CHÚ TIỂU MÙ

(Tuồng Nô cổ điển Yorobôshi)

Nguyên tác: Kanze Juurô Motomasa

Dịch: Nguyễn Nam Trân

弱法師のはなし余録 | 鼠六匹に冬の蛙 - teacup.ブログ“AutoPage”

 Hương hoa mơ bám trên ống tay áo chú tiểu mù

 

 

Lược truyện:

Trong ngôi làng Takayasu thuộc tỉnh Kawachi (nay nằm gần thị trấn Yao thuộc phủ Ôsaka), có một nhân vật danh giá tên Takayasu Michitoshi (Cao An Thông Tuấn). Ông v́ nghe lời gièm pha của người khác về hành vi của Shuntoku-maru (Tuấn Đức - Hoàn), cậu con trai ḿnh, nên đă truất quyền thừa kế và đuổi cậu ra khỏi nhà. Về sau, sám hối về những quyết định sai lầm và nông nổi ḿnh đă gây ra, ông bèn chuộc tội bằng cách lập một đàn tràng và bố thí cho người nghèo để tích đức hầu cầu phúc cho đứa con trai hàm oan trong đời này và cả những kiếp sau. Lễ lạc như thế được cử hành trong 7 ngày xuân ở chùa Tennôji (Thiên Vương Tự, ngày nay là Shitennôji hay Tứ Thiên vương Tự, Ôsaka). Vào ngày cuối cùng trong 7 ngày đó, có một cậu bé ăn mày mù người ta gọi là Yorobôshi (Nhược pháp sư) t́m đến nơi. Cậu ấy không ai khác hơn Shintoku-maru, con trai của Takayasu.

Trong khi Yorobôshi sắp hàng cùng với đoàn người đến nhận của bố thí, những cánh hoa mơ đă rơi trên ống tay áo cậu. Thấy Yorobôshi có vẻ  thưởng thức hương hoa, Michitoshi mới cho biết hương hoa ấy cũng là một trong những phẩm vật mà nhà Phật dùng vào việc bố thí. Yorobôshi tỏ ra đồng ư với ông và tán thán những lời giáo huấn của Đức Phật rồi nhân đó, nhắc nhở sự tích của chùa Tennôji. Tuy Michitoshi đă nh́n ra Yorobôshi chính là con ḿnh nhưng ông định đợi đến khi đêm xuống mới chịu vén màn bí mật bởi không muốn người ngoài nh́n vào chuyện nhà. Michitoshi bèn khuyên Yorobôshi hăy thử sử dụng Nhật Tưởng Quán (Jissôkan) tức phép thiền định tập trung tinh thần nh́n cảnh mặt trời lặn và cùng lúc tưởng tượng những h́nh ảnh đẹp đẽ của cơi Tây phương Cực lạc. Ban đầu, phong cảnh của vùng Naniwa (Ôsaka) - nơi cậu sống ngày xưa – đă hiện ra trong óc cậu con trai nhưng chẳng bao lâu, có lẽ v́ quá tập trung tinh thần - cậu không c̣n kham nổi và rơi vào trạng thái điên loạn, chân bước xiêu vẹo rồi ngă xuống đất. Việc đó làm cậu cảm thấy cay đắng và tủi hổ cho thân phận mù ḷa.

Đến đêm, khi trời đă về khuya, Michitoshi mới tiết lộ cho Yorobôshi rằng ông chính là cha của cậu. Yorobôshi dợm chạy trốn v́ quá hổ thẹn cho cảnh thân tàn ma dại trong hiện tại nhưng Michitoshi đă rượt theo kịp, nắm lấy tay và ân cần dắt cậu về ngôi làng cũ. 

Đặc điểm: 

Một trong những cái hấp dẫn của vở tuồng là nhân cách phong phú của vai Shite (tức Shuntoku-maru hay Tuấn Đức-Hoàn)[1] và viễn tưởng về những phong cách đẹp đẽ, sinh động diễn ra trong đầu cậu. Tuy nhiều bản tuồng mô tả cậu là một thiếu niên nhưng có lẽ đó là một thanh niên có kinh nghiệm sống và tŕnh độ giáo dục v́ trong một phiên bản cổ, vợ của cậu đă xuất hiện để đóng vai tùy tùng (tsure). Cũng trong văn bản đó, nhân vật Takayasu Michitoshi là một hào tộc địa phương có thế lực. Cho dù Shuntoku-maru đă trở thành một người ăn xin mù tức một kẻ nằm dưới đáy xă hội nhưng cậu không hề đánh mất sự trong trắng cũng như nét thanh nhă trong tâm hồn. Tuy than thở cho số phận hẩm hiu của ḿnh nhưng niềm tin đă gieo cho cậu hy vọng như đă biểu lộ ra trong cảnh thưởng thức hương hoa mơ bám trên ống tay áo. Đoạn sau, ở cảnh Shuntoku-maru ngắm mặt trời chiều để tập trung nghĩ về thế giới Tây phương Cực lạc, trong đầu óc cậu đă hiện ra phong cảnh mỹ lệ của vùng Naniwa, nơi cậu sống những ngày thơ ấu. Lúc đó, cậu đă phát biểu một câu đầy ư nghĩa: “Tất cả khung cảnh tôi được thấy nơi đây, đều đă có sẵn trong đầu rồi”. Tuy nhiên, khi tập trung tinh thần để tưởng tượng lại nó, câu đă rơi vào trạng thái điên loạn, đi đứng liêu xiêu rồi vấp ngă, và lúc đó cậu mới ư thức được sự yếu kém của chính bản thân.

Chân chất, nho nhă, cô đơn và u sầu là những đặc tính của chàng trai trẻ mang một tâm hồn phong phú và sâu sắc này. Khán giả có thể nh́n thấy sự chuyển biến của tâm lư nhân vật qua từng xen một của vở tuồng. 

Thông tin kỹ thuật: 

Lưu phái: Ngũ lưu tức năm chi lưu đều diễn.

Lớp: Lớp thứ 4 (Cuồng)

Soạn giả: Kanze Juurô Motomasa (phần vũ kuse do Zeami soạn)

Xuất xứ: Không rơ

Mùa: Xuân (Tháng 2 Âm lịch)

Địa điểm: Chùa Tennôji trong xứ Settsu (tên một tiểu quốc, ngày nay gồm có phủ Ôsaka).

Nhân vật:

Shite: Shun toku-maru / Chú tiểu mù.

Waki : Vị trưởng giả Takayasu Michitoshi

Ai : Người hầu cận của Michitoshi.

Mặt nạ và trang phục:

Mặt nạ: đặc chế cho Shite: Mặt nạ Yorobôshi.

Trang phục (giản lược)

Shite: Tóc giả dài và đen (kuroji-kindon-hachimaki) băng bt đu đen có thêu vàng bên trên, áo mizugoromo tức kimono dài đến gối. Ngoài ra c̣n có kitsuke-atsuita tức một loại kimono với ống tay ngắn và có thêu vàng và bạc. Thắt lưng koshi-obi, tay cầm gậy.

Waki: Áo bào suô đơn sơ với ống tay áo dài, kitsuke dannoshime tức áo lót bên trong có kẻ sọc dày, đeo kiếm ngắn, tay cầm quạt.

Ai: Mặc kimono dành cho ngưi đóng vai kyôgen trong màn đệm. 

Cảnh: Một cảnh duy nhất suốt vở.

Thời lượng: khoảng 1h20. 

Để tiện việc theo dơi, xin chia vở tuồng thành 6 phân đoạn A, B, C, D, E, F. Những chỗ đánh dấu hoa thị (*) là đoạn chỉ có trong bản tuồng của một số lưu phái.

 

 

Lớp trước: 

A-Takayasu Michitoshi đến tham bái đền Tennôji: 

Takayasu – một người có chức phận sống trong làng Takayasu xứ Kawachi (nay gần Ôsaka ) – v́ nghe lời gièm pha của thiên hạ nên đă truất quyền thừa kế và đuổi con trai ḿnh ra khỏi nhà. Sau rơ chuyện, ḷng ông đầy hối hận nên với mục đích chuộc lỗi và tích thiện, Michitoshi đă đến chùa Tennôji (Thiên Vương Tự, nay ở Ôsaka) vào một ngày lập xuân và tổ chức bảy hôm bố thí phẩm vật cho chư tăng và người nghèo. 

Takayasu Michitoshi: Như tôi đây là phó Tả vệ môn úy (Saemon no jô) tên gọi Michitoshi, quê ở làng Takayasu trong xứ Kawachi. Tôi vốn có đa con trai nhưng trót nghe lời gièm pha của người ta, trong một chiều cuối năm u ám, tôi đă từ nó và đuổi ra khỏi nhà. Giờ đây nghĩ lại quyết định hấp tấp của ḿnh đă gây đau khổ cho nó, tôi muốn cầu xin cho con tôi được yên ổn nếu nó c̣n sống và đưc hưng phước cực lạc văng sinh trong những kiếp sau. Đ tu nhân tích đc cho ước vọng đó đt thành, tôi đă theo lời Phật dạy, tổ chức một cuộc bố thí (fuse, thí hành = segyô) trong ṿng bảy ngày ở chùa Tennôji (Thiên Vương T). *Tôi đă ra lệnh cho người làm tiếp tục đến hết hôm nay v́ đây là ngày cuối, lúc tôi làm tṛn lời hứa nguyện*  

Michitoshi: Có ai đó không?

Tùy tùng: Thưa ông, có con đây.

Michitoshi: Hôm nay là ngày kết thúc tâm nguyện của ta, vậy các ngươi hăy bố thí thêm nữa đi nào!

Tùy tùng: Thưa ông, xin vâng!

Này, mọi người, hăy nghe rơ đây. Hôm nay là ngày cuối cùng mà ngài phó Tả vệ môn úy tổ chức bố thí. Hăy mau mau đến đây nhận phần. Xin nhớ cho, hôm nay là ngày cuối đấy. Hôm nay là ngày cuối đấy! 

B-Shuntoku-maru xuất hiện ở chùa Tennôji: 

Shuntoku-maru, con trai của Michitoshi nay đă mù ḷa, sống lang thang, không một mái nhà. Cậu ta đang than thở cho cảnh ngộ của ḿnh và ngày hôm đó, đă dừng chân trước cửa đền Tennôji. 

Shuntoku- maru: Mắt tôi giờ đây đă mù ḷa, nào thấy được mặt trời mặt trăng nên không biết lúc nào ngày rạng cũng như không biết lúc đêm về. Tôi không thể phân biệt đêm hay ngày.*Hỏi ai thấu cho niềm cay đắng của tôi, nó c̣n sâu hơn c đáy biển vịnh Naniwa*

Nh́n đôi chim uyên ương ngủ bên cạnh nhau mà không phải xót xa khi nghĩ đến ngày nao chúng phải xa ĺa. Nh́n những con cá lờn bơn (tỉ mục ngư, hiboku) ngủ bên cạnh nhau mà không khỏi chạnh ḷng lo lắng khi lớp sóng xô đến để chia cắt chúng. Nỗi cay đắng ấy th́ ngay cả chim và cá cũng c̣n hiểu được, huống chi tôi sinh ra làm kiếp con người tức là một giống hữu t́nh. “Hăy xem đó là định mệnh của muôn loài. Cứ xem sự chia ly giữa vợ và chồng, nó có khác nào cái cảnh ḍng sông Yoshino (Yoshino no kawa) chia đôi hai ngọn núi, một bên là Núi Vợ (Imoyama), một bên là Núi Chồng (Seyama).Vạn vật nào măi măi ḥa hợp với nhau đâu”. Tuy lời thơ kia đă nói như thế nhưng tôi không thể nào vứt bỏ hy vọng cho nên đến bây giờ tôi vẫn khổ sở v́ cuộc chia ly. Ôi! Thê thảm làm sao! Có phải v́ trong những kiếp trước, tôi từng ghét bỏ ai đó chăng nên kiếp này, tôi phải hứng chịu hậu quả? Một kẻ nào đó đă lên tiếng gièm pha khiến cho tôi phải trở thành đứa con bất hiếu. Đôi mt tôi đă mờ v́ cứ khóc măi trong đau kh đến độ thành mù ḷa. Dù hăy c̣n đang sng nhưng tôi mê muội, lạc lơng như người ở trong cơi trung hữu (chuu-u) chưa đưc đầu thai.

Nguyên lai, đă là con người, ai cũng có những dục vọng sai lầm làm cho tâm hồn họ ngập trong bóng đêm.

Tôi nghe rằng bên đt nưc Đi Đường có một vị a-xà-lê (acârya, cao tăng) tên gọi Nhất Hành (Ichigyô)[2]. Ngài đă lưu lạc (bị phóng trục) sang nước Quả La (Kara no kuni)[3]. Có ln ngài bưc vào con đường hắc ám gọi là Ám Huyệt Đạo (Anketsudô). Thế nhưng nh có Chư Phật khắc trên bức vẽ Cửu Diệu Mạn Đà La đă phóng ra ánh sáng quang minh soi đường dẫn lối cho ngài.[4] Tuy hiện nay là thời Mạt pháp nhưng có phải tôi đang đng trước ngôi chùa Tennôji nổi tiếng, nơi ln đầu tiên Phật pháp đă được truyền rao[5] đây chăng? Tôi s đến gần để vái chào. Tôi sẽ đến gần để vái chào. 

C-Shuntoku-maru gặp Michitoshi: 

T́nh cờ ở Tennôji, Shuntoku–maru gặp lại Michitoshi. Michitoshi gọi Shuntoku -maru và hai bên có dịp trao đổi vài câu chuyện. Theo lời mời của Michitoshi, Shuntoku-maru sắp hàng như mi ngưi để nhận của bố thí. 

Michitoshi: Hôm nay là ngày thứ hai của tiết lập xuân (bĩ ngạn), một ngày xuân đẹp và êm đềm làm sao! Vào ngày này, giàu nghèo mặc ḷng, ai nấy đều muốn văng cảnh chùa. Thấy khách thập phương tập trung đông đảo như vậy nên tôi đă khuyến khích họ đến nhận của bố thí.

Shuntô-maru: Đáng quí thay lời thệ nguyện cuả Đức Phật! V́ tin tưởng nơi ḷng từ bi bao la của ngài mà bao nhiêu tín hữu đă đến đây, hết lớp này đến lớp khác.

Michitoshi: Người ăn mày đang tiến lại gần kia, có phải là Yorobôshi (Chú tiểu mù)[6] không nhỉ? 

Shuntoku-maru: * Tủi hổ cho tôi khi nghe họ gọi tôi bằng cái tên đùa cợt (xước danh, adana) là Yorobôshi!* Quả thật, thân tôi giờ đây mù ḷa và loạng quạng như một cỗ xe xập xệ, mất một bên bánh. Họ gọi tôi là chú tiểu mù đi nữa cũng đâu có ǵ quá đáng.

Michitoshi: Dù mới nghe qua, tôi thấy lời ăn tiếng nói của chú em này coi bộ thanh nhă. Đến đây sắp hàng nhận quà đi chú!

Shuntoku-maru: *Cảm ơn ông. Tôi xin đến ngay. Ô ḱa, tôi ngửi thấy như có hương mơ thoang thoảng. Chắc lúc này, hoa sắp rụng rồi.*

Michitoshi: Thật nhỉ? Ḱa xem hoa mơ bên rào kia đang rơi lả tả lên trên hai ống tay áo chú Yorobôshi.

Shuntoku-maru: Tôi thấy chướng tai khi nghe người ta dùng chữ “hoa trên cây” (ki no hana) để nói về mùa xuân ở vùng Naniwa thay v́ nói rơ đó là hoa mơ (ume). Chúng ta đang ở giữa tiết xuân nhưng tôi vẫn chưa có dịp “cài hoa lên tóc” như người đời xưa từng nói đến trong thơ[7].Dù sao, hoa đă rơi lả tả trên ống tay áo như bông tuyết tháng hai. Ôi hương thơm của hoa ngào ngạt quá!

Michitoshi: Chính thế, chú tiểu ạ. Đối với nhà Phật th́ những cánh hoa rơi trên ống tay áo chú cũng là một phần phẩm vật dùng để bố thí đấy.

Shintoku-maru: Ông dạy chí phải. Mọi sinh vật ngay cả thảo mộc đều có thể đem ra làm của bố thí v́ chúng đều là ơn huệ của Đức Phật.

Michitoshi: Ơn huệ ấy vốn đến từ ḷng đại từ đại bi...

Shuntoku-maru:... nên không được bỏ sót thức ǵ. Tôi cũng xin sắp hàng nhận lănh.

Michitoshi: Hăy chắp hai tay...

Shuntoku-maru: mở rộng ống tay áo để bái lĩnh.

Hợp xướng (hát Jiuta): Ngay hoa kia cũng đă nhận được bao nhiêu là của bố thí. Ngay hoa kia cũng đă nhận được bao nhiêu là của bố thí. Khi hương mơ bay lăng đăng trong không gian, người ta biết mùa xuân đă lên đến tuyệt đỉnh trên vùng đất Naniwa. Không có cái ǵ ở bên ngoài Phật pháp, ngay những thứ tṛ chơi như khúc ca điệu vũ của chúng ta đều không ở bên ngoài phạm vi những lời thệ nguyện cứu độ chúng sinh của chư Phật. Ḷng từ bi của các ngài rộng như biển lớn ở Naniwa và là nơi chúng ta có thể nương tựa vào. Chúng ta chỉ là những “con rùa mù” trôi nổi trên mặt biển[8] nên không thể nào hiểu được Phật pháp, chỉ nhờ uy quang các Ngài mới được sáng mắt sáng ḷng để thưởng thức mùi hương của những cánh hoa mơ. Đó là ơn huệ của chư Phật và là dịp may ngh́n năm có một. Mọi người chớ nên để lỡ cơ hội ngày xuân êm đềm, hoa mơ nở thắm. Xin mọi người hăy đừng để lỡ ơn huệ của chư Phật. 

Đến Nakairi , chỗ nghỉ giữa hai lớp: 

D-Shuntô-maru ca tụng công đức chùa Tennôji:   

Shuntô-maru vừa lễ tán Phật pháp, vừa giải thích về nguyên ủy và ca tụng công đức của chùa Tennôji: 

Hợp xướng: Thích Tôn (Shakyamuni) đă nhập diệt nhưng Di Lặc Bồ Tát (Matreiya) vẫn chưa lai thế. V́ vậy mà ba Pháp Hội nhằm cứu độ chúng sinh  vẫn chưa có thể tổ chức.

Shuntoku-maru: Trong thời gian chuyển tiếp (chuugen = trung gian) giữa hai vị Phật, hỏi làm thế nào chúng sinh có thể sống một cách thoải mái và yên ổn?

Hợp xướng: Thái tử Thánh Đức (Shôtoku taishi, 574-622) đă củng cố chính trị trong nước, dạy dỗ và dẫn dắt muôn dân, làm cho Phật pháp được lưu truyền đến vạn đời, khiến cho ơn huệ của chư Phật lan tỏa khắp nơi...

Shuntoku-maru: Và ngài đă xây lên ngôi chùa Tennôji này...

Hợp xướng: Thoạt tiên, ngài chỉ định các tăng ni trụ tŕ và đặt tên cho nó là Tứ Thiên Vương Tự (Shi-tennôji)[9]. Bức tượng trấn giữ ṭa kim đường của chùa là một pho tượng Như Ư Luân Quan Âm, c̣n gọi là tượng Quan Âm Cứu Thế. Trong tiền kiếp, Thái tử vốn là thiền sư Nam Nhạc Huệ Tư (Nanyue Huisi) bên Trung quốc nhưng đă đầu thai và vượt biển sang đây để thành người Nhật Bản. Và nhờ có ngài Huệ Tư[10] mà Đức Như Ư Luân Quan Âm cũng qua theo, chùa trở thành một nơi rao giảng đầu tiên Phật pháp trên đất nước chúng ta. Như Ư Luân Quan Âm đă phóng uy quang của ngài nhằm thực hiện lời thệ nguyện của chư Phật muốn cứu vớt sinh linh trong cơi đời Mạt pháp. Hơn thế nữa, loại gỗ thiêng (linh mộc) gọi là Xích chiên đàn (Shaku-sendan) cũng đă được dùng vào việc xây chùa. C̣n như để lợp mái, người ta đă dùng cả Diêm phù đàn kim (Enbudagon, sa kim màu tím lấy từ con sông chảy qua cánh rừng cây diêm phù (jambu, xoài) Jambudvipa bên Thiên Trúc) để tô màu cho tận những bảo luân (bánh xe trang sức bằng bảo vật) trên ngọn tháp năm tầng (Ngũ trùng tháp, Gôjuu no tô).

Shuntoku-maru: Nước của Giếng Rùa (Kamei = Qui Tỉnh)[11] được trong xanh măi tận đời sau...

Hợp xướng:...bởi v́ nguồn của nó là Vô Nhiệt Tŕ (Anavatapta) ở phía Tây Thiên Trúc. Nguồn nước ấy không bao giờ cạn kiệt nên vào bất cứ thời đại nào cũng đưa được chúng sinh ô nhiễm v́ ngũ trược lên thuyền đến được bờ bên kia (bỉ ngạn) của cơi Tây thiên Cực lạc. Tiếng chuông từ ngôi chùa Tennôji này sẽ c̣n vang vọng măi đến xa xôi và làm cho nơi nơi chốn chốn đều thấm nhuần lời thệ nguyện cứu chuộc của chư Phật. Chỗ nào rồi cũng sẽ mang h́nh bóng của Phật, cho dù chỉ là những bờ biển hay ngọn núi nơi bao đợt thủy triều đang đổ xô vào.  

Lớp sau: 

E-Shuntoku-maru làm lễ chào Mặt Trời Lặn: 

Michitoshi nhận ra rằng Yorobôshi không ai khác hơn là Shuntoku-maru, đứa con thất lạc của ḿnh. Tuy vậy, muốn không ai nḥm ngó, ông quyết định chỉ nêu lên danh tánh của ḿnh khi trời đă về khuya. Sau đó ông đă nhờ Shuntoku-maru thực hành phép Jissokan (Nhật Tưởng Quán) để chào mặt trời lặn, cùng lúc, có thể tập trung tinh thần suy nghĩ về cơi Tây phương Tịnh độ. Shuntoku-maru đồng ư và cúi chào mặt trời. Tuy vậy, cùng lúc, chú ta say sưa bước và vũ theo nhịp của những h́nh ảnh sinh động đang hiện ra trong trí, trước khi vấp chân rồi ngă xuống đất. Chú cảm thấy hổ thẹn v́ cảnh mù ḷa của ḿnh.  

Michitoshi:*Ôi, chuyện kỳ lạ thay! Nh́n thật gần th́ ta thấy chú bé này đúng là đứa con trai mà ta đă truất quyền thừa kế và đuổi khỏi nhà. Có lẽ v́ quá ưu sầu mà chú ta đă thành ra mù ḷa. Tội nghiệp chưa, sao nó lại gầy yếu đến thế nhỉ?* Ban ngày ban mặt, hẳn có lắm người hiếu kỳ. Chi bằng đợi khi đêm xuống, ḿnh sẽ tiết lộ danh tánh rồi đem chú ta trở lại mái nhà xưa.

*Này, Yorobôshi! Bây giờ là lúc phải chào mặt trời lặn đấy. Mau mau hành lễ đi chú ạ!*

Shuntoku-maru: Vâng, bây giờ chính là lúc phải làm lễ Jissôkan để chào mặt trời lặn. Nhưng phận mù ḷa, tôi chỉ hướng về phía mà ḷng tôi nghĩ là mặt trời đang lặn xuống tức cửa phía Đông - để vái chào “Nam mô A Di Đà Phật”.

Michitoshi: Sao chú lại nhầm lẫn như thế. Không phải cửa Đông đâu. Chỗ này là cổng chào (torii) bằng đá ở phía Tây cơ mà!

Shuntoku-maru: Ông ăn nói vô lối quá! Nếu ra khỏi cửa Tây của Tennôji và tiến về cửa Đông của cơi Cực Lạc, th́ đă có ǵ sai đâu chứ!

Michitoshi: Ừ nhỉ, chú hoàn toàn đúng đấy! Nếu như ra khỏi cổng chào bằng đá phía Tây của Tennôji...

Shuntoku-maru: ...chúng ta sẽ bước vào cánh cổng tôn quí nhất đời tức là cánh cổng phía Đông của cơi Tây phương Tịnh độ...

Michitoshi: Rời khỏi cổng phía Tây của Tennôji có nghĩa là...

Shuntoku-maru:... đi thẳng vào đất nước của A Di Đà Như Lai, tức là...

Michitoshi: ...cánh cửa Đông của cơi Tây phương Tịnh độ.

Shintoku-maru: Khi chúng ta tiến về cổng phía Đông, tức ra ngoài khơi biển phía Tây của vùng Naniwa...

Hợp xướng: ...nơi mặt trời đang ch́m xuống và cũng là nơi phản chiếu h́nh ảnh của cơi Tịnh độ như trong một điệu vũ. 

*(Iroe) Nhiều lưu phái chủ trương nơi đây có cảnh biểu diễn một điệu vũ kèm theo ống tiêu, trống lớn và trống nhỡ.* 

Shuntoku-maru: Thích quá nhỉ? Dù ngày nay tôi chỉ là một anh Yorobôshi mù ḷa và lang thang nhưng trước khi trở thành thế này, tôi rất quen thuộc với phong cảnh nơi đây. Nếu được nh́n vầng trăng soi bóng trên biển Naniwa và những ngọn gió thổi qua mấy rặng tùng cũng như cảnh sắc êm đềm và thanh vắng của mùa xuân th́ không có một tà niệm nào có thể dậy lên trong đầu. 

*(Iroe) Riêng lưu phái Kanze chủ trương nơi đây có cảnh biểu diễn một điệu vũ kèm theo ống tiêu, trống lớn và trống nhỡ * 

Shuntoku-maru: “Khi nh́n xuyên qua những ngọn tùng bên băi biển Sumiyoshi...

Hợp xướng: Sẽ thấy vầng trăng bắt đầu lặn xuống phía đảo Awaji”

Shuntoku-maru: Đó là câu thơ tả cảnh vầng trăng lặn.

Hợp xướng (hát thay cho Shuntoku-maru): Đó là câu thơ tả cảnh trăng lặn nhưng đối với tôi, cảnh mặt trời đang lặn này cũng giống như điều mà câu thơ ấy đă nói lên. Chúng ta làm lễ Jissôkan (Nhật Tưởng Quán) chào mặt trời lặn không phải để nh́n nó bằng đôi mắt thịt nhưng bằng con mắt trong tâm hồn chúng ta. Cho nên những kẻ mù ḷa cũng có thể ngắm ḥn đảo Ejima (ḥn đảo đẹp như tranh) của vùng Awaji lẫn hai băi Suma và Akashi[12] tận  ngoài khơi bán đảo Kii một cách rơ ràng.Tất cả những phong cảnh mà một con mắt trần có thể nh́n được đều đă có sẵn trong tim óc tôi.

Shuntoku-maru: Đúng thế! Tôi thấy rất rơ ràng. Tôi thấy rất rơ ràng.

Hợp xướng: Hăy để tôi nêu ra tên những cảnh đẹp có thể nhận ra từ bờ biển Naniwa này nhé.

Shuntoku-maru: Phía Nam là băi biển Sumiyoshi mà người ta không ngớt lời ca tụng là chốn sơn thanh thủy tú, với những rặng tùng soi bóng trên bờ và nước triều đêm đêm quét lên bờ cát. 

Hợp xướng: C̣n như phía Đông th́, bây giờ đúng là lúc...

Shuntoku-maru:...ngắm được ngọn núi Kusaka (Thảo Hương Sơn) xanh mướt mắt giữa ngày xuân.

Hợp xướng: Ở phía Bắc là ǵ nhỉ?

Shuntoku-maru: Là Naniwa...

Hợp xướng: Vốn có cây cầu Nagara[13]. Tôi có thể nh́n thấy nó trong đầu và dạo bộ bên trên, hết chỗ này đến chỗ khác. Tôi sẽ đụng phải người này, đâm sầm vào người kia, không phân biệt kẻ giàu người nghèo, chân cẳng liêu xiêu loạng quạng. Than ôi, thật khổ cho tấm thân tôi. Người ta sẽ cười vào mũi tôi, một gă Yorobôshi khất thực mù ḷa cầu bơ cầu bất! Nghĩ đến đó tôi càng thêm xấu hổ. Từ đây, tôi sẽ thôi đóng vai một kẻ điên cuồng, quyết không nhảy múa như một tên rồ dại nữa.    

A- Michitoshi dắt Shuntoku-maru trở về sum họp với gia đ́nh: 

Sau khi màn đêm buông xuống, Michitoshi mới hé lộ cho Shuntoku-maru biết ḿnh là cha của chú. Chú tiểu mù kinh ngạc, tưởng đây là một giấc mơ.Tuy nhiên, hổ thẹn v́ cảnh ngộ hiện tại của ḿnh, chú muốn bỏ chạy. Michitoshi bèn đuổi theo và nắm lấy tay của đứa con thất lạc lâu ngày và dắt chú trở về mái nhà xưa trong ngôi làng Takayasu. 

Hợp xướng: Đêm khuya rồi và mọi người ai nấy đều ra về. Trong khu đền này, tất cả đă trở nên tĩnh mịch. Hăy cho biết v́ sao chú ra nông nỗi này và tên họ chú là chi?

Shuntoku-maru: Tôi không ngờ ông lại hỏi tôi như vậy. Chắc ông muốn biết về thân thế của tôi ư? Tôi tên là Shuntoku-maru, xưa kia vẫn sống trong ngôi làng Takayasu (Cao An) nhưng cuộc đời đă đưa đẩy khiến tôi nay thành ra một kẻ thảm hại!

Hợp xướng (hát thay cho Michitoshi): Ôi, đúng như điều ta tiên đoán. Hạnh phúc thay! Ta là Takayasu Michitoshi, cha của con đây.

Shuntoku-maru: Michitoshi là tên cha của tôi mà. Nghe tiếng nói ấy....

Hợp xướng (hát thay cho Shuntoku-maru): ...tôi những sững sờ, tim đập rộn ràng trong lồng ngực...

*Shuntoku-ma ru*: *Chắc đây chỉ là một giấc mơ*

*Hợp xướng*: *Chứ sao lại có chuyện như thế được!*

Hợp xướng: Shuntoku-maru tủi hổ v́ đă để cho cha nh́n thấy h́nh dáng thảm hại của ḿnh nên đă bỏ chạy dù chú ta không biết sẽ đi đâu. Cha của chú đuổi theo ngay và nắm được cánh tay: “Không, từ đây con không cần ǵ phải trốn tránh ta nữa!” Nói xong, ông bèn bảo con hăy rời khỏi ngôi đền để theo ḿnh về nhà trước khi trời sáng. Trong bóng đêm, bên tai vẳng lại tiếng chuông của chùa Tennôji, hai cha con cùng nhau quay về ngôi làng Takayasu. Họ cùng nhau quay về ngôi làng Takayasu. 

NNT

Dịch ngày 2/5/2022

 

Bên lề tác phẩm: 

Vở tuồng này có chung mô-típ với một câu chuyện cùng xuất hiện trong kinh điển nhà Phật (Kinh Pháp Hoa) và Kinh Thánh đạo Cơ đốc (Tân Ước, Tin lành theo thánh Lu-ca) về người con trai lưu lạc cuối cùng được về lại nhà của cha ḿnh.

Trước tiên, xin tŕnh bày sơ qua thí dụ về cậu con túng quẫn của ông nhà giàu (Cùng tử thí) của Kinh Pháp Hoa:

Trong Tín giải phẩm đệ tứ có chuyện Ma Ha Ca Diếp và 3 vị trưởng lão khác khi nghe lời tiên tri rằng Thanh văn chúng (tín đồ b́nh thường đến nghe giảng đạo) cũng có thể đạt đến cảnh địa giác ngộ tối cao, lấy làm vui mừng như bắt được vàng bạc châu báu. Sở dĩ họ vui như vậy vì Đức Phật đưa ra thí dụ về cậu con nghèo xơ xác (guji, cùng tử) để xác nhận điều ấy:

Một cậu con trai kia xa cha từ bé, đă sống hàng chục năm cuộc đời phóng đãng. Trong khi ông bố trở thành đại phú hào thì cậu con chỉ là một anh hành khất, lưu lạc khắp nơi. Có hôm may mắn anh lên kinh đô và đi qua cửa nhà người cha. Cha của anh từ bao nhiêu năm nay vẫn khổ sở sống với hình ảnh của đứa con lưu lạc.

Anh con nghèo xơ nghèo xác kia lần tới của nhà người cha mong nhận được của bố thí. Lúc ấy nhà đại phú hào đang ở giữa đám đông kẻ hầu người hạ và anh không hề biết là ông ấy là cha mình nên sợ khiếp vía. Bụng nghĩ nếu ḿnh cứ láng cháng quanh đây, bị người ta bắt cho thì khốn bèn bỏ chạy. Thế nhưng nhà đại phú hào thoáng thấy anh đã biết là con mình nên giục đầy tớ chạy theo tìm. Thấy có người đuổi riết đằng sau, anh con càng hoảng hốt, la lên:

-Tôi nào có làm gì xấu đâu mà nhà bác lại rượt theo tôi!

Nhưng người đầy tớ kia đã lôi anh sềnh sệch về trình chủ. Anh con tưởng là phen này chết tới nơi, sợ hãi đến ngất xỉu.Đại phú hào cho xối nước lạnh để anh lai tỉnh nhưng ông không hé răng nói một lời nào và thả cho anh ta tự do. Anh hành khất không hề hay biết gì cả, trở về xóm ổ chuột của mình.

Như thế, nhà đại phú hào mới nghĩ cách dạy dỗ anh con ngốc nghếch bằng một phương tiện khéo léo nên mới bảo hai người đầy tớ:

-Bọn mi hãy mướn hắn, trả lương gấp đôi và bảo hắn đến đây làm việc cho ta.

Hai người đầy tớ ấy mới tìm ra anh hành khất, mướn hắn quét dọn chuồng xí. Lúc đó, đại phú hào mới ăn mặc bẩn thỉu, đến gần anh ta rồi làm thân. Đến độ có hôm còn đặt câu hỏi:

-Ngươi có muốn điều ǵ không, cứ thử nói ta nghe. Hãy xem ta như là cha ngươi vậy.

Thế rồi ông gọi anh ta là “con”. Sau đó, anh hành khất cũng xem ông như cha.

Hai mươi năm trôi qua. Một hôm, đại phú hào biết mình sắp chết mới bảo anh hành khất hãy thừa kế toàn bộ tài sản của mình nhưng anh ta vẫn cứ sống đời thanh bạch. Lúc lâm chung, đại phú hào mới họp cả bà con và trình bày trước mặt đức vua và các đại thần câu chuyện của hai bố con và tuyên bố nhượng hết tài sản cho anh hành khất.

Câu chuyện này muốn nói bóng gió rằng nếu Như Lai đột nhiên bảo kẻ phàm phu: “Ngươi là con ta, ngươi là kẻ có khả năng thành Phật” thì cũng chẳng ai hiểu mà họ còn đâm ra sợ hãi. Chỉ có cách dùng phương tiện vi diệu để đưa họ tới giác ngộ. Thanh văn chúng (tức những kẻ đến nghe giảng đạo) đã nỗ lực theo con đường của Tiểu thừa thì cũng giống như anh hành khất cố gắng chùi chuồng xí vậy. Được Phật khéo léo chỉ dạy, Thanh văn chúng đã có thể đạt đến đỉnh cao của sự giác ngộ.

Sau đến thí dụ về cậu con thứ của một ông nhà giàu, phá của ăn chơi hoang đàng thấy trong Kinh Thánh Tân Ước sách Lu-ca đoạn 15. Chuyện này đă được đặt bên cạnh các thí dụ về con chiên đi lạc, về đồng bạc bị rơi mất trong đêm tối mà chủ nhân cố t́m cho kỳ được...trong bài giảng của chúa Giê-su, với ngụ ư rằng người con trai phá của sau khi tiêu xài hết và trở về nhà cha c̣n được ông ta tiếp đăi trọng hậu hơn cả cậu trưởng nam xưa nay chỉ biết chăm lo làm ăn và không phút nào rời xa cha ḿnh. Giống như trong Kinh Phật, truyện này muốn nói rằng những kẻ bê tha, tội lỗi nhưng biết ăn năn hối cải lúc nào cũng được Chúa Cứu Thế (h́nh ảnh người cha) mở rộng ṿng tay đón rước.

Nội dung của vở tuồng Yorobôshi ở đây có hơi khác với hai thí dụ nói trên  một chút. Chú tiểu mù vốn là người đức hạnh nhưng bị hàm oan chứ không phải một anh con trai phá của. Tuy nhiên nó vẫn dẫn đến cùng một kết luận có hậu v́ cuối cùng cha của chú đă biết hối lỗi, đi t́m và đưa chú trở về mái nhà xưa cao sang (taka) êm ấm (yasu). Ba câu chuyện ngụ ngôn trên đây (trong Kinh Phật, Kinh Thánh và tuồng Nô) đă có những điểm trùng hợp thú vị và phải chăng khi đặt chúng bên nhau, ta có thể thuyết minh được tính cách phổ quát (universality) của loại h́nh sân khấu này vậy.

Thư mục tham khảo: 

1- Yoroboshi hay Yorobôshi (Nhược pháp sư, Chú tiểu mù) Bản song ngữ Anh Nhật trên trang the-noh.com, lên mạng ngày 2/2/2017. Nguyên tác đến từ Dao Khúc Đại Quan (Yôkyoku Taikan) quyển 5 do Minh Trị Thư Viện (Meiji Shôin, Tôkyô) xuất bản, có tham chiếu các văn bản tiếng Nhật khác.

2- Nguyễn Nam Trân, Kinh Phật ở Nhật, tóm tắt theo sách do Nakamura Hajime chủ biên, 2018, Bukkyô Kyôten Sansaku (Dạo bước trong kinh điển nhà Phật), Kadokawa Bunko số 20812, Kadokawa, Tokyo, xuất bản. Về bài viết của NNT, xin xem trang mạng AMVC (Ăn Mày Văn Chương). 

3- Tin Lành theo thánh Lu-ca, trong Kinh Thánh Tân Ước, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội, 2003.

 

 Xem thêm :  * CHÚ TIỂU MÙ (Yorobôshi h́nh thức Nô cận đại) - Nguyên tác: Mishima Yukio

 ****


[1] Maru (Hoàn) hay Maro (Ma Lữ) là cách người Nhật thời xưa gọi một người đàn ông, thường là trẻ con. Shuntoku (Tuấn Đức) c̣n có thể đọc theo âm Nhật là Toshinori.

[2] Nhất Hành (Nhất Hạnh?, 683-727) cao tăng đời Đường, từng theo học Mật giáo với Thiện Vô Úy và Kim Cương Trí. Ông là tổ thứ 6 trong bát tổ của tông Chân Ngôn.Đă soạn ra Đại Nhật Kinh Sớ, một bộ sách giải thích kinh quan trọng của Mật tông.

[3] Trong ngữ cảnh này, có lẽ là Kara hay Kaya, tiểu quốc phía Nam bán đảo Triều Tiên, xưa kia có quan hệ mật thiết với Nhật Bản.

[4] Cửu diệu có nghĩa là ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao lớn.Ẩn dụ xem sự mù ḷa giống như một trạng thái mê lầm, lạc lối.

[5] Ám chỉ việc giảng kinh của Shôtoku Taishi (Thánh Đức Thái Tử, 574-622), một trong những người đă xây dựng Phật giáo Nhật Bản và nhà nước Nhật Bản.

[6] Ngày xưa ở Nhật, người ăn mày thường mặc quần áo như tăng khất thực. Suy từ tuổi tác, có thể gọi là một chú tiểu. Yoro (nhược, có hai nghĩa là ốm yếu hay mảnh mai, trẻ tuổi))

[7] Có lẽ tác giả muốn nói đến ư thơ của Ôtomo no Yakamochi, một thi nhân quan trọng thời Vạn Diệp. Xem bài 19-4238 trong Vạn Diệp Tập, NNT chú dịch, Hội Nhà Văn xuất bản, trang 469).

[8] Một giai thoại trong kinh Phật nói về khả năng con rùa mù, mỗi ngàn năm mới trồi đầu trên biển một lần, có lúc nó đút được đầu ḿnh vào trong cái lỗ của một tấm ván nhỏ trôi lênh đênh trên mấy đại dương. Ư nói trong đời Mạt pháp. duyên may được cứu rỗi của chúng sinh rất ít ỏi nếu không nói là hầu như không có.

[9] Nguyên lai là 4 vị thần đến từ Ấn giáo (Tŕ Quốc Thiên, Tăng Trưởng Thiên, Quảng Mục Thiên và Đa Văn Thiên) ở Tu Di Sơn, sau được Phật giáo xem là có nhiệm vụ bảo hộ Phật pháp. Thường dùng để chỉ bốn nhân vật trụ cột hay lừng lẫy về một bộ môn nào đó.

[10] Huệ Tư (515-577), ông tổ thứ hai của tông Thiên Thai Trung Quốc và thầy của Trí Khỉ. Huệ Tư là người đầu tiên đă nói về tư tưởng Mạt Pháp. C̣n có tên là Nam Nhạc Đại Sư.

[11] Trong cổ văn NB, giếng c̣n có nghĩa là suối nếu không phải là giếng nhân tạo.

[12] Các địa danh Awaji, Suma và Akashi đều là những nơi mà hoàng tử Hikari Genji, nhân vật chính trong Truyện Genji, từng ghé qua trong bước lưu đày.

[13] Cây cầu này cũng là một “gối thơ” nổi tiếng.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com