CẦM THÚ

(Kinjuu, 1933)


Nguyên tác: Kawabata Yasunari

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Tiếng chíu chít của mấy con chim nhỏ làm hắn bước ra khỏi giấc mộng chập chờn.Tiếng kêu ấy đến từ cái lồng chim to gấp đôi ba lần một cũi tù kiểu thời Edo dùng để giam trọng phạm, thường thấy trên sân khấu tuồng kabuki, đang được chất trên chiếc xe vận tải cũ nát.

Cái tắc xi hắn đi không biết tự lúc nào đă lọt vào giữa đoàn xe đưa ma. Đằng trước tấm kính xe đi sau nơi lộ ra bộ mặt của người tài xế, có dán một tấm giấy mang số hiệu “Hai mươi ba”. Quay nh́n bên bờ đường, hắn thấy có trụ đá với hàng chữ “Di tích lịch sử: Phần mộ Dazai Shundai[1]” nằm đằng trước một ngôi chùa Thiền. Trước cổng chùa lại thấy dán tấm giấy với tám chữ “Xuất môn bất hạnh, tân tống chấp hành” (Chùa đang làm pháp sự tiễn người quá văng).

Đoàn xe bị ùn tắc khi đang xuống dốc. Dưới dốc là một ngả tư, nơi có người cảnh sát giao thông đứng gác. V́ có đến một luồng xe 30 chiếc đang chen nhau đổ dồn về phía đó nên ông ta không sao điều chỉnh nổi, chỉ biết nh́n mấy cái lồng chim đem phóng sanh, mỗi lúc càng bực bội. Hắn bèn quay mặt qua phía người con gái trẻ ngồi bên cạnh đang cẩn thận ôm trong ḷng cái lẳng hoa và nói:

-Giờ chắc bắt đầu rồi nhỉ?

Thế nhưng một cô tớ gái cần ǵ phải đeo đồng hồ trên tay nên người lái xe mới trả lời thay:

-Bảy giờ kém mười lăm. Đồng hồ này chậm độ sáu, bảy phút đấy ạ.

Buổi chiều một ngày đầu hạ trời hăy c̣n sáng. Hoa hồng trong lẳng tỏa hương thơm nồng. Từ khu vườn nhà chùa thoảng lại mùi hăng hắc của những giống cây ra hoa vào tháng sáu.

-Thế là không kịp rồi. Bác có lái nhanh thêm được chút nào không?

-Bây giờ chắc tôi phải quẹo sang phải, không thôi khó ḷng lắm. Chứ thầy đi  Hội trường Hibiya làm ǵ đấy ạ?

Có lẽ bác tài hỏi vậy để xem ông ta có khả năng rước khách trên đường về hay không.

-Xem biểu diễn vũ, bác ạ!

-À, ra thế?...Phóng sanh từng ấy chim tốn bao nhiêu là của ấy, thầy nhỉ?

-Mà này, không biết dọc đường mà gặp đám ma như ḿnh th́ có xui xẻo ǵ không hở bác?

Có tiếng chim đập cánh toán loạn. Mỗi lần chiếc xe vận tải đảo qua đảo lại, lũ chim nhất tề kêu vang.

-Như thế là điềm may chứ thầy. Người ta bảo là không ǵ may mắn hơn.

Như muốn diễn tả lời nói của ḿnh bằng tay lái nên người tài xế đă thoát ra khỏi luồng xe bằng cách trượt bánh qua bên trái rồi cho xe chạy sấn tới phía trước đoàn xe tang.

-Lạ quá nhỉ! Ngược lại điều tôi nghĩ à?

Hắn vừa cười vừa thầm nghĩ rằng nếu thiên hạ có tập quán suy nghĩ ngược lại như vậy cũng là chuyện đương nhiên.

Giờ đây, đi xem Chikako biểu diễn múa mà hắn thấy ḿnh c̣n để ư đến hên xui, th́ quả là chuyện nực cười. Nói cho cùng, không phải là chuyện trên gặp đám ma trên đường mà chính là việc trong nhà hắn có đầy thi thể của những  động vật đă chết mới đúng là hành động có thể khiến hắn gặp cảnh xui xẻo.

Hắn nói mà như bày tỏ nỗi ḷng cho cô tớ gái ngồi bên cạnh:

-Tối nay về nhà em nhớ vứt hai con chim sẻ mào vàng (kiku-itadaki, goldcrest) cho tôi nha. Chắc xác chúng hăy c̣n nằm đâu đó sau cánh cửa âm (oshiire)[2] trên tường gác hai.

Cặp sẻ mào vàng đó chết hơn tuần nay. Hắn thấy việc đem chúng ra khỏi lồng là phiền toái nên đă vứt quách vào cái tủ bên vách. Nếu leo cầu thang lên gác sẽ thấy hốc tủ ấy nằm ở cuối pḥng. Khi nhà có khách tới chơi và phải đưa ra cất vào mấy tấm nệm con để ngồi, cả hắn lẫn cô tớ gái v́ đă quen thuộc với mấy cái xác chim đến độ đâm lười không đem đi vứt, đă mặc kệ cái lồng chim ấy nằm bên dưới đệm..

Chim sẻ mào vàng dược nuôi chung với những con chim cảnh khác như bạc má (higara, coal tit), chim sẻ hoa lau (kogara, willow tit), chim tiêu liêu (misosazai, wren), tiểu lưu ly (koruri, Siberian blue robin), sẻ đuôi dài (enaga, long-tailed tit). Về thân h́nh của loại sẻ mào vàng th́ nửa trên màu xanh ô-liu, c̣n nửa dưới màu vàng xám nhàn nhạt, trên cánh có hai vạch trắng, vè ngoài dùng để cắt gió lại màu vàng. Đỉnh đầu chúng có một cái ṿng màu vàng bọc quanh bằng một ṿng đen dày. Khi nó xù lông ra, đường vàng ấy nom càng rơ làm như thể nó đang đội một cái măo miện kết bằng những cánh hoa cúc. Nơi con trống th́ cái đai vàng này đậm như màu da cam (daidai). Đôi mắt của chúng tṛn vo lại rất khả ái. Chúng thích nhảy nhót, leo trèo dưới trần cao của cái lồng. Cảnh tượng đó trông hết sức dễ thương và thanh nhă.

Người bán chim mang chúng đến nhà hắn vào một buổi tối nên hắn đă vội đặt nó trên bàn thờ thần (kamidana), chỗ hơi thiếu ánh sáng. Thế nhưng sau khi nh́n được một đỗi, hắn mới nhận ra là cái dáng nằm ngủ của chúng trông rất đẹp. Hai con chim ghé người sát vào nhau, đầu của mỗi con lại rúc vào vùng lông cánh của con kia, nh́n cả hai trông chẳng khác chi một quả cầu bằng lông, tṛn vo, khó ḷng phân biệt con này với con kia.

Hắn, một người tuổi đă gần 40 mà vẫn sống độc thân, đă cảm thấy tấm ḷng thơ trẻ của ḿnh như được sưởi ấm. Hắn bèn quay lại bàn ăn và cứ thế chăm chú nh́n lên phía bàn thờ.

Hắn tự hỏi, trong thế giới loài người th́ ít nhất ở một đất nước nào đó, chắc phải có một cặp đôi sống trong mối t́nh đầu trong trắng cũng đang nằm ngủ bên nhau với một tâm trạng như hai con chim này chứ? Bỗng dưng hắn thèm có một ai bên cạnh để cùng ngắm nghía cảnh ngủ ngon của đôi chim nhưng đă không lên tiếng gọi cô tớ gái.

Kể từ hôm sau, khi ăn cơm, hắn đă đặt cái lồng chim ấy trên bàn, vừa ăn vừa ngắm hai con sẻ mào vàng. Chẳng những thế, lúc tiếp khách, hắn không hề ĺa xa hai con chim cưng đó. Hắn chỉ để nghe lấy lệ những lời khách nói, trong khi đó, hai bàn tay vuốt ve con chim ức đỏ (komadori) mới ra ràng và dùng ngón tay mớm mồi cho nó, say sưa dùng động tác bàn tay để tập cho nó ăn hay chăm chú bắt mấy con ḅ chét đang bám vào người con chó con giống Shiba (Shiba-inu)[3] đặt trên đầu gối.

-Giống chó Shiba này sao giống tướng mấy ông thày bói ghê. Tôi thích chúng lắm! Dù đặt lên đùi hay cho nằm ở góc pḥng, nó có thể không động đậy suốt cả nửa ngày đó nghe.

Thế rồi từ lúc ấy cho đến khi khách ra về, hầu như hắn không buồn ngước mắt lên để kiểm tra khách c̣n đó hay không.

-Không hiểu có phải v́ tuổi tác hay chăng mà dần dần tôi ít gặp đàn ông đi. Họ là những kẻ không có ǵ để ḿnh thấy thích thú. Tiếp họ, ḿnh thấy oải ra ngay. Dù đi ăn cơm ngoài hay du lịch, tôi chỉ thích đi với những được mấy bà tháp tùng.

-Cưới vợ đi ông, thế có hay hơn không?

-Chuyện đó à? Khó cho tôi lắm v́ tôi chỉ thích mấy cô gái không ưa bám theo ḿnh. Nếu được quen và đi lại một cô nào như vậy và không phải lo nghĩ ǵ khác, có khi lại hay. Cả khi muốn chọn một cô giúp việc, tôi cũng chọn ai đó có vẻ bất cần đời.

-V́ vậy mà ông mới nuôi thú vật?

-Động vật đâu có thờ ơ như người ta, hở ông. Khi không có một sự tồn tại sống động nào ở bên cạnh ḿnh, tôi cảm thấy buồn và cô đơn vô kể.

Hết ngước mắt nh́n trời và thở ra những lời lẽ như vậy, hắn lại nh́n xuống mấy con cá chép bé xíu, đủ màu, đang bơi lội trong bồn thủy tinh, ngắm nghía mấy cái vẩy óng ánh của chúng đổi sắc trong khoảng không gian chật hẹp của bồn chứa nước và cảm thấy đó là một thế giới đang phát ra những luồng ánh sáng tinh vi. Những lúc đó hắn quên bẵng sự hiện diện của người khác. 

Có ông lái buôn chim, mỗi lần nhận được một giống mới nào đó th́ chẳng cần phải nhắn, lại mang đến cho hắn. Thành thử nội trong pḥng đọc sách của hắn thôi, đă có đến trên ba mươi giống chim.

Cô tớ gái có vẻ khó chịu về chuyện đó nên mới hỏi:

-Ông lái chim lại mang cái ǵ đến nữa đó, hở thầy?

-Có sao đâu em. Nếu năm sáu hôm nay trong người tôi có cảm thấy khoan khoái là cũng nhờ mấy món đồ chơi rẻ mạt này đấy!

-Nhưng em thấy thầy lúc nào cũng lập nghiêm và cứ đăm đăm nh́n mấy con chim này.

-Em khó chịu quá. Bộ em đang có vấn đề à? Em muốn cho cái nhà này lúc nào cũng buồn xo hay sao chứ?

Cứ nh́n vào sinh hoạt của hắn th́ quả là trong ṿng hai ba hôm từ khi vừa mua được một giống chim mới, hắn lúc nào cũng hết sức tươi vui và tràn trề hạnh phúc. Hắn muốn cảm ơn thiên nhiên vạn vật và nghĩ rằng có lẽ là lỗi ḿnh gây ra chứ hắn chưa hề nhận được một t́nh cảm nào giống thế từ thế giới loài người. Khác với vẻ đẹp của ṣ ốc và hoa cỏ, qua động tác linh hoạt của những con chim nhỏ, hắn hiểu ngay được cái thần diệu của Tạo Hóa. Dù có bị nhốt trong lồng, chúng đă cho hắn thấy một cách rơ ràng niềm vui của sự sống. 

Đặc biệt là hai vợ chồng chim sẻ mào vàng nhỏ bé kia đă chứng tỏ được điều đó.

Thế nhưng chỉ có một tháng sau, khi đem mồi cho chúng ăn th́ một trong hai con đă vụt bay thoát khỏi lồng. Giữa lúc cô tớ gái c̣n đang hốt hoảng, nó đă đậu lên một cành cây long năo bên trên nhà kho. Cḥm lá long năo hăy c̣n đang đẫm sương mai. Giờ đây, hai con chim, một ở bên trong lồng, một ở bên ngoài, đang rướn cổ lên tiếng gọi nhau. Hắn bèn đem cái lồng lên trên mái nhà, đặt bên cạnh đó một cây sào bắt chim có bôi keo dính (mochizao). Thế nhưng sau khi gọi nhau nhiều lần như vậy th́ vào khoảng giữa trưa, con chim vừa thoát thân đă bay đi mất tiêu, chắc phải là về một nơi xa lắm. Cặp chim tước mồng vàng này vốn đến từ vùng rừng núi đằng sau Nikkô.[4]

Chim c̣n sót lại là một con mái. Nhớ lại kiểu đôi chim nằm ngủ nên hắn đă gọi người lái chim đến thúc giục kèo nài kiếm cho ḿnh một con trống mới. Bản thân hắn cũng đi khắp các hiệu chuyên bán các giống chim nhỏ nhưng vẫn không t́m ra. Măi sau, ông lái ấy mới đem đến cho hắn một đôi chim vừa bắt được, gửi đến từ một vùng quê. Hắn chỉ muốn mỗi con chim trống nhưng ông lái chim đă bảo:

-Chúng là một cặp ông ạ. Nếu tiệm tôi chỉ c̣n một con lẻ, tôi sẽ chẳng biết dùng vào việc ǵ. Thôi để tôi biếu không ông vậy!

-Thế nhưng ba con sống chung với nhau, liệu có ḥa thuận không, ông?

-Có chứ. Cứ nhốt chung bốn năm hôm trong một cái lồng, chúng sẽ quen hơi thôi.

Như một đứa trẻ vừa có trong tay một món đồ chơi, hắn không thể chờ đợi lâu la. Vừa về đến nhà, hắn đă bỏ ngay hai con chim mới vào cái lồng nơi có con chim mái cũ. Coi bộ chúng c̣n gây lắm chuyện lộn xộn hơn cả điều hắn dự đoán.Hai con chim mới không chịu đặt chân đậu trên thanh ngang trong lồng mà cứ đập cánh, bay hết góc này sang góc nọ, khiến cho con chim cũ sợ hăi nằm bẹp dí dưới đáy lồng, chỉ ngước mắt ngơ ngác nh́n lên cặp chim mới đang bay loạn xạ. C̣n chim mới th́ giống như một cặp vợ chồng đang gặp phải nguy cơ, cứ lên tiếng gọi nhau để chia sẻ sự lo lắng. Nói chung, cả ba con đều ở trong trạng thái khiếp hăi, ngực phập phồng và hơi thở dồn dập. Khi hắn thử đem cái lồng đặt vào cái tủ âm hốc tường, hai vợ chồng chim mới vừa kêu lên vừa t́m đến dựa sát vào nhau trong khi con chim mái lẻ bạn  tách ra một góc và có vẻ đứng ngồi không yên.

Nghĩ rằng ḿnh không thể để thế được, hắn mới tách chúng và cho vào hai cái lồng khác nhau. Tuy nhiên khi nh́n cặp chim có đôi và con chim mái lẻ loi, hắn thấy tội cho con chim ấy quá. Hắn bèn thử nhốt con chim mái cũ và con chim trống mới vào chung trong một cái lồng để xem sao. Thế nhưng con chim trống mới và vợ nó đang bị cách ly cứ gọi nhau không ngớt và nó không tỏ ra thân thiết với con chim mái cũ. Nhưng được một đỗi, không biết từ lúc nào, nó đă tiến đến gần con kia và ngủ. Đến buổi chiều hôm sau, khi hắn đưa chúng về chung một lồng th́ cảnh tượng nhốn nháo bữa trước đă không c̣n thấy nữa. Một con đă đưa thân ḿnh ra cho hai con chim kia dụi đầu vào nhau từ hai phía. Cả ba cùng ngủ với nhau và làm thành một ṿng tṛn lớn. Hắn cũng đặt cho ḿnh một chiếc gối cạnh lồng chim rồi nằm  cạnh chúng.

Dù vậy, sáng hôm sau, khi mở mắt ra, hắn đă thấy hai con chim nằm ngủ yên lành như một quả cầu lông, trong khi đó con chim thứ ba đang nằm, đôi cánh mở nửa chừng, ở đáy lồng, bên dưới thanh ngang dành cho chim đậu. Chân nó duỗi ra, mắt mở lim dim và đă chết.

Để cho hai con chim c̣n lại khỏi phải thấy cảnh tượng đó, hắn đă nhẹ nhàng kéo xác chết của con chim thứ ba ra khỏi lồng, bỏ vào thùng rác mà không cho cả cô tớ gái hay. Hắn nghĩ chính ḿnh đă giết nó một cách tàn nhẫn.

Hắn xăm xoi nh́n cái lồng chim nhiều lần và tự đặt câu hỏi “Con chim bị chết là con nào nhỉ?”. Ngược với điều hắn dự tưởng, h́nh như con mái sống sót lại là con mái cũ. Nếu so sánh với con mái hắn mới đem về cách đó hai hôm, hắn có vẻ yêu thích con mái cũ hơn v́ bản thân đă nuôi nó lâu ngày. Nhưng đó chỉ là điều nhận ra được qua cặp mắt yêu ghét đầy thiên kiến (yokume) của hắn thôi. Một kẻ sống cô đơn không vợ con như hắn vốn cũng nhiều khi thù ghét cách nh́n đầy thiên kiến của ḿnh.

-Nếu ḿnh không công bằng trong việc ban bố t́nh yêu như vậy, cớ sao ḿnh lại muốn sống chung với loài vật nhỉ? Có bao nhiêu con người đáng là đối tượng để cho ḿnh đối xử kiểu đó mà.

Giống chim sẻ mào vàng vốn yếu ớt và được biết là một giống khó nuôi. Thế nhưng kể từ hôm đó, hai con c̣n sót lại của hắn vẫn khỏe mạnh.

Thoạt tiên hắn sẽ nhận được mấy con chim non giống bách thanh (mozu, butcher-bird)[5] do bọn đi săn lậu đem tới và sau đó lại đến mùa người ta đem nhiều giống chim non từ trên núi xuống nên suốt ngày hắn sẽ phải bận rộn mớm mồi cho chúng đến độ không có dịp bước ra khỏi cửa. Hôm hắn đem một cái chậu giặt đồ ra dưới hàng hiên để tắm cho lũ chim nhỏ th́ đă thấy có những cánh hoa tử đằng[6] rơi vào trong chậu. 

Đang nghe tiếng đập cánh của lũ chim và quét dọn phân của chúng trong  lồng, hắn bỗng nghe phía bên kia bức tường ngoài sân có tiếng trẻ con nhốn nháo. Câu chuyện chúng đang bàn h́nh như liên quan đến t́nh cảnh đáng thương của một vật nhỏ bé nào đó. V́ e rằng không khéo mấy đứa con của con chó phốc (fox terrier) lông bạc (wired hair) của ḿnh đă sổng từ sân trong ra ngoài nên hắn mới tḥ đầu lên khỏi bờ tường để xem thử th́ mới thấy đó là một con sơn ca (hibari, lark) c̣n non. Tuy chân nó hăy c̣n chưa đứng vững nhưng đang phải loay hoay ngoi đôi cánh yếu ớt ở giữa băi đổ rác. Hắn chợt nẩy ra ư định đem về nuôi.

-Ǵ đó mấy cháu?

Một đứa học tṛ tiểu học bèn chỉ tay về hướng ngôi nhà màu xanh tối sẫm như màu lá ngô đồng trả lời:

-Mấy người ở cái nhà bên kia...Họ đem ra vứt đó. Thế nào nó cũng chết thôi.

-Ừ! Thế nào cũng chết.

Hắn trả lời một cách lănh đạm và rời khỏi bức tường.

Ngôi nhà trước mặt đó có nuôi ba, bốn con sơn ca. Biết rằng con chim non này trước sau ǵ cũng sẽ không biết hót nên họ đem vứt ra đó. Hắn nghĩ một giống chim chỉ ăn hại (kuzudori) như nó thời phải đem vứt thôi, và như thế, tấm ḷng xót thương mới đó của hắn đă tiêu ma lúc nào không biết. Khi chim c̣n non, có những loài chim người ta không thể phân biệt là là đực hay cái. Khi đem từ trên núi về, lái chim bưng nguyên cả tổ chim non và dần dần loại những con mái ra và đem vứt đi mất. Chỉ v́ không biết hót nên chim mái không được ai mua. Ngay cả chuyện yêu thương động vật, đương nhiên là con người cũng không tránh khỏi việc lựa chọn để chỉ giữ lại những con chim có phẩm chất họ đ̣i hỏi. Mặt khác, thật khó bỏ được một thói quen tàn nhẫn đă bắt rễ từ lâu đời. Tuy tính hắn rất yêu chuộng những con thú để làm cảnh, nh́n thấy chúng là muốn có ngay trong tay nhưng sau khi trải qua bao kinh nghiệm, đă trở thành một kẻ bạc t́nh như bao người khác. Rồi cũng bởi sự đọa lạc từ cuộc sống bản thân, bây giờ th́ đối với những loại chim và chó nổi tiếng đi nữa, nếu từng được nuôi bởi bàn tay của kẻ khác – cho dù người ta xin hắn giúp cho – hắn không tin rằng ḿnh sẽ nhận nuôi tiếp.

Sống cô độc như vậy nên hắn mới chủ trương rằng con người là một sinh vật đáng ghét. Sau khi họp lại thành vợ chồng, cha mẹ, con cái, dù không ưa ǵ nhau, họ đă lỡ tạo ra những mối liên lạc khó ḷng cắt đứt. Đă chán mứa nhau đấy, họ vẫn phải tiếp tục sống bên cạnh. Không những thế, mỗi người c̣n ôm theo một thứ gọi là cái “Ngă” nữa chứ.

Hắn c̣n nghĩ rằng khi xem sinh mệnh và sinh thái của động vật như món đồ chơi, xác định một mục tiêu để tạo ra một mẫu mực lư tưởng và uốn nắn, tôi luyện bằng một thủ pháp nhân tạo để có thể nuôi chúng lớn lên một cách đặc biệt, chúng sẽ trở thành thuần giống nhưng buồn tẻ chứ không có sự mới mẻ từng thấy nơi những công tŕnh sáng tạo của Thượng Đế. Việc truy cầu một ṇi giống tốt bởi những kẻ muốn ǵn giữ sự thuần túy của các loài động vật bằng cách ngược đăi chúng tượng trưng cho tấn bi kịch của thiên nhiên và cả loài người. Hắn cười khẩy khi nghĩ đến điều đó nhưng cũng t́m thấy lư do để tha thứ cho hành động ấy..

Một buổi chiều tháng 11 năm ngoái, một ông lái chó với bộ mặt vàng ệch như da cam của người bệnh thận kinh niên hay một chứng giống như thế đă đến nhà hắn và cho biết:

-Thú thực với thầy là tôi vừa làm một chuyện hết sức bậy. Vừa vào cửa công viên, tôi đă buông dây dắt con chó cái đang dẫn đi dạo. V́ sương mù dày quá, mới mất dấu trong một khoảnh khắc th́ nó đă bị chó hoang xông đến chồm lên. Tôi bèn kéo nó ra ngay, vừa chửi thề, vừa lấy chân đá vào bụng tận lúc con vật không c̣n đứng lên nổi. Thật t́nh tôi không hề ngờ cơ sự xảy ra như thế. Chuyện xảy ra thật là oái oăm nhưng nhờ làm như thế mà đă chận đứng được.

-Thế là không ổn rồi. Bác là dân nhà buôn chuyên nghiệp, sao lại để xảy ra như vậy.

-Vâng. Tôi xấu hổ lắm.Không đem chuyện này ra nói với ai được.Tiên sư cha nhà nó. Chỉ trong một phút giây mà tôi toi mất bốn năm trăm Yen[7].

Ông lái chó giận tái người, đôi môi vàng khè lại run lên bần bật.

Con chó giống Doberman dũng cảm thế kia mà chỉ biết gục đầu ủ rủ rồi thỉnh thoảng đưa đôi mắt khiếp sợ nh́n len lén về phía người lái chó bệnh thận. Sương mù từ đâu lại kéo tới.

Ông lái ấy đưa con chó cái ấy đến là định nhờ hắn giới thiệu mối để bán. Thế nhưng nếu lúc nó về nhà người mua, chó mẹ lại sanh ra những đứa con tạp chủng th́ với tư cách người môi giới, hắn sẽ ê mặt. Tuy hắn dặn rơ điều này nhưng ông lái chó v́ quá túng bấn nên ít lâu sau đă dấu hắn mà đưa đi bán. Rốt cuộc, được hai ba hôm đă thấy khách mua dắt chó đến nhà hắn. Th́ ra chiều hôm sau khi mua về, lũ chó nó sinh ra đă chết cả.

-Nghe tiếng chó tru, tôi h́nh dung được sự đau đớn của nó. Khi chị giúp việc kéo tấm liếp che mưa nh́n ra ngoài th́ thấy nó đang ăn những con chó con vừa mới đẻ dưới hàng hiên. Tôi vừa kinh ngạc vừa sợ hăi. V́ trời chưa sáng nên không thấy rơ là nó đẻ được bao nhiêu con nhưng theo lời chị giúp việc th́ h́nh như nó ăn con chó sinh ra cuối cùng trước tiên. Gọi ngay thú y tới, lại nghe nói là trường hợp chó mang thai, lái chó không có quyền im ỉm đem  bán. Chỉ có thể là khi bị chó hoang hay thứ chó nào đó đụng vào mà mang thai rồi sau c̣n bị đánh, đá một cách tàn nhẫn[8] nên mới xảy ra chuyện như thế này. Cách nó sinh đẻ cũng không b́nh thường nhưng cũng có thể nói nó đă có thói quen ăn con trước đó. Cả nhà tôi đều phẫn uất, đ̣i trả chó và lấy tiền lại. Nhưng con chó bị đối xử như thế này quả là tội nghiệp.

Hắn bế xốc con chó lên, vừa nắm lấy mấy cái núm vú nó vừa hỏi.

-Để tôi xem nào!

Hắn có vẻ bực tức v́ sự thiếu đạo đức của người lái chó, tuy có tội nghiệp con vật nhưng vẫn không dằn ḷng được mới nói:

-Đây là những núm vú nó dùng để nuôi con. Nay thấy lũ con chết, nó mới ăn chúng luôn đó.

Trong nhà hắn xưa kia cũng từng có cảnh chó tạp chủng sinh ra.

Khi lên đường du lịch, hắn không thể nào ngủ chung pḥng với anh đàn ông tháp tùng và trong nhà cũng không cho đàn ông ngủ trọ, ngay cả mấy anh học tṛ muốn đến làm công kiếm tiền ăn học. Điều đó không liên quan đến việc hắn không ngửi được đám đàn ông. Thế nhưng, khi nuôi chó, hắn chỉ nuôi toàn chó cái. C̣n như chó đực th́ phải là một con nhà ṇi thật ưu tú, nếu không, hắn sẽ không dùng để lấy giống. Một phần v́ khi mua vào là đă phải bỏ ra bộn tiền, sau c̣n phải phụ trách việc lăng-xê tên tuổi cho nó như cho một diễn viên điện ảnh. Sự thành công hay thất bại đều nằm ở chỗ đó. Vả lại, có khi c̣n phải cạnh tranh với các giống chó ngoại nhập khẩu nên việc này hên xui giống như đánh bạc. Có lần hắn đă đến một cửa hiệu buôn chó, bảo người ta cho xem một con chó Terrier gốc Nhật dùng để gầy giống. Con chó này đă quen nằm đợi chó cái trên gác hai suốt cả ngày và khi được ôm xuống nhà dưới, nó đă chắc mẫm là như thông lệ, người ta sẽ đem đến cho nó một con cái. Đó là một con chó thành thạo, một thứ đĩ đực, đă quen mui. V́ lông nó ngắn nên từ bên trong đă lộ rơ ra bộ phận sinh dục phát triển một cách dị thường, khiến cho người giàu kinh nghiệm như hắn mà cũng phải trố mắt nh́n và nghĩ ngợi vớ vẩn.

Tuy vậy, không phải v́ cớ ấy mà hắn ghét nuôi chó đực. Chẳng qua cái cảnh hắn thích nh́n nhất chỉ là lúc chó cái sinh nở và nuôi con. 

  

Con chó hắn nuôi và đẻ những đứa con tạp chủng là một con Boston Terrier tính khí quái gỡ. Mỗi lần gặp lúc động đực. nó luôn được cột lại một chỗ nhưng h́nh như đă cắn đứt dây, đào ngạch tường, gặm phá cái hàng rào xập xệ đan bằng lóng trúc và đi mất đất nên sau mới sinh ra lũ chó lai. Có điều là khi cô tớ gái lên tiếng gọi hắn đến nơi, hắn đă quan sát nó với cặp mắt b́nh tĩnh của một ông thầy thuốc:

-Đem kéo và bông băng ra đây. Thế rồi cắt gấp cho tôi ít dây quấn thùng rượu nữa.

Trong sân vườn nhà, chỉ có những nơi được mặt trời đầu mùa đông chiếu lên mới có một vẻ tươi sáng. Giữa mảng nắng đó, con chó mẹ nằm dài ngoẳng, từ trong bụng nó, một cái bọc giống như mấy quả cà tím với vài cái đầu chó con đang nhô ra. Khi chợt thấy con chó quẩy nhẹ đuôi như đang muốn cầu khẩn chủ, hắn cảm thấy là về phương diện đạo đức, ḿnh cũng có điều đáng để hối hận.

Con chó cái mới động t́nh lần đầu hồi năm ngoái nên cơ thể chưa thật sự trưởng thành. Do đó khi nh́n ánh mắt của nó, hắn thấy h́nh như con chó không hề hay biết là nó đang đến kỳ sinh nở.

“Thân thể ḿnh đang có ǵ biến đổi? Đang có chuyện ǵ sắp xảy ra đấy nhỉ? Không biết là ǵ nhưng coi bộ rắc rối đây. Làm thế nào bây giờ?”

Nó có vẻ bối rối nhưng trong cái nh́n ngây thơ ấy, nó như muốn giao phó vận mạng cho người trước mặt là hắn và không cảm thấy một chút trách nhiệm nào về những điều ḿnh đă làm.

Cảnh đó khiến hắn nhớ lại câu chuyện xảy ra 10 năm trước đây với Chikako. Lúc ấy, gương mặt của nàng trong giờ phút bán thân cho hắn, cũng hao hao giống khuôn mặt con chó bây giờ.

-Nghe nói những người làm cái nghề như em, dần dần sẽ đánh mất cảm giác. Có thật không anh?

-Không phải là không nhưng c̣n tùy em có gặp người đàn ông nào em yêu hay không nữa chứ. Nếu có hai ba người thường xuyên như vậy th́ đâu có thể nói việc của em là chuyện buôn bán.

-Riêng em, em yêu anh lắm đấy.

-Dù vậy, em đă hết cảm được anh rồi sao?

-Không, không có đâu anh!

-Thật à?

-Khi nào đi lấy chồng, chắc rồi em sẽ biết thôi.

-Biết thật hay không đấy?

-Chớ em phải làm ǵ mới chứng tỏ được điều đó hở anh?

-Chớ xưa kia em thế nào?

-C̣n vợ anh, chị ấy th́ sao?

-Thôi mà em.

-Này, kể cho em nghe với.

-Anh có vợ con ǵ đâu!

Nói xong, anh nh́n chăm chú vào khuôn mặt của nàng và ngạc nhiên khi nhận ra ánh mắt cô ta rất là thành thực.

-Bởi v́ con chó này có khuôn mặt giống như người ấy vào lúc đó nên nó mới làm cho ḿnh cảm thấy hối hận.

Nói xong, hắn bèn bế con chó cái lên và đưa vào cái thùng đă dọn sẵn cho chó đẻ.

Chó mẹ đẩy ra được một bọc thai nhưng h́nh như nó không biết cách phải xử trí làm sao. Hắn bèn dùng kéo rạch cái bọc ấy ra và cắt dây nhau. Bọc kế tiếp to hơn và bên trong, giữa một chất dịch màu xanh, hắn thấy có hai cái thai đă có tử khí. Hắn bèn nhanh tay lấy giấy nhật tŕnh bọc cả lại.Tiếp theo đó, có ba con khác được sinh ra. Tất cả chó con đều nằm bên trong mấy cái bọc thai. Thế rồi đến lượt con thứ bảy và cũng là con chó con cuối cùng. Tuy nó không ngừng động đậy nhưng người đă khô đét. Sau khi đưa mắt ngắm nghía nó một lát, hắn lại lấy giấy nhật tŕnh bao kín cái bọc.

-Em đem vứt hộ tôi chỗ nào đó đi.Người Tây phương họ không ngần ngại ǵ  việc loại bớt miệng ăn (mabiki), hễ thấy con chó con nào coi bộ sống không nổi là họ đem giết ngay. Kiểu đó thế mà lại hay v́ có thể tạo ra những giống chó khỏe. Người Nhật chúng ḿnh t́nh cảm quá nên không thể làm như họ được.....Này em, đem ḷng trứng tươi cho con chó mẹ ăn đi nào!

Sau đó, rửa tay xong, hắn lại vào buồng và lăn kềnh ra ngủ. Ḷng hắn lúc ấy đang tràn đầy một niềm vui v́ vừa chứng kiến cảnh tượng những sinh mệnh tươi tắn mới chào đời nên muốn dạo loanh quanh một ṿng trong phố. Hắn quên cả cái chuyện ḿnh đă tự tay để chết mất một con.

Tuy vậy vào một buổi sáng, khi mắt c̣n chưa mở để thấy đường th́ một con chó con khác lại chết. Hắn bèn bốc nó lên nhét vào bên trong lớp áo và lúc đi tản bộ ban sáng, đă vứt được cái xác. Hai ba hôm sau, một con khác lại lạnh ngắt. Chó mẹ v́ muốn sửa soạn ổ nằm, đă cho chân cào rơm rạ chung quanh và khiến cho chó con bị vùi trong đống rơm rạ ấy. Chó con lúc đó làm ǵ đă đủ sức hất rơm để ngoi ra và con mẹ cũng không ngậm đứa con lên để cứu nữa. Chẳng những thế nó c̣n đè lên lớp rơm con nó đang nằm bên dưới. Giữa đêm hôm, chó con vừa chịu sức ép bởi thân h́nh của mẹ, vừa bị lạnh cóng nên đă chết. Cảnh tượng này cũng từng xảy ra ở thế giới con người khi những bà mẹ ngu dốt áp vú ḿnh vào mồm con làm nó phải chết ngạt. 

-Lại chết thêm nữa rồi.

Hắn dấu cái xác của con chó con thứ ba vào trong áo một cách gọn ghẽ vừa huưt sáo gọi các con chó khác tập hợp để cùng đi dạo ở một công viên gần nhà. Thế nhưng con chó mẹ giống Boston Terrier vẫn hớn hở, lon ton chạy loanh quanh, không biết ḿnh là thủ phạm đă làm con chết. Khi nh́n cảnh ấy, hắn bỗng nhớ lại chuyện Chikako. 

Lúc Chikako vừa 19 tuổi, nàng đă được một anh chàng chuyên môn đầu cơ (tôkishi)[9] dắt qua thành phố Harbin[10]. Trong ṿng 3 năm trời, nàng đă học vũ[11] với những người Bạch Nga[12]. Nhân v́ anh chàng đầu cơ kia làm ǵ cũng thất bại nên mất hết sức chiến đấu, bèn kéo Chikako gia nhập một đoàn ca vũ nhạc đi tŕnh diễn đó đây bên Măn châu. Loanh quanh măi, về sau hai người mới đặt chân trở lại đất Nhật. Khi đến Tôkyô yên ổn được ít lâu, Chikako đă bỏ rơi anh chàng đầu cơ và kết hôn với một người đàn ông vốn là một tay đệm đàn trong ban nhạc và từng đồng hành với nàng từ bên Măn châu.Thế rồi sau khi đă làm việc hết sân khấu này đến sân khấu khác, nàng tự đứng ra tổ chức những buổi tŕnh diễn vũ nhạc riêng. 

Trong khoảng thời gian đó, hắn có dính líu đến các hoạt động ca nhạc và tŕnh diễn nhưng không phải bản thân có kiến thức âm nhạc mà chỉ v́ mỗi tháng có bỏ ra chút tiền mua ủng hộ một tạp chí trong ngành. Thế nhưng để có thể đấu láo với những người quen biết, hắn hay lui tới các buổi tŕnh diễn như vậy. Do đó, hắn có dịp xem Chikako biểu diễn và bị nét man dại và sa đọa của thân h́nh nàng lôi cuốn. Hắn không hiểu bí quyết nào đă giúp người con gái ấy t́m được một cái vẻ man dại như thế. Khi nhớ về Chikako của sáu, bảy năm về trước và so sánh với hiện tại, hắn không khỏi bàng hoàng. Và hắn c̣n hối tiếc là sao lúc ấy ḿnh đă không lấy nàng làm vợ. 

Tuy vậy, khi đến dự khán buổi diễn lần thứ tư, hắn chợt nhận ra rằng cơ thể của nàng đă suy sụp chứ không c̣n được như trước. Hắn vội vàng đi thẳng vào buồng tṛ, nơi nàng vẫn c̣n mặc nguyên trang phục múa và bắt đầu rửa son phấn trên mặt. Không lư ǵ tới hoàn cảnh lúc đó, hắn đă nắm ống tay áo và lôi nàng vào một góc tối khuất sau sân khấu.

-Bỏ tay anh ra chỗ đó đi! Chỉ cần ai chạm vào ngực là cặp vú em nó đau nhói.

-Sao có chuyện kỳ cục vậy?

-Tại hồi trước kia em thích con nít nên mới ham có con. Thật đó, em đă mong ḿnh sẽ có một đứa như ai.

-Bộ muốn nuôi con à? Ươn yếu như vậy làm sao mà hành nghề. Bây giờ có con để làm ǵ?

-Nhưng em không sao cưỡng nổi ư muốn đó.

-Đừng ăn nói tào lao. Một người đàn bà muốn thành nghề cần chuyên tâm. Đâu phải làm ǵ cũng được. Chứ chồng em nghĩ sao?

-Anh ấy vẫn vui vẻ và cưng yêu em.

-Hừ!

-Ngày xưa, dù làm nghề đó, khi biết ḿnh cũng có thể có con, em vui lắm.

-Như vậy th́ bỏ quách nghề múa đi!

-Không được!

Không ngờ lúc đó giọng nàng bỗng đanh lại làm hắn chợt im re.

Tuy vậy, Chikako chỉ đẻ có mỗi một lần. Thế rồi không c̣n thấy bóng dáng đứa con được sinh ra bên cạnh nàng nữa. Không hiểu là v́ cớ ấy hay không, nhưng theo lời đồn đại, cuộc sống vợ chồng của nàng đă trở nên u ám và họ bắt đầu bất ḥa kể từ dạo ấy.

Chẳng qua là, khác với thái độ của con chó Boston Terrier, Chikako không thể hững hờ với vấn đề con cái.

C̣n hắn th́ dù là với những con chó mới ra đời, nếu nghĩ có thể đỡ đần được là hắn ra tay giúp chúng ngay. Sau khi con chó con đầu tiên bị chết, hắn đă cắt rơm cho mịn hơn, trải một tấm khăn phải lên trên lớp rơm rạ và như thế, đă cứu được những con khác thoát khỏi cảnh bị mẹ đè. Dù vậy, con chó c̣n sót lại cũng đă chết đồng một kiểu như ba anh em của nó. Hắn không hề nghĩ rằng mấy con chó nó chết đi, ḿnh sẽ khỏe thân. Thế nhưng hắn đă không làm đủ cách để chúng sống c̣n. Hắn có thái độ lănh đạm đến cỡ đó chỉ v́ chúng là những chó không thuần giống..

Đôi khi bên lề đường vẫn có cảnh chó chạy theo hắn. Hắn vừa đi vừa tṛ chuyện với chó suốt đoạn đường dài. Về đến nhà, hắn lại cho ăn và cho nó ngủ trên mặt sàn ấm áp. Mấy con chó cũng cảm thấy được tấm ḷng tốt của hắn và điều đó làm hắn vui lên. Thế nhưng kể từ khi hắn bắt đầu tự tay nuôi chó th́ hắn không c̣n lưu ư đến những con chó tạp nhạp đă theo hắn từ ngoài đường. Đối với con người, chắc hắn cũng xử sự giống thế thôi. Nếu hắn khinh miệt vai tṛ của gia tộc trong xă hội loài người th́ cũng đă tự trào, chê bai lối sống cô độc của ḿnh. 

Con sơn ca con kia cũng thế thôi. Thái độ nhân từ muốn giữ mạng sống và nuôi dưỡng nó đă biến mất ngay khỏi ḷng hắn. Nếu nhặt một con chim đă bị người ta vứt đi chắc không biết sẽ phải dùng vào việc ǵ. Thôi th́ để mặc bọn con nít muốn hành hạ hay giết bỏ tùy ư, ra sao cũng được.

Tuy vậy, khi đưa mắt nh́n con sơn ca ấy và chỉ trong phút giây ngắn ngủi, hắn đă để cho đôi chim sẻ mào vàng thấm nước quá lâu.

Hắn kinh hăi và lôi cái lồng úng nước ra khỏi chậu tắm. Hai con chim đă ngă  dưới đáy lồng, giống như một miếng giẻ đẫm nước và không c̣n động tác. Hắn đặt chim trên ḷng bàn tay, thử khều khều xem chân chúng có c̣n nhúc nhích hay không.

-Tốt quá. Hăy c̣n sống đây này.

Vừa mới mừng rơn, hắn đă thấy mắt của đôi chim nhắm lại và hai cái thân thể nhỏ bé ấy lạnh cóng, dường như t́nh trạng đă hết cách cứu văn. Hắn bèn nắm đôi chim trong tay và đem đến gần cái ḷ sưởi dài bằng than (nagahibachi) để hơ cho ấm, rồi cho tiếp than vào và bảo người tớ gái quạt lên. Hơi nước bốc khỏi bộ lông cánh của con chim và hắn thấy nó giật giật như động kinh. Không hiểu con chim có chịu nổi sức nóng đang thiêu đốt thân h́nh và có đủ sức chống đỡ trước cái chết nhưng chính hắn cũng đang thấy tay ḿnh không chịu nổi cái nóng của ḷ than. Hắn mới đem cái khăn tay trải dưới đáy lồng và đặt mấy con chim lên hong trên lửa cho khô. Cái khăn bỗng đổi sang màu nâu xám như vừa bị lửa cháy xém. Con chim dăn người, dương đôi cánh đập toán loạn rồi bắt đầu lăn lộn. Nó không c̣n đứng nổi và mắt vẫn nhắm nghiền. Lông cánh hầu như khô ráo nhưng khi đem ra khỏi chỗ có lửa th́ cứ nằm không động đậy và người như mất hết  sinh khí. Cô tớ gái bèn đi qua ngôi nhà có nuôi chim sơn ca và hỏi thăm về cách đối phó khi mấy con chim nhỏ yếu sức th́ được người ta khuyên nên cho uống bancha (một thứ trà chát, rẻ tiền) và quấn vải chung quanh để ủ nó.

Hắn lấy bông g̣n bọc chim lại và cầm chúng trên tay, đợi cho nước trà nguội mới mớm vào mỏ chim. Chim bèn uống lấy. Khi đem mồi đă trộn sẵn (surie) đến bên cạnh, nó lại vươn cổ ra và mổ mấy cái.

-Ôi chao, chim sống lại rồi ḱa!

Hắn mừng ơi là mừng và khi đă hoàn hồn, hắn mới nhận ra rằng để cứu được mạng sống đôi chim đó, hắn đă mất những 4 tiếng rưỡi đồng hồ.

Thế nhưng hai con chim ấy không c̣n đậu được trên cái thanh ngang nữa. Mỗi lần đậu lên là chúng rơi xuống, h́nh như v́ không mở được mấy kẽ ngón. Đưa tay thử sờ vào th́ mới thấy mấy cái ngón ấy đă co lại và cứng nhắc. Trông chúng c̣n dễ găy hơn cả cọng cây khô.

-Hồi năy thầy chẳng đă đốt chảy cả chân chúng nó là ǵ?

Nghe cô tớ gái b́nh phẩm, hắn nh́n lại mới thấy chân chim đă khô xác và đổi màu. Trong bụng nghĩ là đă hỏng kiểu nên hắn đâm ra cáu kỉnh:

-Tôi đă đặt chúng trong ḷng bàn tay và đă trải một tấm khăn dưới đáy lồng, làm sao có thể làm cháy chân chúng được nhỉ? ...Nếu ngày mai mà không chữa chạy được, tới cửa hàng bán chim hỏi cách hộ tôi nha. 

 

Hắn bèn khóa trái pḥng đọc sách và giam ḿnh trong đó, xong bỏ chân đôi chim vào mồm để ủ cho chúng ấm. Hắn thiều điều rớt nước mắt xót xa khi lưỡi ḿnh chạm vào chân chim, và cuối cùng mồ hôi tay của hắn đă làm ướt hết cánh chim. Nước dăi hắn nhỏ ra đă giúp cho đôi chân của chúng mềm được một chút. Biết rằng khi rờ vào đó, chỉ cần không khéo tay là chân chim có thể bị găy nên trước tiên hắn giúp chúng duỗi được từ từng ngón một rồi để cho chim thử quặp ngón tay ḿnh bằng ngón chân của nó. Xong hắn lại đưa vào miệng ngậm thêm lần nữa. Hắn lấy cái thanh ngang bằng gỗ để chim đậu ra, chuyển mồi vào trong cái đĩa con đặt dưới đáy lồng, thế nhưng dường nhưng đôi chim vẫn khó đứng ngay ngắn và ăn uống được thoải mái.

Hôm sau cô tớ gái từ cửa hiệu bán chim về nhà thưa rằng:

-Ông hàng chim bảo có lẽ thày đă lỡ làm cháy mất cặp chân của chúng rồi.

Có như thế thật v́ hai con chim không ngừng mổ vào đôi chân của chúng, cho các ngón vào miệng ngậm hay muốn kéo dăn chúng ra. Trong tư thế của một con chim gơ kiến, chúng mổ vào cặp chân một cách mạnh bạo và liên tục như thể muốn nói: “Chân ơi, mi làm sao vậy! Có cố gắng cho một chút không nào?”. Dù đôi chân bị thương tổn, chúng vẫn can đảm t́m cách đứng lên. Thấy những sinh vật tuy nhỏ bé đang cố gắng t́m muôn ngàn cách phấn đấu, thiếu điều hắn muốn thốt ra một lời khích lệ.

Hắn đă cho chim nhấp những giọt bancha nhưng xem ra th́ loại trà này có tác dụng lên đầu lưỡi con người hơn là lưỡi của chim.

Hai con sẻ mào vàng mới bắt này vốn chưa quen hơi người. Cho đến lúc đó, khi hắn cầm chim lên, lồng ngực của chúng hồi hộp như có những cơn sóng. Tuy vậy, từ hai ba hôm sau khi chân bị đau, coi bộ chúng đă hoàn toàn quen thuộc với bàn tay hắn nắm, không những chẳng lộ vẻ khiếp hăi mà c̣n thích thú. Để cho tay hắn bao bọc quanh người, chúng vừa hót vang vừa mổ mồi chứ không như dạo xưa nên khi nh́n, hắn càng thêm thương.

Tuy vậy, việc chăm sóc của hắn đối với đôi chim không kéo được dài lâu. Nơi hắn đă lộ ra dấu hiệu của sự chểnh mảng. Mấy ngón châm co rúm của đôi chim cứ thế mà bê bết phân, rồi qua buổi sáng ngày thứ sáu, hai vợ chồng nhà sẻ mào vàng đă rủ nhau đi. Chúng chỉ c̣n là hai cái xác chết.

Cuộc đời của những con chim nhỏ sao mà mong manh. Hắn có nào dè là buổi sáng ấy khi nh́n vào cái lồng chim, chỉ c̣n thấy hai xác không hồn đang bày ra đó.

Trong nhà hắn, con chim chết đầu tiên là một con hồng tước (benisuzume). Cả một cặp đang đêm đă bị chuột giật rách mất đuôi, máu me nhuộm cả lồng. Ngày hôm sau, con trống lăn ra chết. Thế nhưng con mái th́ quái lạ thật, ngay cả khi con trống mới được đưa vào đó để thay thế cũng chết nốt, nó vẫn sống dài dài với cái mông lúc nào cũng lộ ra đỏ chót như đít khỉ.Tuy nhiên v́ suy nhược, cuối cùng nó cũng ra đi.. 

-Coi bộ nhà ḿnh không có hoa tay nuôi hồng tước. Thôi, đừng mó vào giống  này nữa.

Nguyên lai, hắn không thích hồng tước, vốn là loại chim dành cho đàn bà con gái. Chúng là loại chim không thích ăn loại mồi rắc (makiedori) cho bằng mồi trộn (suriedori) theo kiểu Nhật. Hắn vốn không mê những loại chim hót được (meichô) nên đă không có trong nhà những giống chim vốn có giọng réo rắt như vàng anh (katarina), oanh (uguisu), sơn ca (hibari). Thế mà hắn lại đi nuôi hồng tước. Chẳng qua là v́ ông lái chim đă mang nó đến nhà thôi. Nhân một con bị chết nên sau đó hắn mới mua thêm một con đắp vào chỗ nó.

Thế nhưng, kể cả trong việc nuôi chó, ví dụ có lần hắn nuôi giống Collie[13], th́ hắn mong sao ḍng giống ấy sẽ tiếp tục chứ không bao giờ bị dứt tuyệt trong nhà ḿnh. Cũng như mấy anh đàn ông mơ tưởng đến những nàng con gái giống bà mẹ ḿnh và yêu những cô có dáng dấp người yêu đầu đời của ḿnh. Họ cũng muốn cưới một cô gái giống hệt người vợ đă qua đời[14]. Có phải điều này nơi hắn không khác ǵ những điều mơ ước đó hay không? Lư do nuôi hồng tước có lẽ là v́ khi sống chung với những loài động vật như thế, hắn sẽ được tự do để cảm thấy được nỗi quạnh hiu trong sự cao ngạo của ḿnh. 

Chim chết sau hồng tước là một con chim ch́a vôi (hoàng tích linh, sekirei, wagtail), từ hông trở về đuôi có màu lục c̣n bụng th́ vàng. Hơn nữa, cái thân h́nh có màu nhàn nhạt dễ thương của nó, trông giống như một khu rừng trúc thưa. Đặc biệt là khi đă quen hơi bén tiếng, cho dù đang giữa lúc ăn, nó cũng giăng đôi cánh phủ lên đầu ngón tay của hắn và cất tiếng hót ríu rít rồi ăn mồi ngon lành và mổ lên cái nốt ruồi trên mặt hắn như muốn đùa với chủ. Cho nên cái hôm được hắn thả rong trong pḥng khách, v́ bội thực sau khi ăn bánh phồng (shiosenbe) hay một thứ ǵ đó mà nó đă chết th́ tuy thèm mua một con khác, hắn cũng đă dẹp đi không làm. Thay vào đó, hắn đă kiếm một con chim râu đỏ (akahige, Ryuukyuu robin) – một giống chim trước đây hắn không tha thiết mấy - để bỏ vào cái lồng vừa trống chỗ.

Việc để cho đôi chim sẻ mào vàng đuối nước rồi đau chân hoàn toàn là do sự sơ thất của hắn, ngược lại, khiến cho hắn không sao quên được chúng. Do đó hắn đă tới cửa hàng chim và đem về một đôi khác. Lần này khi cho chúng tắm, dù là h́nh chúng nhỏ bé đến đâu, mắt hắn không hề rời xa cái chậu. Thế mà rốt cuộc kết quả vẫn giống như lần tắm trước.

Khi chúng được đem ra khỏi chậu nước, người chúng đă ướt rũ và run lẩy bẩy nhưng mắt đă nhắm lại. Đôi chân c̣n đứng được nhưng c̣n run hơn trước. Lần này hắn đă có kinh nghiệm để lưu ư khỏi làm cháy chân chim.

Giữ b́nh tĩnh, hắn bẽn lẽn nói với cô tớ gái:

-Lại giống như lần trước mất! Em quạt lửa hộ tôi!

-Chao ôi! Thế nào thầy cũng làm chúng chết cho coi.

Hắn giật ḿnh như choàng tỉnh:

-Nhưng tôi nhớ là bữa trước, tôi đă làm như thế và cứu được mà!

-Có cứu được cũng không bền. Kỳ trước nh́n bàn chân chúng như vậy, em thấy thà để cho chúng chết c̣n hơn.

-Nếu ḿnh ra sức cứu th́ đă cứu được rồi..

-Em nghĩ nên để chúng chết yên thân, thầy à!

-Thật thế sao?

Cặp mắt hắn chợt nh́n về phía xa xôi. Cảm thấy thân thể mệt mỏi, hắn bèn leo lên gác hai, đặt chiếc lồng chim vào bên cửa sổ, nơi có ánh nắng soi và chỉ c̣n biết nh́n một cách bâng quơ cảnh một đôi sẻ mào vàng thứ hai đang chết dần...

Hắn cầu mong ánh mặt trời có thể giúp cho chúng phục hồi. Nhưng sao ḷng hắn lại đâm ra buồn một cách lạ lùng. Hắn cảm thấy cái dáng thảm năo của ḿnh đang được phô bày một cách trần trụi. Để cứu tính mạng của đôi chim nhỏ, hắn không c̣n t́m ra cái tinh thần tích cực vốn có trong lần trước.

Thế rồi, sức mỏn hơi tàn, hai con chim từ từ tắt thở. Hắn kéo hai cái xác đẫm nước từ lồng ra và tạm để chúng nằm trong ḷng bàn tay một đỗi. Sau đó hắn mới đưa chúng trở vào lồng và cất ở cái tủ âm góc tường. Hắn bước xuống thang đến tầng trệt nhưng chỉ nói với cô tớ gái mỗi một câu là: “Chết hết rồi!”.

Giông sẻ mào vàng thân thể mảnh dẻ, mất sức một chút là chết ngay. Thế nhưng mấy con sẻ đuôi dài (enaga, Japanese long-tailed tit), tiêu liêu (misosazai, wren) hay bạc má (higara, coal tit) nuôi trong nhà vốn có cùng một khổ người như chúng th́ vẫn sống khỏe mạnh. C̣n đây, hai lần hắn đem đi tắm hai lần hắn đă làm chết th́ thật khó hiểu. Hắn không khỏi nghĩ rằng nuôi chim cần phải có duyên với nó. Biết đâu - giống như khi để một con hồng tước phải chết trong nhà - th́ ngôi nhà của hắn đúng là một nơi khó dung cái giống chim này.

Hắn cười bảo cô tớ gái:

-Bây giờ nhà ḿnh hết duyên với sẻ mào vàng rồi đấy nhé!

Hắn để cho bọn chó con đang nằm lăn lóc trong pḥng khách đùa chơi bằng cách tŕ kéo mớ tóc trên đầu ḿnh, xong mới lựa từ trong đám 16, 17 cái lồng ở đó, chọn lấy một cái lồng có con cú sừng (mimizuku, horned owl) và đưa lên pḥng đọc sách trên gác.

Con cú sừng đưa mắt nh́n hắn, đôi mắt tṛn của nó có vẻ giận dữ, lúc lắc đầu rồi quay ṿng ṿng cần cổ, từ cái mỏ của thoát ra những tiếng phù phù như đang thổi. Giống chim này không bao giờ chịu ăn khi đang có ai nh́n.. Khi hắn dùng ngón tay kẹp một lát thịt đem đến gần bên, nó bèn ngoặm lấy một cách giận dữ và cứ thế mà tiếp tục để miếng thịt treo lủng lẳng như vậy chứ không thèm nuốt. Nó đă gan ĺ giữ dáng điệu như thế tận đến lúc trời sáng.Nếu có hắn bên cạnh ở th́ dù có đem mồi trộn (surie) đến, nó cũng chả thèm quay mặt lại và người cũng không động đậy. Thế nhưng khi trời bắt đầu sáng ra, dù là cú, nó cũng đă thấy đói. Nghe tiếng chân nó men theo thanh cây ngang về phía chỗ có đặt mồi trộn. Hắn quay lại nh́n. Với mớ lông  đầu xù ra, đôi mắt him híp - h́nh ảnh xui hắn liên tưởng đến một kẻ nham hiểm giảo hoạt - con vật đang hướng mỏ về phía đồ ăn. Bỗng nhiên nó ngẩng đầu lên và thổi phù phù về phía hắn với vẻ căm ghét rồi làm lơ hoàn toàn. Hắn nh́n đi chỗ khác th́ lại nghe tiếng chân con cú. Khi tia nh́n đôi bên chạm nhau, con cú bèn rời khỏi chỗ có đặt thức ăn. Trong khi chuyện này c̣n đang diễn đi diễn lại như vậy, đă nghe tiếng chim bách thanh (mozu) cất tiếng véo von chào đón b́nh minh. 

Thế nhưng hắn không xem con cú sừng là một con chim đáng ghét nữa, ngược lại, hắn thấy nó có thể an ủi hắn và giúp hắn tiêu sầu.

-Tao đang tự hỏi làm sao kiếm được một cô tớ gái tính nết được như mi đấy!

-Hừm! Ông tự hỏi như thế à. Láo vừa thôi nhé.[15]

Hắn khó chịu ra mặt, không thèm nh́n ông bạn này nữa mà quay ngoắc sang bên cạnh để gọi con chim bách thanh:

-Ki ki, ki ki...

Th́ thấy nó đă cao giọng liên tục trả lời như chào lại:

-Ki ki ki ki ki ki ki ki...

Tuy bách thanh cũng là một loại chim dữ (môkin, raptor) như cú sừng nhưng nó đă quen ăn trong ḷng bàn tay người nên thân thiết và thích được họ yêu chiều như một cô thiếu nữ. Mỗi khi hắn đi ra ngoài th́ lúc về nhà th́ khi nghe tiếng chân hay chỉ là tiếng ho của hắn thôi, nó đă hót rồi. Mỗi lần được ra khỏi lồng là nó sà lên vai, lên gối hắn, đập cánh tỏ vẻ mừng rỡ.

Thay cho đồng hồ báo thức, hắn để con chim bách thanh trên đầu nằm. Khi trời sáng ra, dù hắn đang trở ḿnh, quơ tay hay sửa lại gối, nó vẫn kêu lên những tiếng Chi chii chii chii chii chii nghe thật dễ thương và trả lời Ki ki ki ki ki ki khi nghe tiếng hắn nuốt nước bọt, làm như thể nó muốn đánh thức hắn dậy, đem lại sự sảng khoái cần thiết như một tia chớp lóe lên để hắn có thể bắt đầu một ngày sinh hoạt, Con chim phản ứng lại thái độ của hắn nhiều lần cho đến khi hắn hoàn toàn tỉnh giấc. Chính bách thanh là con chim đầu tiên trong ngày đă khiến hắn nghĩ rằng “Hôm nay ta lại có thêm một ngày đẹp nữa đây!” trước khi những con chim khác tiếp tục phụ họa. Hắn vẫn mặc nguyên bộ quần áo ngủ và mang mồi ra cho chúng. Tuy v́ bụng đói, con bách thanh đă ngấu nghiến ngay thức ăn nhưng cử chỉ mạnh bạo đó cũng là cách nó tiếp nhận tích cực t́nh yêu đến từ phía hắn.

Những khi đi du lịch, chỉ cần ngủ ở ngoài một đêm là hắn đă nằm mơ thấy những con chim, con thú và tỉnh giấc trong đêm nên hầu như hắn không bao giờ chịu vắng nhà. Không biết cái thói quen ấy có quá mạnh hay không nên khi đi thăm ai hoặc ra chợ búa, nếu chỉ có một ḿnh th́ mới nửa đường là hắn đă đâm ra chán phè và muốn quành về nhà. V́ vậy, chi nhằm lúc không có đàn bà đi theo, hắn buộc ḷng phải cho cô tớ gái đi cùng.

Chuyện xem Chikako tŕnh diễn vũ cũng vậy, hắn đă tạo ra sự rắc rối bằng cách bắt cô bé ấy cầm lẳng hoa theo ḿnh. Giờ đây hắn không c̣n có thể đổi ư để nói ngược kiểu:“Thôi dẹp đi em, ḿnh về nào !” và kéo cô ấy trở lui được.

Buổi tŕnh diễn vũ tối hôm đó do một nhật báo tài trợ, sẽ có khoảng 14, 15 vũ công có hạng thi múa để tranh giải.

Lần trước hắn xem Chikako biểu diễn cách đây khoảng hai năm nhưng mắt hắn đă phải lăng đi chỗ khác khi nhận ra tài diễn xuất của nàng đă xuống dốc không phanh. Không c̣n thấy đâu dư ba của sức sống man dại ngày xưa, nó chỉ c̣n đem lại một mỹ cảm b́nh thường. H́nh thức cơ bản của điệu vũ, với suy sụp của thân thể, nàng đă không thể nào duy tŕ được nữa.

Tuy người tài xế cho biết là không sao nhưng một đằng giữa đường gặp phải đám ma, đằng khác lại có hai các xác sẻ mào vàng nằm ch́nh ́nh trong nhà, hắn bèn mượn cớ tránh việc xui xẻo, chỉ nhờ cô tớ gái đem lẳng hoa vào buồng tṛ tặng Chikako thay ḿnh. Kỳ thực, hắn thấy bây giờ đi xem vũ mà c̣n muốn t́m nàng để nói chuyện dông dài là việc khó khăn nên chỉ định trà trộn vào đám người hâm mộ đến buồng tṛ vào giờ giải lao thôi.Thế nhưng khi đến được căn pḥng, thay v́ đứng chờ ở chỗ ra vào, hắn đă nhanh nhẹn nấp đằng sau cánh cửa. 

Lúc đó, Chikako đang để một anh đàn ông trẻ trang điểm cho ḿnh.

Nàng lặng ngồi nhắm mắt, có lẽ đang tập trung tinh thần, cổ vươn ra, hoàn toàn phó mặc cho anh chàng kia. Phần môi, mi, má và cổ trên khuôn mặt bất động kia vẫn chưa được tô trắng lên cho nên nàng giống như một h́nh nhân không sinh khí. Có thể nói đó là khuôn mặt của một tử thi.

Mười năm về trước, đă có lần hắn và Chikako định cùng nhau quyên sinh v́ t́nh (shinjuu).Thời điểm đó, hắn có cái tật hễ mở mồm ra là cứ đ̣i chết cho được, tuy rằng trên thực tế, hắn không có lư do nào để muốn chết. Đó chỉ là một điều mơ ước giống như đóa hoa của một đám bọt nổi lên lềnh bềnh từ mặt sóng của một đời độc thân giữa bầy chim và thú. Hắn đă t́m đến Chikako để có một người cùng đồng hành về thế giới bên kia v́ nàng là người chưa từng có kinh nghiệm sống, đang chờ đợi ai đó đem lại cho ḿnh một niềm hy vọng trong cơi đời này và sẽ hững hờ giao phó định mệnh của ḿnh cho người ấy. Như có thể đoán được, gương mặt Chikako mà hắn thấy lúc đó là gương mặt của một người không hiểu ǵ về ư nghĩa của việc ḿnh làm, chấp nhận nó một cách không suy tính. Nàng chỉ xin hắn mỗi một điều:

-Nghe nói vào lúc ấy, gấu áo sẽ tung ra, nên em chỉ xin anh buộc hộ hai chân em lại cho thật chặt. 

Lúc gút lại giây để buộc áo nàng cho chặt, hắn kinh ngạc nhận ra rằng cô gái có một đôi chân thật đẹp.

Hắn nghĩ người ta sẽ nói về hắn: “Tên đó đă được chết chung với một cô gái xinh đẹp như thế này đây!”

Chikako nằm quay mặt về phía lưng hắn, nhắm nghiền đôi mắt ngây thơ,  cần cổ vươn ra, rồi chấp hai bàn tay lại. Một t́nh cảm hư vô bỗng lóe lên và đánh vào đầu hắn như một tia chớp.

-Thôi, chết làm quái ǵ!

Hắn không có ư định giết nàng và cũng không muốn chết. Lúc đó là một buổi xế trưa giữa mùa hè.

Thế nhưng có điều đă làm hắn vô cùng ngạc nhiên. Đó là sau lần ấy, ngay trong những giấc chiêm bao, chưa có lần nào hắn nh́n thấy lại một cảnh tự sát và cũng không bao giờ mở miệng nói ra những chuyện như thế nữa. Lúc đó chỉ có một t́nh cảm vang vọng từ đáy ḷng hắn. Đó là việc hắn tiếp tục nghĩ rằng dầu chuyện ǵ xảy ra đi nữa, người c̣n gái này vẫn là một con người xứng đáng cho ḿnh trân trọng.

H́nh ảnh của Chikako lúc phó mặc cho anh con trai kia trang điểm đă làm hắn nhớ lại khuôn mặt của một Chikako ngày xưa chấp hai tay trước ngực. Hồi năy, giấc mơ chập chờn giữa ban ngày trên chiếc xe tắc-xi cũng mang h́nh ảnh đó. Dù là đêm hôm, mỗi khi chợt nhớ đến Chikako th́ hắn vẫn đắm trong huyễn tưởng là đang đứng trước ánh sáng chói ḷa của một buổi trưa giữa hạ.

-Dù vậy, cớ sao ḿnh phải lẻn vào nấp đằng sau cửa nhỉ?

Hắn lẩm bẩm như vậy và đi ngược về phía hành lang th́ đă thấy bóng một người đàn ông đang chào ḿnh ra chiều thân mật. Trong một đỗi, hắn c̣n đang tự hỏi không biết anh ta là ai th́ người đàn ông đó đă tỏ ra hết sức hứng khởi:

-Đúng quá phải không anh? Có dịp biểu diễn đông người như thế này, ḿnh mới thấy Chikako bộc lộ hết tài năng của cô ấy nhỉ?

-Ơ, chào bạn.

Hắn đă nhớ ra. Anh này là nhạc công đệm đàn, người chồng của Chikako.

-Độ rày bạn ra sao?

-Vâng. Em định đến chào anh đấy chứ. Số là hồi cuối năm ngoái, Chikako và em vừa mới ly hôn. Nhưng anh thấy không, Chikako múa tuyệt quá, anh nhỉ? Người sao mà tài thế không biết!

Hắn cũng muốn t́m ra một lời nào ngon ngọt nhưng không hiểu tại sao, ḷng hắn cứ nặng trĩu. Thế rồi, một câu văn bỗng hiện ra trong trí hắn.

Lúc đó, trong túi áo, hắn có mang theo tập di cảo của một cô gái chết lúc mới 16 tuổi. Dạo sau này, đọc văn của các cô các cậu trẻ là một niềm vui của hắn. Bà mẹ của cô con gái 16 tuổi ấy, vốn là người đă trang điểm thi thể, trong ngày con gái chết, đă viết vào phần cuối cuốn nhật kư của cô ta một cảm tưởng. Câu ấy là: “Đó là khuôn mặt của người được trang điểm lần đầu tiên trong đời. Giống như khuôn mặt cô dâu”.

 

Shôwa 8 (1933)

Dịch ngày 20 tháng 2 năm 2022 (NNT)

 

 

Bên lề tác phẩm: 

Cầm thú (Kinjuu) là một truyện ngắn của nhà văn Kawabata Yasunari được đăng trên Tạp chí Kaizô (Cải Tạo) số 7 năm Shôwa 8 (1933), sau được in thành tập chung với Huyễn tưởng pha lê (Suishô Gensô, 1931) vào năm 1934.

Nó là một trong những đoản thiên sơ kỳ thuộc giai đoạn 1925 cho đến 1935 chịu ảnh hưởng của văn phong tân cảm giác (Shin-Kankakuha, Neo-sensualism) đến từ phương Tây[16], viết sau một loạt hồi ức về thời thơ ấu cũng như về mối t́nh đầu với nàng Chiyo, trước khi nhà văn t́m thấy một văn phong thăng bằng và vững chăi hơn.

Từ khi ra đời, “Cầm thú” đă được nhiều nhà phê b́nh chú ư và cho đến nay, dư luận vẫn xem nó như một tác phẩm tuy ngắn nhưng không kém phần quan trọng trong văn nghiệp ông.

Chẳng những ở Nhật, truyện này đă lôi cuốn sự chú ư của người ngoại quốc. Bằng cớ là đă có các bản dịch sang các ngôn ngữ như Anh, Hàn, Trung, Ư, Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Việt. Trong khi dịch từ nguyên tác Nhật ngữ, chúng tôi đă tham khảo thêm bản dịch của Seidensticker (Of Birds and Beasts) và Sylvie Regnaut Galtier &Suematsu Hisashi (Bestiaire). Riêng tựa đề Of Birds and Beast khá thú vị v́ nó làm liên tưởng tới Of mice and men (Của chuột và người, 1937) của một tác giả Nobel khác là John Steinbeck (1902-1968), người đồng thời với Kawabata. Trong “Của chuột và người”, nhân vật Lennie yêu súc vật, muốn nâng niu nó nhưng v́ bản chất thô bạo và ngu ngơ, hắn đă làm chúng phải chết. Nó ngẫu nhiên trùng hợp với hành động của nhân vật “Hắn” trong “Cầm thú”, dù yêu chim chóc, đă hai lần vô t́nh làm chết cặp chim cưng mà “hắn” đă săn sóc và tắm táp cho. Phải chăng đó là “T́nh thương vô ư gây nên tội” hay thảm kịch của những hành động chủ ư chí, một chuyện vẫn thường xảy ra trong cuộc đời. 

Trong Cầm thú có 3 nhân vật chính và một số nhân vật phụ. Ba nhân vật chính là: 

1-“Hắn” (Kare) một người đàn ông tuổi khoảng 40. Độc thân, yếm thế, hàng tháng bỏ tiền ủng hộ một tạp chí âm nhạc và thường xuyên đi xem múa và nhạc.Tính thích nuôi chó và chim nhỏ như thú cưng nhưng điều này không cấm anh ta nhiều khi tỏ ra lănh đạm và vô t́nh. 

2-Chikako, một cô gái điếm trẻ sau học được nghề vũ do các thầy người Bạch Nga ở Măn châu dạy cho trong 3 năm trời. Nàng là t́nh nhân cũ của hắn, có lần định quyên sinh với nhau. Lấy chồng, đă một lần có con. Đang xuống dốc trên đường nghệ thuật v́ lư do tuổi tác. 

3-Những con chim nhỏ và đàn chó được “hắn” nuôi như thú cưng và tạo giống thuần chủng. Con số các loại chim và thú được kể tên ra đă chứng tỏ Kawabata sành sỏi việc nuôi thú cưng và tỉ mĩ về chi tiết trong lúc hành văn. (V́ không phải là nhà chuyên môn về các giống chim và thú, chúng tôi chỉ dịch tên gọi theo kiến thức hạn hẹp của ḿnh và sẽ chỉnh lư sau nếu cần) 

Các nhân vật phụ là cô tớ gái, người lái tắc xi, ông lái chim, ông lái chó, người khách tới chơi, lũ con nít láng giềng, anh chồng nhạc công của Chikako, người mua con chó Doberman và đem trả lại sau đó khi thấy nó ăn chính con ḿnh đẻ ra và chết lúc đó. 

*** 

Trong thực tế, Kawabata đă từng nuôi chó và chim trong thời kỳ ông ở khu Shitaya (Tôkyô) từ năm 1929 tức 4 năm trước khi ông viết “Cầm thú”. Ông từng viết về cách đỡ đẻ cho cho trong một tiểu thuyết trong ḷng bàn tay (Aiken anzan, 1935)[17] và tỏ ra là người trợ sản mát tay. Ngoài ra, trong giai đoạn nói trên, ông cũng đă làm việc cho nhà hát Casino Folies ở Asakusa và quen với các cô vũ công trong số đó có diễn viên ballet Umezono Ryuuko (Mai Viên, Long Tử) mà sau này ông đă dùng chất liệu có được để viết Asakusa Kurenaidan,1929-30) nên quen thuộc và hiểu biết về những cuộc tŕnh diễn múa.

Tuy được giới phê b́nh khen ngợi nhưng điều đó làm ông khó chịu và đă nhắc lại sự bực ḿnh của ḿnh trong “Tự truyện về đời văn” (Bungaku jijoden, 1934). Kawabata luôn luôn phủ nhận liên hệ của ông với nội dung tác phẩm. Ông bảo rằng nhân vật “Hắn” không phải là ông và nội dung của “Cầm thú” xuất phát từ việc ông muốn phơi bày những ǵ ḿnh căm ghét.

Dù sao, theo lời các nhà phê b́nh th́ qua “Cầm thú”, Kawabata đă cực tả được t́nh cảm “hư vô” của kiếp người. Hư vô là tiến gần đến sự chết nhưng không phải chính sự chết. Ngoài ra, nó c̣n là câu truyện kể về sự tương phản giữa hai thế giới trữ t́nh (jojô) và phi t́nh (hijô). H́nh như v́ muốn trốn cái thế giới trữ t́nh của con người vốn đă gây ra cho “hắn” nhiều đau khổ và chán nản, “hắn” đă trốn vào thế giới phi t́nh của chim chóc và súc vật, Tuy nhiên đằng sau cái “vô tâm” của thú vật, “hắn” đă chạm phải ngưỡng cửa của hư vô nhưng không dám vượt qua v́ sau đó chỉ c̣n là cái chết.

Đọc những điều Kawabata mô tả về sự kiến tạo những giống thuần chủng, có người sẽ nghĩ ông bị lôi cuốn bởi ưu sinh học (eugenics), một luồng tư tưởng khá “quyến rũ” đương thời nhưng nay đă bị công luận đào thăi. Thế nhưng đây có thể chỉ là một phản ứng tự nhiên đến từ phẫn uất cá nhân v́ Kawabata đă bị ông trời bắt ḿnh sinh ra trong một gia đ́nh bệnh hoạn và mang thể chất ốm yếu. Ông rất lo lắng trước sự suy thoái của cơ thể (có thể kéo theo sự biến chất của nghệ thuật như trong trường hợp Chikako). Ngoài ra, ở đâu đó, ông cũng hàm ư phê phán cái xấu xa của con người (lái chó, lái chim) khi muốn tạo ra một vẻ đẹp nhân tạo, giả dối.

Một độc giả đặc biệt của Kawabata là Mishima Yukio đă cho rằng “Cầm thú” là một bài viết về “Nghệ thuật luận” v́ có thể là nó muốn nói lên thái độ của nhà văn trước sự sáng tạo. Không phải lúc nào nhà văn cũng thành công, họ có thể sinh ra những đứa con chết yểu hoặc lai căng, không giống như họ trông đợi. Câu hỏi của Mishima là phải chăng người viết văn chỉ t́m thấy nguồn cội sức mạnh của sinh mệnh trong chính sự bất lực của họ trước những vấn đề mà đạo đức đă đặt ra. Và phải chăng đó cũng là bi kịch chung của văn chương?

Mishima đă đánh giá Cầm thú là một trong “Tam tuyệt” của Kawabata, ngang với Tiếng rền của núi (Yama no oto) và chùm truyện ngắn và tùy bút nhan đề Sorimachi rensaku.[18] Cũng nên để ư Cầm thú ra đời 2 năm trước khi Kawabata thai nghén Xứ Tuyết (Yukiguni, 1935-47), tác phẩm kết thúc thời gian t́m ṭi về thủ pháp tân cảm giác và đánh dấu điểm xuất phát của một văn phong dung ḥa và thành công hơn mà Kawabata sẽ ǵn giữ và phát triển cho đến cuối đời.

Một chi tiết nhỏ: được biết tập di cảo của cô bé 16 tuổi mà Kawabata nhắc đến ở cuối truyện có tên là “Di cảo của Yamakawa Yachie”.

 NNT

                    

Tư liệu tham khảo: 

1-     Kawabata Yasunari, Kinjuu (1933) trong Tuyển tập Izu no odoriko, do Kadokawa xuất bản dưới dạng sách bỏ túi, sơ bản 1951, bản sử dụng : bản tái bản lần thứ 47 năm 1992. Nguyên tác Nhật ngữ.

2-     Kawabata Yasunari, Kinjuu (1933) (Bestiaires) bản tiếng Pháp của Sylvie Regnault Gatier và Suematsu Hisashi, in trong Tuyển tập Kawabata, Romans et Nouvelles, Fujimori Bunkichi chủ biên, La Pochothèque xuất bản, 1997. Bản ngoại văn tham chiếu.

3-     Trang Wikipieda Nhật Bản (từ khóa: Kinjuu (Cầm thú).

 


[1] Dazai Shundai (Thái T, Xuân Đài, 1680-1747) Nho gia, một học giả phái Cổ văn từ, sống vào thời Edo.

[2] Tủ bên ngoài có cánh cửa kéo và dùng bức tường như vách bên trong, thường khá rộng và dùng cất chăn đệm, mỗi tối đem ra trải trên mặt sàn lát chiếu thay giường.

[3] Shiba-inu: Giống chó nổi tiếng của vùng Yamagata phía Bắc Nhật Bản, lông ngắn, tai vễnh, đuôi cuộn tṛn, sắc vàng hung hung đỏ, có thể dùng vào việc săn thỏ.

[4] Thành phố nhỏ, thanh u ở phía Bắc Tôkyô, nơi có nhiều chùa chiền lăng tẩm.

[5] Bồ chao hay bá lao (theo từ điển Nguyễn Văn Khôn). Người Nhật viết là bách thiệt (mozu) là một loại chim họ se sẻ, lông màu xám và có đuôi dài.

[6] Hoa tử đằng (fuji) rơi vào chậu ư nói thời điểm cuối xuân đầu hè.

[7] Giá trị đồng Yen thập niên 1930 cao gấp ngh́n lần bây giờ.

[8] Chủ chó đánh đá chó cho nó phải có nguy cơ trụy thai không thôi sẽ mất giá.

[9] Mẫu người phiêu lưu quốc tế, sống bằng đủ nghề miễn là có lợi, qua lại làm ăn ở các thuộc địa (như Măn châu, Đài loan) trong giai đoạn đó.

[10] Thành phố trước đây thuộc Măn châu, nay là thủ phủ tỉnh Hắc Long Giang (Trung Quốc).

[11] Có lẽ là vũ kiểu Âu (ballet)

[12] Sau Cách mạng tháng 10, nhiều người Bạch Nga muốn lánh nạn đă di dân sang vùng đất người Nhật kiểm soát (ngay cả Tôkyô). Xem Anna người Nhật, do NNT dịch.

[13] Collie là một giống chó Anh, lông dài, tai vễnh, bụng trắng, trên lưng và hông có đm đen hay nâu, xưa dùng đ chăn cu nhưng nay trở thành thú cưng (ái ngoạn).

[14] Đó là cách yêu đàn bà của Hoàng tử Hikaru Genji trong Truyện Genji. Có thể xem đây là một luyến ái quan của người Nhật chăng?

[15] Đoạn này hơi khó hiểu, có nhiều cách dịch. Xin dịch theo bản dịch sang tiếng Pháp (như một cuộc đối thoại ng tượng giữa nhân vật Hắn và con cú trong đầu nhân vật).

[16] Về các đoản thiên cùng thể loại này, có thể kể đến Biển xanh, biển đen (Aoi umi, kuroi umi,1925), Phong cảnh mùa xuân (Haru keishiki, 1930), Quyển sách của người chết (Shisha no sho, 1928), Huyễn tưởng pha lê (Suishô genshô, 1931), Khúc t́nh ca (Jojôka, 1934), Sora wo mita hitotachi (Những người đă thấy bầu trời, 1933), Cầm thú (Kinjuu, 1935) vv…

[17] Xem bản dịch nhan đ “Cún cưng sinh nở b́nh yên” của Nguyễn Nam Trân. Tư liệu mạng.

[18] Sorihashi rensaku là một tứ bộ tác (Tetralogy) gồm Sorihashi, Shigure và Sumidagawa (cả ba ra đi năm 1948). Sumidagawa, tác phẩm

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com