thể loại với các tuồng nổi tiếng như Okina (Ông lăo), Takasago (Cây tùng Takasago), Chikubu-shima (Trúc Sinh Đảo) hay Arashiyama (Lam Sơn) vv....

Tác giả:

Không rơ tác giả của vở là ai. Có thuyết cho rằng Zeami Motokiyo là người viết nguyên tác, sau đó đă được Kanze Kojirô Nobumitsu cải biên.

Địa điểm và thời điểm:

Địa điểm của lớp trước là băi biển nước cạn lùi ra măi xa (kata) có tên là Matsuura (Tùng Phố) ở vùng Hizen (Ph́ Tiền) trên đảo Kyuushuu (vùng Hizen gồm một phần của tỉnh Saga và tỉnh Nagasaki ngày nay), thời gian là khoảng từ sáng đến xế chiều của một ngày nào đó. Lớp thứ hai cũng được diễn ra ở cùng một địa điểm nhưng thời gian lại là từ lúc chiều tối cho đến nửa đêm.

Nhân vật:

Gồm các vai sau đây:

-Maejite: Ngư ông. Hóa thân của thần Sumiyoshi. (tức Suminoe no kami)  (Trang phục: Áo bằng tơ sống thô sơ của dân đánh cá, có mô típ h́nh mắt cáo dày).

-Atojite: Hồn thiêng của thần Sumiyoshi nói trên, người được xem như vị thần bảo vệ đường biển và cũng là ông thần của thi ca. Đền gốc của thần (đại xă) vốn nằm ở Ôsaka nhưng mỗi địa phương đều có một ngôi đền nhỏ, gọi là mạt xă nơi thờ một vị thần sở tại. (Vai này đội măo đàn ông trẻ nhưng mang mặt nạ nhăn nheo của người già, mặc áo trắng, tay thụng, ống rộng)

Maezure: Trai chài (Mặt mộc, áo không có trang trí mô h́nh)

Waki: Haku Rakuten ( Bạch Lạc Thiên) (Măo quan chức đi Đường, mặc áo trắng và có thêm áo chẽn khoác ngoài)

Wakizure: Hai bộ hạ tháp tùng Bạch Lạc Thiên (Mũ đen, ngoài ra ăn mặc giống chủ)

Ai: Thần của đền sở tại (mạt xă). (Có khăn bt đầu. Mang mặt nạ có râu. Ăn mặc kiểu dân chài nhưng bên dưới có quần váy (hakama). 

Kỹ thuật: 

Có sử dụng trống đại.

Bốn lưu phái Kanze, Konparu, Kongô và Kita đều diễn. 

Lược truyện: 

Nhà thơ đi Đường là Bạch Lạc Thiên (Haku Rakuten) tức Bạch Cư Dị (Haku Kyo’i, 772-846), thừa lệnh hoàng đếớc ấy, muốn ḍ xem sự hiểu biết của của người Nhật đến đâu bèn vượt biển và đổ bộ lên băi Matsuura thuộc đảo Chikushi (tên cũ của Kyuushuu) vào một buổi sáng đẹp trời. Họ Bạch gặp được một ngư ông cùng với gă trai chài đang rong chiếc thuyền con đi kiếm cá. Đoán biết mục đích của họ Bạch và đánh giá ông là “một tên ngoại quốc lắm điu”, ông câu không thèm đếm xỉa, tiếp tục câu cá. Họ Bạch bèn ghé thuyền sát lại gần, những mong trao đi thơ văn. Nh́n cảnh sắc trước mặt, họ Bạch ngâm hai câu thơ chữ Hán của ḿnh th́ ông câu đă đc lên hai câu thơ Waka để phản biện nội dung của nó. Họ Bạch kinh ngạc hỏi ông câu có thực sự là một người làm nghề đánh cá hay không th́ ông ta đc thêm hai câu thơ Waka khác thay câu trả lời. Lúc ấy họ Bạch mới bắt đầu hiểu ra là đt nước ông vừa tới cũng có phong tục, văn hóa riêng của họ. Sau đó, ngư ông mới cho họ Bạch biết sắp tới ḿnh sẽ có một lớp tŕnh diễn ca vũ rồi biến mất. Trong phần Nakairi chen vào giữa hai màn, vị thần của ngôi đền nhỏ ở đa phương đóng vai chuyn đoạn (vai Ai) đă lên sân khấu, nhắc lại câu chuyện vừa mới xảy ra rồi vừa ca vừa múa. Qua màn sau, giữa lớp sóng nơi có h́nh ảnh rặng núi soi bóng xuống mặt biển xanh lại thấy ông thần gốc tức  Sumiyoshi Myôjin hiện ra, trang trọng múa vũ khúc Hải Thanh Lạc海青楽, tuyên bố rằng cho đến khi ḿnh mất hết thần lực, Nhật Bản sẽ không bao giờ chịu phục tùng ai và thôi thúc Bạch Lạc Thiên hăy mau mau vềớc. Thoắt cái, các vị thần khác của đt nước Nhật Bản như chư thn các đn Ise, đn Iwashimizu ...và Bát Đi Long Vương ln lượt xuất hiện, cùng múa lên, thế rồi họ đă cùng nhau phất tay áo để nổi lên một trận gió thần (Thần phong) thổi Bạch Lạc Thiên về tít bên Đường thổ (Trung Quốc). 

Chủ đề: 

Dù chưa ai t́m ra nguồn gốc của điển cố nói về việc Bạch Lạc Thiên tranh tài với thần thơ Waka của Nhật Bản đ xem thơ phú Trung Quốc và Waka Nhật Bản ai trội hơn ai nhưng các lời chú thích Kokin Wakashuu (Cổ Kim Ḥa Ca Tập) hay các tập chú giải khác về thơ Waka thời trung cổ đă dựa vào câu chuyện tranh tài trên băi biển Chikushi (Kyuushuu) này để ca tụng tính ưu việt của thơ Waka. Riêng vic so sánh Hán thi và thơ Waka chính ra có chép trong Kôtanshô (Giang đàm sao) tức truyện kư do học giả Ôe no Masafusa (Đại Giang Khuông Pḥng, 1041-1111) kể lại. Trong đó, nhân vt đại diện cho trưng thơ chữ Hán không phải Bạch Lạc Thiên mà là một nhà thơ người Nhật không nổi tiếng cho lắm là Miyako no Arinaka (Đô, Ti Trung), tương truyền đă có lần vịnh thơ ở với các văn nhân Trung Quốc ở cảng Minh châu bên xứ ấy. C̣n như nhng câu thơ chữ Hán trong vở tuồng này được Zeami dẫn ra (nếu thực sự ông là soạn giả), chỉ có thể là thơ mô phỏng những ǵ Bạch Lạc Thiên vịnh cảnh sắc bến Tầm Dương ở quê hương.

Ngoài ra cũng có thể là lúc tác phẩm ra đi (năm Ôei hay Ứng Vĩnh thứ 16 tức 1419), nước Nhật đang đng trước một hiểm họa ngoại xâm nên soạn giả mới đem mối lo này chuyển thành một đ tài văn học. Chúng ta biết rằng lúc đó, s đe dọa của nhà Minh rất bức bách đến nổi một vị Shôgun lỗi lạc của Mạc phủ Muromachi là Yoshimitsu (Nghĩa Măn, 1358-1408) mà cũng phải khúm núm, xưng thần với Minh triều, việc mà người Nhật đến nay c̣n xem là quốc nhục. 

Vào tuồng: 

Lớp đầu: 

Giữa tiếng trống con và tiếng tiêu để mở màn, vai Waki (Bạch Lạc Thiên) và hai Wakizure (tùy tùng) bước vào sân khấu. Waki vào đến giữa sân khấu trong khi wakizure chỉ đứng ở mé ngoài cây cầu treo (hashikake) trên đường vào.

-Waki xưng danh (nanori):

Như ta đây vốn giữ chức Thái tử tân khách[1] trong triu hoàng đế nhà Đường, tên là Bạch Lạc Thiên. Nay ta vâng theo chiếu chỉ, đáp thuyền, chèo gấp rút về Đông, đổ bộ lên cái nước gọi là chỗ mặt trời mọc (Nhật Bản) để thử xem dân trí chúng nó có đưc bao lăm. Ta vừa theo đường biển đến đưc nơi đây.

-Nhạc Shidai. (Waki và Wakizure đâu mặt vào nhau từ từ hát đối):

Chèo thuyền đến Nhật, chèo thuyền đến Nhật. Đ xem nưc đó ra sao.

-Ageuta (Waki và Wakizure cùng cao giọng): 

Thuyền ta ra Đông hải, xa xôi và sóng gió. Thuyền ta ra Đông hi, xa xôi và sóng gió. Đng sau lưng, ánh trời chiều sắp khuất nhuộm lên bao dải mây đẹp (tựa những lá cờ đuôi nheo phấp phới), chẳng khác nào mấy cánh tay đang vẫy giữa từng không. Trăng sắp mọc và lần đầu tiên bóng núi hiện ra. Chúng ta đă đến đất Nhật rồi. Chúng ta đến đất Nhật rồi.

-Waki (nh́n ra phía khán giả, xác nhận ḿnh đă đến nơi) Nhờ chèo nhanh qua biển nên nay ta đă đến nơi. Nước Nhật là đây rồi. Hăy tạm buông neo,  thử nh́n phong cảnh bốn bên.

-Waki về chỗ ngồi của vai Waki trong khi Wakizure đến ngồi đng trước chỗ của ban hợp xướng. Tsure của ông đến đứng ở chỗ Cây tùng thứ nhất (Ichi no matsu) th́ Shite (tức Maejite) ra đứng ở chỗ Cây tùng thứ ba (San no matsu).

Họ nh́n nhau và hát Issei (nhất thanh, thể 5,7 chữ như thơ) đ mào đu cho động tác. Shite (tức ông câu) bắt đầu hát:

ớc hồ như biển mênh mang. Một màu biêng biếc tiếp ngang chân trời

-Shitezure (anh trai chài) hát tiếp:

Giă từớc Việt, Phạm Lăi chèo một chiếc thuyền con trên khói sóng Ngũ Hồ. Cảnh biển này xui nhớ lại câu chuyện đầy cảm khái xảy ra trên sóng nưc ngày xưa!

-Sageuta (hát với giọng trầm và theo nhịp phách) trong khi vẫn nh́n nhau. Shite (ngư ông) và Shitezure (trai chài): Băi cạn Matsuura này, bờ Tây không núi chắn nên trông sáng sủa.

-Ageuta (hai người Maejite và Shitezure hát cao giọng): Trăng sắp lặn rồi nhưng mây vẫn bồng bềnh trên lớp sóng ngoài khơi. Mây vẫn bồng bềnh trên lớp sóng ngoài khơi. Mây và sóng cứ thế bên nhau suốt một đêm dài. Ta nghe nói có con thuyền từ Đường thổ nằm cách đây không xa mấy, chắc vừa đu qua đêm. Có l con trăng về sáng sắp mất dạng rồi. Con trăng về sáng sắp mất dạng rồi.

-Hát kiểu Mondo (Vấn đáp). Waki (tức Bạch Lạc Thiên) đứng dậy, nh́n thẳng về phía khán giả:

Chúng ta đă coi thường sóng gió. Vừa đây đă đến được Nhật Bản.(ớng về Shite): Nh́n th́ thấy có một chiếc thuyền con của người đánh cá đang trôi. Ngư ông kia có phi là người Nhật hay không nhỉ?

-Shite (nói với Waki) Ông à! Đây là một chiếc thuyền câu của người Nhật đấy. C̣n ngài có phải là Bạch Lạc Thiên không nhỉ?

-Hát kiểu Kakeai (thảo luận). Waki (nói với Shite):

Thật là lạ lùng khi thấy Bạch Lạc Thiên lần đu ghé qua nưc tôi. Ngài đến đây để làm chi vậy?

-Shitezure (nói với Waki):

Tuy ngài là ngưi Hán nhưng tên tui (văn danh) đă sớm qua đến tận đây, ở Nhật ai ai cũng biết. Xin đừng dấu diếm!

-Waki: Cho dù tên tuổi đă đến nơi nhưng chưa có th nói là các ông đă biết hết về tôi.

-Shite: Ai ở Nhật Bản này khi nh́n vềớng Tây bên kia lớp sóng mà chẳng biết là Bạch Lạc Thiên đă nhận lệnh hoàng đế sang đây thăm ḍ đ xem dân trí chúng tôi có được bao nhiêu!

-Ageuta (Shite hát Jiuta hát với giọng cao):

Giờ đây con thuyền chúng tôi chờ đợi (matsu) trên băi Matsuura (Matsuurabune) đă hiện ra ở trùng khơi, không thèm che dấu. Chẳng c̣n  ngờ chi nữa, đó là một con thuyền Đường thổ (Morokoshibune) và trên đó có một anh chàng ngoại quốc (Đường nhân, Karabito) tên Bạch Lạc Thiên. (Nh́n tránh qua một bên). Nếu là ngưi nước ngoài th́ tiếng nói khó khăn, ta có nghe cũng không hiểu nổi. (Tiến về chỗ ngồi thường dành cho ḿnh). Không chừng ta lại bị bắt buộc dây dưa vào những việc rắc rối mất thời giờ giống như việc sửa cần câu và gỡ dây câu (cùng lúc làm bộ cầm lấy cần câu, gỡ dây câu cho thẳng và buông dây xuống trước mặt Waki)

-Theo lối Mondo (Vấn đáp), Waki (tức Bạch Lạc Thiên) nói với Shite (ngư ông):

Hăy ghé thuyền sát bên tôi v́ tôi có điều muốn hỏi. (Shite bèn cầm cần câu về chỗ ngồi của ḿnh và đổi lấy nó bằng một lá quạt rồi đứng dậy trong khi Tsure tức anh bạn chài của ông ngồi xuống) Dạo này, ở Nhật Bản, các ông có tṛ ǵ để tiêu khiển không hở ông?

-Shite (tức Ngư ông) hi ngược: Thế th́ bên nhà Đường, các ông tiêu khiển bằng tṛ ǵ?

-Waki đáp: Bên nhà Đường, bọn tôi làm thơ (Hán thi) để mua vui.

Shite bảo: Ở đây, chúng tôi có Waka (Ḥa ca) để an ủi ḷng ḿnh.

-Waki hỏi: Waka ở đâu mà ra vậy?

-Shite đáp: Bên Thiên Trúc (n đ) có linh văn (thần chú), c̣n Đường thổ (Trung quốc) thời có thi phú. Thi phú truyền từ bên ông sang nưc tôi đă trở thành thi ca (Uta) của triều đ́nh, chứa đng được cái Ḥa của ba nưc (chúng ta). Thơ nói lên đức Ḥa to lớn (Đại Ḥa) ấy nên c̣n được gọi là Đại Ḥa Ca (Yamato no Uta, bài ca của nưc Yamato). Ông đă thừa biết là thế, cớ sao c̣n vờ hỏi để ḍ xét tôi?

-Waki bèn nói: Không, không. Tôi nào dám có ư ấy. Thật ra nh́n cảnh vật trước mặt, tôi có làm hai câu thơ: “Thanh đài như y huyền nham kiên青苔如衣懸巖肩. Bạch vân tự đới, vi sơn yêu白雲似帯為山腰 (Rêu xanh phủ lên ghềnh đá như choàng tấm áo lên vai nó. Mây trắng giống dải lưng bao chung quanh eo núi vy)[2].

Xin hỏi ông câu có tâm đắc với hai câu thơ ấy không?

-Shite nói: Rêu xanh tuy phủ lên ghềnh đá nhưng làm ǵ giống như tấm áo hở ông. (Rồi nh́n về đng trước mặt) C̣n núi đă không mặc áo sao lấy mây trắng làm dải thắt lưng cho được. (Nói với Waki) Thật là buồn cưi. Trong thơ Waka của Nhật từng có câu nói lên cái ư (phản biện, NNT) đó: Kokegoromo /kitaru iwao wa / sa mo nakute / kinukinu yama no /obi wo su ru kana (Rêu phủ lên ghềnh đâu phải áo / Núi trần nào có thắt lưng mây).

Theo lối Kakeai (thảo luận tức hát đi đáp theo nhịp phách), Waki (nói với Shite): Ta thật lấy làm lạ. Ông câu vốn thân phận nghèo hèn nhưng coi bộ rành rẽ về thi ca đấy chứ. Chẳng hiểu ông thuộc hạng người nào?

-Shite (nói với Waki) : Tôi không phải là ngưi đáng cho ai để ư tới. Thế nhưng theo tôi, không chỉ có con người mới biết ca vịnh. Đă là sinh vật th́ loài nào cũng có thể phát ra tiếng thơ c.[3]

-Waki: Mọi sinh vật, theo ông, có nghĩa là cả chim chóc, súc vật ư?

-Shite: Vâng, đi tượng của Waka là như vậy.

-Waki: Trong Waka th́...

-Shite: Có nhiều chứng cứ về chuyện ấy lắm ông ạ.

-Ban hợp xướng hát Ageuta (Jiuta, với giọng cao và tất cả nh́n ra đng trước) Chim oanh hót trưc đóa hoa, con ếch kêu khi đến bên ḍng nưc. Đó là đề tài ca vịnh của một xứ sở Nhật Bản mà ngưi Đường thổ không biết tới. Xin ông hăy thử vịnh bằng Yamato uta (Đại Ḥa ca) như cách ca người Nhật chúng tôi xem (Ngồi vào chỗ và rủ áo xuống).

-Theo lối Kuse (hát theo nhịp phách). Shite vẫn ngồi nguyên chỗ và hát một khúc jiuta dùng để múa): Bằng chứng của việc chim oanh biết ca vịnh th́ ngày xưa đă xảy ra ở chùa Takama thời Nữ Thiên hoàng Hiếu Khiêm (Kôken, trị v́ 749-758). Nhân một năm có giỗ chạp định kỳ (shikinen), vào một ngày xuân, ngưi ta đă nghe tiếng chim oanh hót ngoài hiên vọng lại, giống như câu: “Sơ dương mỗi triêu lai初陽毎朝来. Bất tương hoàn bản thê”不相還本栖(Mỗi sáng đu xuân chim đều quay về. Nhưng nào có th đậu lại nơi cành cũ). Nó đă trở thành một bài ca vịnh với 31 âm Nhật là Hatsuharu no / ashitagoto ni wa / kitaredomo / awadezo kaeru / moto no sumika to kikoetsuru. Sau chim oanh đến lượt các loại điu thú khác và con người. Tất cả mọi sinh vật không chừa giống nào đu có làm thơ và số thơ ấy vốn nhiều vô số như cát trên bờ biển.[4]

-Theo lối Rongi (nghị luận). Shite ngồi nguyên một chỗ và hát Jiuta: Phàm việc làm thơ Waka là phong tc lâu đời của đt nước Nhật Bản(Ḥa quốc). Bộ phận chính yếu của nó là những bài ca (uta) của người đi biển (amabito), chúng không giống thơ các dân tộc khác. Vịnh Waka và ca vũ là những ǵ ngưi nước chúng tôi yêu thích. Trên mặt biển này, việc thủ những vai tṛ ca vũ, ngoài những ngưi đi bin, ông nghĩ mà coi, (hướng về Waki) nào có ai khác? Loại ca vũ ấy lấy tiếng sóng làm điệu trống, lấy giọng rồng ngâm làm tiếng tiêu (đứng dậy) và ngưi đứng múa trên ngọn sóng là tôi đây. Vậy th́ trên lớp sóng xanh (aoumi, thương hải) này, tôi xin múa một điệu Hải Thanh Lạc (海青楽) Kaiseiraku = Vui giữa biển xanh) [5]

Ei (ngâm thơ) (Shite nh́n thẳng ra trước, vừa múa vừa ngâm nga theo lối rôei hay lăng vịnh): Đt nưc có cánh đng lau (Ashiwara no kuni)[6] cho đến muôn đời (vạn đại) không hề suy suyển. 

Đến Nakairi (chỗ nghỉ giữa hai màn): 

-Nhân vật Ai bước vào sân khấu, xưng danh (nanori) và bt đu nói (shaberi)[7]: Như ta đây là là thần một mạt xă (đền thần nhỏ) vốn phụng sự tôn thần Sumiyoshi Myôjin. Nhân ta nghe nói có một gă tên gọi Bạch Lạc Thiên mới từ Đường thổ tới đây. H́nh như hắn muốn ḍ xét xem trí tuệ của người Nhật tŕnh độ cỡ nào[8] nên mi vượt sóng và cập bến ở băi biển này. Ngài Myôjin biết đây là một chuyện rất quan trọng cho đt nước nên mới giả dạng ông câu quê mùa cưỡi một chiếc thuyền con, hướng về con thuyền lớn đang chở Bạch Lạc Thiên. Khi họ Bạch hỏi thăm ông là ai th́ ông cho biết ḿnh chỉ là một ngư ông tm thưng, sau đó họ Bạch lại hỏi người Nhật các ông thích chơi tṛ ǵ để giải buồn, thần bèn trả lời là nưc này thường lấy việc ngâm vịnh (thơ Waka) làm vui và hỏi lại bên Đường thổ th́ sao? Họ Bạch cho biết nước ḿnh có Thi (Hán thi) để tiêu khiển. Thấy ông câu có vẻ nghèo hèn, họ Bạch bèn đưa ra hai câu thơ ch Hán (Thanh đài như y huyền nham kiên. Bạch vân tự đi vi sơn yêu) và hỏi ông câu thấy hai câu ấy thế nào. Vị thần nghe thế bèn đưa ra bài Waka có nội dung phản biện lại hai câu thơ kia (Làm ǵ có chuyện ghềnh mặc áo, núi thắt dải lưng). Bạch Lạc Thiên nghe qua, lấy làm kinh ngạc v́ thấy ởớc này, ngay một ông câu quê mùa c̣n có kiến thức như vậy. Thần bèn cho họ Bạch biết thêm rằng ở Nhật, việc làm thơ Waka đă nằm trong phong tục bản xứ. Không những con ngưi mà điu thú đều biết làm thơ (v́ Waka là một bộ phận của thiên nhiên, NNT). Nhật Bản có Waka cũng như ngưi Thiên Trúc (Tenjiku) có linh văn (reimon tức chân ngôn hay  thần chú, NNT) và ni Đường thổ (Tôdo) có thi phú (shifu) và nhân v́ muốn tập hợp cái Ḥa của ba nưc (Sangoku) nên thơ của họ gọi là Đại Ḥa Ca (Yamato no Uta). Vả lại chim oanh khi bay trở về cành mơ cũng cất tiếng hót, mà nghe như là “Sơ dương mỗi triêu lai. Bất tương hoàn bản thê”. Giống chuyện vết chân ếch để lại trên băi cũng có nội dung là một bài thơ.[9] Lại nghe rằng trong nước dải của trâu ḅ c̣n thấy có chép thơ[10] và theo lời nhà Phật th́ cỏ cây cũng có thể thành Phật, đă không thấy vững ḷng sao?

Trước những bài thơ dẫn chứng như thế, Bạch Lạc Thiên mới tỏ ra kinh sợ, không c̣n dám t́m cách ḍ xét về trí tuệ của người Nhật nữa, bèn xin phép vềớc ngay. Thế nhưng theo lời thần thác của ngài Sumiyoshi Myôjin th́ chuyện Bạch Lạc Thiên từ xa có ḷng lặn lội đến đây cũng là điu đáng thương, nên trước khi cho hắn về, ngài đă tặng cho hắn một bài thơ Waka. 

Hăy đặt tổ chim sẻ ở một góc đền Sumiyoshi

V́ nơi đây chim được sống yên ổn[11] 

Lớp sau: 

(Từ chỗ ra vào, Atojite tức thần Sumiyoshi Myôjin tiến và đứng ở cây tùng thứ nhất phía cầu treo)

(Atojite nh́n ra phía chính diện và hát kiểu Issei): Bóng núi in lên trên biển xanh.

(Tiến về giữa sân khấu):

-(Hợp xướng hát kiểu Jiuta):

Sóng như tiếng trống điệu Hải Thanh Lạc.

(Xong, Aojite trở về và đứng ở chỗ dành cho ḿnh).

Aojite bèn múa Jo no mai (điệu vũ chậm chạp trang nghiêm dành cho thần linh)

-Aojite lại mở quạt ra và ngâm thơ Waka:Từ giữa muôn ngọn sóng / Của bờ biển Tây[12] này.

-Hợp xướng: Thần Sumiyoshi xuất hiện. Thần Sumiyoshi của đất Sumiyoshi (Trú Cát, nghĩa là nơi có thể sinh sống yên lành, NNT).

-Aojite đi một ṿng nhỏ trên sân khấu: Đă hiện h́nh ra.

-Aojite hát: Sumiyoshi ...

-Hợp xướng: Sức mạnh của thần Sumiyoshi khiến thần linh trên đất Nhật đều phải tuân theo[13].

-Aojite đưa tay như chỉ mặt biển rồi trỏ vào ngực của Waki tức Bạch Lạc Thiên với ư muốn đuổi về, c̣n chân th́ dậm mạnh làm nhịp trên mặt sàn) Hăy mau mau làm nổi sóng trên băi biển này đ đui cho được Bạch Lạc Thiên.

-Hợp xướng (hát Jiuta với giọng Nakanori): Nếu thần Sumiyoshi xuất hiện, nếu thần Sumiyoshi xuất hiện (Aojite sau đó đi nhiều ṿng quanh sân khấu) th́ không những chư thn các đn như Ise, Iwashimizu, Kamo, Kasuga, Kashima, Mishima, Suo, Atsuta, Aki cũng sẽ có mặt mà cả công chúa thứ ba của Long vương Shakatsura[14] trên đảo Itsukushima cũng trồi lên mặt biển (đưa tay tr chung quanh) để múa vũ khúc Hải Thanh Lạc. Bát đi long vương cũng ḥa tấu bằng phưng bát âm[15], khoác y trang dùng trong thần sự, múa lượn trên mặt biển, (vung ống áo thụng về phía Waki) phất tay làm nổi dậy những trận gió cuốn và thần phong đ đui Đường thuyền (nh́n về xa) trở về Hán thổ (nh́n về trước mặt và nâng cả hai ống tay áo lên). Ghê gớm thay sức mạnh của chư thần và của nhà vua, ghê gớm thay sức của chư thần và của nhà vua. Đây là thi đại của chư thần và của quân vương, đt nước sẽ vững bền (đi một ṿng nhỏ ngay chỗ dành cho ḿnh) an thái, đt nước (nh́n hơi xéo v trước mặt), sẽ vững bền an thái măi măi[16] (thu hai ống tay áo trở lại).     

Kết thúc vở 

Dịch xong ngày 5/1/2022

Nhân ngày kỵ thứ 8 của anh Vĩnh Sính (1/1/2014)

 

................

Tham khảo:

Nguyên tác Nhật ngữ trong Dao Khúc Bách Ban (Yôkyoku Hyakuban), tác phẩm thu thập 100 vở tuồng Nô tiêu biểu.

Lời người dịch: 

Như đă tŕnh bày tuồng lớp 1 hay sơ ban (Shobanme) là loại tuồng mở màn để chào mừng quan khách và cầu cho quốc thái dân an. Do đó chúng có nội dung ca tụng đất nước, tán dương những phong cảnh đẹp nơi thần linh cư ngụ vốn tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, cũng như nói lên ḷng tự hào của những người dân được sống dưới sự che chở của thần linh.

Trước tiên hăy nh́n qua nội dung của 4 vở tuồng có thể gọi là tiêu biểu của tuồng loại “lăo thần” (rôjin-mono) này, sau đó sẽ so sánh với Haku Rakuten để thấy đâu là đặc điểm của vở sau.

1-Okina (Ông lăo) là một trong 3 tuồng được tuyển ra từ 66 vở tuồng truyền thống của Sarugaku (Viên nhạc) vừa để chúc mừng vừa để giải thích việc dùng mặt nạ trong tuồng Nô. Nội dung của nó nghèo nàn, chỉ có tính cách tẩy uế (harai) tức “rửa tội” trong lễ nghi Thần Đạo. Tương truyền người thủ vai Okina phải chay tịnh nhiều ngày trước khi lên sân khấu.

2-Takasago (Cây tùng Takasago) nói về một trong 2 cây tùng danh tiếng và có thần cách (tức thiêng liêng). Đó là cây tùng Takasago và cây tùng Suminoe, hai cây mọc ở hai nơi cách xa nhau nhưng thường được nhắc đến như là một cặp). Hai cây tùng ấy đă hóa thành ông bà già để giải thích về sự tích của ḿnh.Tùng là giống cây tượng trưng cho sức sống và sự nhẫn nại, sự bền bỉ cũng như ḷng chung thủy của những đôi trai gái phải sống chia ĺa nhưng nhất định sẽ có ngày gặp lại.

3-Chikubu-shima (Trúc Sinh Đảo) – vở thứ ba - nói về một ḥn đảo xuất hiện trên hồ Biwa sau một trận động đất lớn. Ḥn đảo có đền thờ của thần Benzaiten (Sarasvati), vị thần Ấn giáo tượng trưng cho âm nhạc, mỹ thuật và hùng biện, cũng là một vị thần hộ pháp của Phật giáo, đă được người Nhật nhiếp thu để trở thành một trong 7 vị thần phúc lộc của họ. Vở tuồng này ca tụng phong cảnh nên thơ và cuộc sống ḥa b́nh của dân cư vùng hồ Biwa, nơi từng có kinh đô vương triều Ômi của những thiên hoàng cổ đại. Tuy nhiên nội dung của vở này cũng đơn thuần, không có giá trị cao về mặt văn học.

4-Arashiyama (Núi Lam Sơn) -vở thứ tư – nói về vùng này, vốn là một phong cảnh hữu t́nh ở Kyôto, nơi nổi tiếng có hoa anh đào đẹp. Tuồng biểu hiện được t́nh yêu của người Nhật đối với hoa anh đào, loài hoa tiêu biểu cho mùa xuân cũng như cho tiết tháo của con người Nhật Bản. Giống nhiều vở Nô thuộc lớp 1, cốt truyện khá đơn giản, Tuy vậy, khán giả sẽ cảm thấy cặp mắt của họ được thỏa măn khi đứng trước khung cảnh xinh đẹp của ngàn hoa cũng như bầu không khí thanh thoát và ḥa b́nh mà vở tuồng đem lại. 

Chúng tôi chọn Haku Rakuten để đại diện cho các vở tuồng lớp 1 mà không chọn 4 vở tuồng nói trên bởi v́ bên cạnh tính cách chúc tụng, ca ngợi non sông gấm vóc, Haku Rakuten c̣n có nhiều ư nghĩa khác. Nó nói lên được tinh thần độc lập, dám đối đầu trước ngoại xâm của người Nhật. Bạch Lạc Thiên là một nhà thơ, một nhà văn hóa lớn của Trung Quốc và người Nhật thảy đều yêu mến. Ai cũng biết ảnh hưởng của ông đến tác giả và nội dung Truyện Genji cũng như thơ văn chữ Hán của văn học thời vương triều. Bạch Thi Văn Tập (Hakushi Monjuu) gọi tắt là Văn Tập hay Tập, cùng với Văn Tuyển (Monzen) của Chiêu Minh Thái Tử nhà Lương là hai bộ sách gối đầu giường của trí thức Nhật Bản suốt thời Trung đại. Qua vở tuồng trên đây, chúng ta thấy rằng dù rất biết ơn và kính nể những cống hiến của họ Bạch cho văn hóa nước ḿnh nhưng một khi đă bắt đầu “hồ nghi” ông là “công cụ” của một cuộc xâm lược - dù chỉ trong lănh vực văn hóa - họ đă không ngần ngại vận dụng mọi khả năng ḿnh có để đuổi ông về đại lục. Đó cũng là thái độ không thỏa hiệp của họ đối với di sản tinh thần dù là quí giá của Khổng Tử, Mạnh Tử và các tiên hiền đạo Nho.

Riêng việc vai Ai (ông thần mạt xă) giải thích rằng chim chóc, thú vật cũng biết làm thơ Waka th́ có thể làm độc giả bật cười v́ nghĩ là một ư tưởng ngây ngô, ấu trĩ. Thực ra, không thiếu ǵ trường hợp, qua sự liên tưởng, con người đă t́m cách giao cảm với tiếng nói của các loài động vật. Nếu người Nhật nghe chim oanh làm thơ, thấy con ếch viết chữ hay phỏng theo tiếng kêu của chim cuốc mà đặt tên cho nó cái tên nghỉ âm là hototogisu, người Việt Nam cũng từng nghe chim hót “bắt cô trói cột”, “con chim chích cḥe, đậu cành tre, nó kêu chích cḥe” vv...  

Thật ra tất cả lập luận ấy chỉ có mục đích nói gần nói xa rằng tâm hồn Nhật Bản là một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên. Ngay giữa thời hiện đại, trong những bức thư họ gửi cho nhau, bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu chào về mùa, thời tiết trước khi đi vào phần chính. Không phải Haiku đă khiến cho người Nhật trở thành như vậy nhưng chính tổ tiên của họ tự ngàn xưa đă dạy cho những người viết Haiku thực hiện được điều cơ bản đó. 

Xin nói thêm là trong khi so sánh thái độ đề kháng trước ảnh hưởng Trung Quốc của hai nước Nhật Bản và Việt Nam (Nam quốc sơn hà nam đế cư), nhà sử học Vĩnh Sính (1944-2014) từng viết: 

“Nhưng nhà thơ tiêu biểu cho thi đàn Trung Quốc ở Nhật này có lúc cũng bị phủ nhận. Đó là trường hợp tuồng Haku Rakuten (Bạch Lạc Thiên), một trong những vở tuồng Nô nổi tiếng của Zeami vào thế kỷ XIV. Trên thực tế, Bạch Lạc Thiên thuở sinh tiền không hề đặt chân lên đất Nhật Bản. Tuy nhiên theo cốt truyện của vở tuồng này, một hôm nọ, hoàng đế Trung Quốc phái Bạch Lạc Thiên sang Nhật để cho người Nhật thấy tận mắt tài làm thơ thần sầu quỷ khốc của người Tàu. Khi thuyền cập bến ở Nhật, họ Bạch gặp hai ngư ông. Bạch Lạc Thiên trổ tài làm thơ, nào ngờ trong hai ngư ông Nhật Bản lại có người làm thơ c̣n giỏi hơn cả họ Bạch nữa. Kết cuộc, trong cuộc đấu thơ này, Bạch Lạc Thiên bị hạ sát ván. Ngư ông đó hoá ra là Sumiyoshi-no-kami, “vị thần thi ca” (uta no kami) của người Nhật. Thuyền của Bạch Lạc Thiên bị băo đánh giạt về Trung Quốc, và vở tuồng chấm dứt ở đó. Nội dung của vở tuồng trên, đối với người Việt Nam, nghe có vẻ “trái tai”. Bởi lẽ cho dầu Việt Nam có triệt để chống đối xâm lăng quân sự của Trung Quốc đến đâu chăng nữa, Bạch Lạc Thiên (cũng như các thi hào hay các nhân vật văn hoá khác của Trung Quốc) vẫn được người Việt kính trọng; không có mâu thuẫn về văn hoá giữa nhà thơ Bạch Lạc Thiên và người Việt. 

Ở một chỗ khác, Vĩnh Sính viết tiếp:

“Sách Sentetsu sôdan (Tiên-triết tùng-đàm)[17] biên soạn cuối thời Tokugawa có ghi lại đoạn vấn đáp sau đây giữa Ansai[18] và các môn đệ. Ansai một hôm vấn nạn các môn đệ: -Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng Tử làm đại tướng và Mạnh Tử làm phó tướng dẫn vài vạn kỵ binh sang tấn công nước ta, với tư cách là người theo học đạo của Khổng Mạnh, các tṛ thử nghĩ chúng ta phải ứng xử như thế nào?”

Thấy các môn đệ lúng túng, Ansai tự đáp: -Nếu điều bất hạnh này xảy ra, th́ chúng ta chỉ có cách là mặc giáp mang kiếm, ra trận bắt sống Khổng Mạnh đặng báo ơn nước. Đây chính là điều Khổng Mạnh dạy chúng ta.

Chắc hẳn đối với các Nho gia Việt Nam, phản ứng đầu tiên khi nghe đoạn vấn đáp này là: “Đối với các bậc thánh hiền ai lại đặt câu hỏi kỳ cục như thế?”. Cách vấn nạn của Ansai chắc hẳn đă lạ lùng, khó nghe, mà câu trả lời của Ansai cũng không kém bất ngờ, đường đột. Phải là một “Nho gia” không bị chi phối bởi thế giới quan Nho giáo của Trung Hoa mới có đủ tính khách quan để đặt vấn đề trực tiếp và tận gốc như vậy”.

(Trích: Thái độ của Nhật Bản đối với Trung Quốc: Kính nể hoặc phủ nhận văn hoá Trung Hoa) (Xuất xứ: Vĩnh Sính, trang mạng ERCT).

Đó là 2 trong những lập luận đưa ra để chứng minh cho thái độ tuy kính nể nhưng đồng thời phủ nhận Trung Hoa của người Nhật. Có cần phải nói thêm rằng nội dung của tuồng Haku Rakuten cũng không khác ǵ truyền thuyết Việt Nam về việc thần Tản Viên đánh đuổi quan cai trị Cao Biền khi họ Cao cưỡi diều bay trên thành Đại La với mục đích trấn yểm các long mạch của đất Việt hoặc bài tứ tuyệt “Nam quốc sơn hà” Lư Thường Kiệt thác lời thần để xác nhận chủ quyền...trong thời kỳ nhà Tống đem binh sang phục hận, cũng đă nói lên ư chí độc lập tự chủ của các nước nhỏ nhưng đều đáng mặt “văn hiến chi bang”?

11/05/2022
 


[1] Có thể hiểu là một chức thị giảng trong cung nhưng chưa rơ xuất xứ.

[2] Có thể là thơ Miyako no Arinaka (Đô, Tại Trung) -một nhà thơ Nhật - mô phỏng Bạch Lạc Thiên.

[3] Theo ư kiến của nhà biên tập Ki no Tsurayuki trong bài tựa bằng chữ Kana (Kanajo) của Cổ kim wakashuu (Kokinshuu) th́ chim oanh hay con ếch đều có thể làm thơ khi phát ra tiếng kêu trước một đóa hoa hay một ḍng nước. Ư muốn nói hồn thơ đă có sẵn trong trời đất và cả bên ngoài thế giới con người.

[4] Mượn ư trong bài tựa Kokinshuu (tức Cổ kim Ḥa ca tập) bằng chữ Kana do Ki no Tsurayuki soạn và một câu thơ ví t́nh yêu nhiều vô vàn, chẳng khác nào số cát trắng trên bờ của băi biển Ariso (một phong cảnh hoang vu).

[5] Tên một khúc Nhă nhạc (Gagaku) tức nhạc cung đ́nh. C̣n có tên là Hải Tiên Lạc..

[6] Ashiwara mizuho no kuni (Đất nước bông lúa thiêng nằm ở giữa cánh đồng lau hay Vi nguyên thủy huệ quốc) là mỹ từ để nói về đất nước Nhật Bản thời chư thần.

[7] Những lời của nhân vật Ai này thường chỉ là lập lại những ǵ đă được viết trong phần trên nhưng v́ tôn trọng nguyên tác nên chúng tôi đă dịch lại một lần nữa.

[8] Âm mưu sứ giả nước ngoài như Cao Cú Lệ hay nhà Đường đến thử sức, xem đất Nhật c̣n có nhân tài hay không từng xảy ra nhiều lần và đă được sách vở Nhật Bản như Nihon shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) hay Makura no Shoshi (Chẩm Thảo Tử) chép lại.

[9] Một điển cố khác cho rằng viên quan trấn thủ đảo Ikki là Ki no Yoshisada đă nh́n vết chân ếch để lại mà t́m được chỗ ở của một mỹ nữ ông từng gặp nhưng mất tin tức. (theo lời chú trong sách Sansoshô hay Tam Sớ Sao).

[10] Điển cố không rơ nguồn gốc.

[11] Nguyên văn “Sumiyoshi no sumi ni susume no su wo kakete / Sakoso susume ga sumi yokaruran”. Câu thơ này là một hư ca (thơ đùa nghịch) chủ ư chơi chữ v́ Sumi có nhiều nghĩa (cư trú, cái góc và tên của thần) cũng như su (tổ) và susume (chim sẻ) vốn có chung một âm su.

[12] Tây Hải (ư nói biển của đảo Chikushi tức Kyuushuu thời cổ)

[13] Sumiyoshi vừa là thần thi ca, vừa là vị thần bảo vệ đất nước trước hiểm họa ngoại xâm nên được tôn kính.

[14] Một trong bát đại long vương. Đảo Itsukushima nằm ở ngoài biển Hiroshima là một thắng cảnh.

[15] Tám thứ nhạc khí kim (kim khí), thạch (đá), ti (giây tơ), trúc (tre), bào (quả bầu), thổ (đất), cách (da), mộc (gỗ).

[16] Lời của Atojite (thần Sumiyoshi) ở đây hô ứng với lời phát biểu của vai Maejite ( ông câu) cuối màn trước về tương lai của Đất nước có bông lúa thiêng của cánh đồng lau (Vi nguyên thủy huệ quốc).

[17] Ư nói sách thu thập lời bàn luận (tùng đàm) của hiền nhân đi xưa (tiên triết).

[18] Tc Yamazaki Ansai (Sơn Kỳ Ám Trai. 1618-1682), xuất thân tăng lữ, một nhà Nho theo Chu tử học, từng mở trường ở Kyôto, môn đ có đến hàng ngh́n ngưi. Sau đó đă biết phối hợp tư tưởng Tống Nho với Thần đo để xây dựng một hệ tư tưng đặc biệt Nhật Bản.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com