GHÉ BÁN ĐẢO SHIMODA

NHỚ VỀ BA CON NGƯỜI BẠC MỆNH

 

Nguyễn Nam Trân

 

TOP | 下田開国博物館

 

 

Trên bước đường du lịch, tôi may mắn có hai lần đặt chân lên Shimoda, thành phố nhỏ nằm ở mỏm tận cùng bán đảo Izu, miền Trung nước Nhật. Trước nhà ga Shimoda, người ta hãy còn dựng chiếc tàu theo mẫu con tàu đen của Đề đốc Perry, người đã đưa một đoàn chiến hạm vỏ bọc thép đến đây để đòi người Nhật mở cửa thông thương vào giữa thế kỷ 19 (1853). Shimoda là một thành phố biển thơ mộng, đáng yêu nhưng không phải v́ phong cảnh của nó, mà do ba nhân vật tôi được “gặp” ở đây đã đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm khó thể phai nhòa. Có thể nói rằng điểm chung nối kết họ lại với nhau là số phận, một số phận hết sức bi đát. Tôi muốn nói đến chí sĩ Yoshida Shôin, cô geisha Tôjin Okichi và nhà thơ nữ Kaneko Misuzu.

 

 

Yoshida Shôin (1830-1859)

Người đọc sử cận đại Nhật Bản, ai cũng nhớ đến vụ đại ngục năm Ansei (1858, Ansei 6), đúng ra là cuộc thanh trừng đẫm máu của Mạc phủ đối với những lực lượng cần vương muốn cứu đất nước trước hiểm họa ngoại bang. Trong những người lănh án tử h́nh có chí sĩ Yoshida Shôin. người lỗi lạc nhất. Ông tên là Norikata (Cự Phương), tự là Nghĩa Khanh, thường được gọi là Torajirô (Dần Thái Lang), sinh năm 1830 (Tenpô nguyên niên) trong một gia đ́nh phiên sĩ ở Chôshuu. Trước kia vốn họ Sugi, sau làm con nuôi nhà Yoshida, một sĩ tộc hạng trung, chuyên nghề giảng binh pháp. V́ thế, thuở thiếu thời ông chỉ chuyên chú đọc binh thư. Từ năm 1853 (Kaei 6), ông mới lên đường du học đó đây, chú ư đến thời sự và mưu đồ đổi mới đất nước từ khi có sự kiện đoàn tàu đen của Perry đến Nhật đ̣i mở cửa thông thương. Thấy rơ sức mạnh của người nước ngoài đang lăm le xâm chiếm nước ḿnh, ông mới bỏ binh pháp mà theo học văn minh kỹ thuật phương Tây. Theo lời khuyên của học giả Sakuma Shôzan (1811-1864), thầy ḿnh, ông phạm vào quốc cấm là t́m cách vượt biển ra nước ngoài. Sau khi định lên thuyền Nga ở Nagasaki và bị thất bại, ông hai lần xuống Shimoda để đi nhờ tàu Mỹ (chiếc Mississipi, ngày 25 tháng 4 năm 1854) của Perry, lại bị từ khước. Ông bị bắt về Edo tống vào ngục nhưng sau được cho về giam lỏng tại Hagi (Chôshuu) là nơi quê nhà.

Lúc ở trong tù, ông giảng về Mạnh Tử cho tù nhân, sau khi về quê rồi, ông vẫn tiếp tục dạy triết lư ấy trong ṿng họ hàng thân thích. Bài giảng của ông gồm cả những lời b́nh luận nhan đề Kômô Satsuki (Giảng Mạnh Cháp Kư), sau đổi tên thành Kômô Yowa (Giảng Mạnh Dư Thoại) cho thích hợp. Năm sau, ông mở “Trường thôn dưới bóng tùng” (Shôka sonjuku = Tùng hạ thôn thục / Trường thôn Matsumoto) và thu nhận đệ tử khắp nơi. Nhiều người đă trở thành những nhà lănh đạo tương lai thời Duy Tân. Sau v́ phản đối kịch liệt việc Mạc phủ kư hiệp ước giao hiếu thông thương trong những điều kiện bất lợi với liệt cường, việc chọn người kế vị chức Shôgun không thích hợp, cũng như mưu toan chống đối chính quyền đương thời mà ông bị liên lụy trong Vụ đại ngục và bị trảm thủ vào năm 1859 (Ansei 6), lúc mới 29 tuổi. Ông chính là người đă nhóm lên ngọn lửa đấu tranh cho phong trào tôn quân nhương di, khẩu hiệu của thời Mạc mạt vậy.

Nếu đơn giản hoá tư tưởng của Shôin th́ đó là quan điểm “nhất quân vạn dân”, “vương thổ vương dân”, nhấn mạnh đến liên hệ quân thần và ḷng trung thành tuyệt đối vào thiên hoàng, cơ sở tư tưởng kokutai (quốc thể, national communion) đặc biệt của các nhà quốc học người Nhật. Ngoài Giảng Mạnh Dư Thoại, ông c̣n viết Tây Du Nhật Kư, Lưu Hồn Lục vv..

Thế nhưng nếu chỉ chủ trương tôn nhương mà người thanh niên lúc chết chưa đến 30 tuổi đầu và giảng về Mạnh tử thôi lại khiến cho quốc dân khâm phục đến thế th́ có ǵ không hợp lư. Guillaume Carrée[1] đă dẫn ra một đoạn văn dịch Giảng Mạnh dư thoại đáng suy ngẫm như sau: .

Tuy nhiên tôi nghĩ rằng trọng pháo, chiến hạm hay y học của bọn man di, những hiểu biết về thiên văn và địa lư của chúng có thể rất có ích cho nước ta. Chúng ta phải du nhập thật nhiều vào trong nước...Nếu loại bỏ cái học Tây phương bởi v́ nó đến từ bọn man di, v́ do những kẻ man di tạo ra, th́ thử hỏi tại sao một người như Mạnh tử lại không tiếc lời ca ngợi Trần Lương (nhân vật người dịch chưa rơ xuất xứ, NNT) dù ông ta là một kẻ man di miền nam đến từ nước Sở để phục vụ ở Trung Nguyên. Những bậc minh quân ngày xưa khi dùng người, không hề loại bỏ người hiền chỉ v́ gốc gác man di của họ. C̣n nếu như người đó vẫn giữ tâm địa man rợ và kỹ thuật của hắn không đem lại lợi ích cho quốc gia th́ lúc ấy hăy chém đầu hắn tại chỗ.

Khi tôi muốn theo tàu trốn sang đất Mỹ, Tượng Sơn tiên sinh (Sakuma Shôzan), thầy tôi, có căn dặn: Nếu việc ra đi này không thực hiện bởi một người có một tấm ḷng trung cang thiết thạch th́ sẽ là một mối nguy hại cho nhà nước. Nhưng theo ta, nhà ngươi đúng là kẻ xứng đáng để thực hiện việc đó”.

Tóm lại, Yoshida Shôin đă đại diện cho một thế hệ sống trong mâu thuẫn lớn là quan ngại sức mạnh của những kẻ muốn xâm lược nước ông nhưng cũng bị thu hút v́ văn minh kỹ thuật tiến bộ của họ. Với một tấm ḷng sắt đá muốn giữ ǵn bản chất dân tộc, ông và các môn đệ đă có đủ tố chất để vượt qua khó khăn. Môn hạ của ông về sau đều là những nhân vật lỗi lạc, trong đó phải kể đến Takasugi Shinsaku (Cao Sam Tấn Tác), Kuzaka Genzui (Cửu Phản, Huyền Thụy), Itô Shunsuke tức Hirobumi (Y Đằng Tuấn Phụ tức Bác Văn), Yamagata Aritomo (Sơn Huyện, Hữu Bằng), Shinagawa Yajirô (Phẩm Xuyên, Di Nhị Lang) vv...Họ là những nhà hoạt động đă có công lao đổi mới nước Nhật từ giai đoạn cuối mạc phủ bước qua Meiji. Chỉ trong ṿng hai năm, một thời gian cực ngắn, Shôin đă thành công đào tạo chừng ấy những vĩ nhân cho Nhật Bản. Ông thật là một nhà giáo dục đáng ca ngợi.   

Ngày nay, vùng Hagi vẫn c̣n ǵn giữ cẩn thận ngôi “trường thôn dưới bóng tùng” của ông. Đây là một nơi khách hành hương tấp nập lui tới.

 

Niên biểu Yoshida Shôin:

1830 (1 tuổi): Con trai thứ sinh ra trong gia đ́nh phiên sĩ Sugi Yurinosuke 杉百合之助thuộc phiên Chôshuu長州, ở ngoại ô thị trấn Nagato Hagi長門萩. Hồi nhỏ được gọi là Toranosuke虎之助, qua nhiều lần thay đổi, trở thành Torajirô虎次郎. Tên là Norikata矩方 (nhiều đời cha ông, tên đều bắt đầu bằng chữ Nori), tự là Shigi子義 hay Gikei義卿. Họ Sugi đời đời phụng sự lănh chúa Môri 毛利nhưng chỉ là một samurai cấp thấp. Gia phong cần kiệm hiếu học, có tiếng đức hạnh nơi xóm làng.

1835 (6 tuổi): Ông kế nghiệp nhà Yoshida khi dưỡng phụ là Yoshida Daisuke qua đời.Tuy nhiên vẫn sống với gia đ́nh Sugi. Ḍng họ Yoshida có truyền thống binh học trường phái Yamaga山鹿, phụng sự các lănh chúa Môri. Năm đó, đổi tên thành Yoshida Daijirô大次郎.

1836 (7 tuổi): Lănh chúa Chôshuu là Môri Narihiro mất, Takachika kề nghiệp.

1839 (10 tuổi): Lần đầu chính thức dạy ở trường phiên Meirinkan 明倫館như sư gia binh pháp nhà Yamaga dưới sự coi sóc của các trợ tá.

1840 (11 tuổi): Lănh chúa mới triệu tập các sư gia để thử tài học. Shôin giảng chương Chiến pháp trong Bukyô Zensho (武教全書 Vũ giáo toàn thư). Lănh chúa ngạc nhiên về tài năng và được biết thầy ông là Tamaki Bunnoshin玉木文の進.

1842 (13 tuổi): Giảng Vũ giáo toàn thư trước mặt lănh chúa. Chú là Bunnoshin mở trường Shôka Sonjuku 松下村塾nhưng v́ bận công vụ nên trường không tiếp tục mở thường xuyên.

1843 (14 tuổi): Cha ruột là Sugi Yurinosuke được bổ nhiệm chức đứng đầu lực lượng cảnh bị pḥng ngừa đạo tặc.

1844 (15 tuổi): Lại có dịp giảng Vũ Giáo Toàn Thư trước mặt lănh chúa. Lại giảng thiên Hư thực trong sách Tôn Tử, là bài dạy sở trường của ḿnh. Lănh chúa hết sức khen ngợi và tặng cho bộ sách Shichisho Chokkai (七書直解Thất thư trực giải). Thất thư là tên 7 bộ binh thư Trung Quốc gồm Tôn Tử, Ngô Tử, Tư Mă Pháp, Úy Liêu Tử, Tam Lược, Lục Thao, Lư Vệ Công vấn đối.

Năm ấy, có sự kiện lănh chúa phiên Mito là Tokugawa Nariaki bị răn đe v́ làm phật ư mạc phủ. Hải phận Nhật Bản lại thường xuyên xảy ra nhiều việc phức tạp.

Người cậu của Shôin là Kubo Gorô Zaemon về ở ẩn, tụ tập trẻ con trong làng dạy học. Sau trường ấy cũng mang tên là Shôka Sonjuku.

1845 (16 tuổi): Học với Yamada Matasuke, ngoài binh pháp Naganuma của thầy, c̣n được biết thêm t́nh h́nh thế giới. Nghiên cứu thêm binh pháp của gia đ́nh ḿnh với Tamaki Bunnoshin và Yamada Uuemon.

1846 (17 tuổi): Thiên hoàng Nhân Hiếu (Ninkô, 1800-1846) băng. Thiên hoàng Hiếu Minh (Kômei) thường gọi là Keiô ( Khánh Ứng, 1831-1866) kế vị.

Shôin trọ học ở nhà phiên sĩ Hayashi Masato. Cũng trong năm này, tu nghiệp về pháo thuật nhà Hagino và trận pháp Tây phương.

1848 (19 tuổi): Chính thức trở thành sư gia độc lập, không c̣n cần đến các trợ tá. Đệ đơn xin sửa sang Meirinkan.

1849 (20 tuổi): Meirinkan mới được xây dựng. Shôin góp phần soạn các qui định về trường lớp và học sinh. Ông lại soạn Suiriku Senryaku (水陸戦略Thủy lục chiến lược) nêu ra cách thức đề pḥng giặc ngoài xâm phạm bờ biển. Sách được phiên dùng tham khảo.

Cùng năm, nhận được lệnh thị sát các vùng hải ngạn Susa, Ôtsu, Toyoura, Akamagaseki...Dẫn dắt học tṛ đi tập luyện thực địa ở vùng Jôtô Uranodai.

1850 (21 tuổi): Giảng sách Trung Dung trước mặt lănh chúa. Anh ông là Umetarô được bổ làm quan cai trị ở địa phương nhỏ (chức gun- bugyô). Giảng Vũ Giáo Toàn Thư, về thiên Đại tướng tâm định trong chương Thủ thành khiến cho lănh chúa cảm kích, muốn theo học binh pháp nhà Yamaga.

Cuối tháng 8, từ giă quê nhà (Hagi) để xuống đảo Kyuushuu học hỏi. Trên đường, thăm danh sĩ vùng Kokura, Saga, Ômura, Nagasaki, Hirado, Amakusa, Shimabara, Kumamoto, Yanagawa, Kurume cũng như xem xét những di tích lịch sử. Đặc biệt ở lại Hirado đến 51 ngày, thảo luận với Hayama Sanai và Yamaga Mannosuke để hiểu thêm về binh pháp của trường phái ḿnh. Đọc được nhiều sách mới.

Tháng 12, về lại Hagi, viết Saiyuu nikki (西遊日記Tây du nhật kư) nói về chuyến đi.

1851 (22 tuổi): Giảng trứ tác của Tôn Tử cho lănh chúa. Lại trần t́nh về chương tŕnh luyện tập văn vơ.

Theo lănh chúa lên Edo với mục đích nghiên cứu binh pháp.Ghi lại cuộc hành tŕnh này trong Tôyuu nikki (東遊日記Đông du nhật kư). Trong thời gian lưu ngụ Edo, theo học Azumi Gonsai, Koga Chakei, Yamaga Sosui, Sakuma Shôzan. Giao du với Toriyama Shinsaburô, Miyabe Teizô, Nagahara Takeshi, Saitô Shintarô. Để lại Shingai nikki (辛亥日記Tân Hợi nhật kư).

Từ tháng 4 đến tháng 8, mỗi tháng 2 lần giảng binh thư cho lănh chúa. Tháng 6, đi Kamakura với Miyabe, có dịp quan sát vùng Tương châu (Sagami) và Pḥng châu (Suô) gần Edo.

Tháng 6, xin được du lịch vùng Đông Bắc. Cuối năm, v́ một sự cố, bỏ trốn lên phiên Mito (Hitachi). Các bạn như Miyabe cũng lên theo. Gặp gỡ tại đó những danh sĩ như Aizawa Kôzô, Toyoda Ganjirô. Bắt đầu có cảm t́nh với tinh thần học vấn của phiên Mito.

1852 (23 tuổi): Từ Mito, đi cùng với Miyabe lên vùng Đông Bắc (qua Shirakawa, Aizu, Ni igata, Sado, Akita, Hirosaki, Aomori, Morioka, Sendai,Yonezawa), sau đó về lại Edo. Được lệnh phải về quê. Đến nơi, đóng cửa chờ hỏi tội. Trong thời gian ấy, nghiên cứu quốc sử. Con em trong vùng đến xin học. Sự việc có ghi lại trong Suiyo jiroku (睡余事録Thụy dư sự lục). V́ việc trốn phiên bỏ đi, bị trục xuất khỏi hàng ngũ gia thần, chịu sự cai quản của cha ruột, Sugi Yurinosuke. Tuy vậy, lănh chúa tiếc tài, theo lời xin của người cha, cho phép rời phiên du học 10 năm.

1853 (24 tuổi): Tháng giêng, bắt đầu lên đường chu du. Đổi tên thành Torajirô. Tháng 5, viếng đền Ise rồi lên Edo. Dọc đường, quen biết được nhiều tay danh sĩ và học hỏi nhiều điều có ích. Đặc biệt chịu ảnh hưởng của Morita Setsusai. Những việc đó c̣n ghi lại trong Kichuu Yuureki Mokuroku (葵丑遊歴目録Quư sửu du lịch mục lục).

Tháng 6, nghe tin hạm đội Mỹ đến Uraga, bèn xuống tận nơi thăm ḍ hư thực. Thấy thời vụ cấp bách, không quản nguy hiểm, tŕnh bày ư kiến riêng nhan đề Sôkyuu shigen (将及私言Tương cập tư ngôn) cho lănh chúa, chủ trương mạc phủ phải lo lập kế hoạch bảo vệ bờ biển từ Kyôto tới Ise.

Cũng trong lúc này, theo học Sakuma Shôzan 佐久間象山về pháo thuật Tây phương, suốt ngày bàn luận kế hoạch với các đồng chí.

Tháng 9, rời Edo với ư định lén xuống Nagasaki, theo chiến hạm của Nga đang ghé hải cảng đó để di ra nước ngoài xem xét t́nh h́nh. Thế nhưng khi đến nơi (tháng 10), tàu Nga đă nhổ neo.

Tháng 10 về Hagi để cùng các bạn như Miyabe Teizô, Noguchi Naonojô sửa soạn lên Edo.

Shôgun đời thứ 12 là Ieyoshi (Gia Khánh, 1793-1853) chết vào tháng 6. Shôgun mới, Iesada (Gia Định, 1824-1858), kế vị vào tháng 11. Đến Kyôto rồi đi Ise Owari và giao lưu với các danh sĩ của hai vùng này trước khi đặt chân lên Edo. Có viết bút kư Nagasaki Ryokô (長崎旅行Trường Kỳ lữ hành) nói về chuyến đi Nagasaki.

1854 (25 tuổi): Tháng giêng, hạm đội Mỹ lại đến buộc mạc phủ trả lời về vấn đề ḥa ước thông thương. Shôin bèn xuống vùng Sagami, quan sát bờ biển hơn 10 hôm. Khi về viết bản thảo cho Kaisensaku (Hải chiến sách海戦策) để tŕnh lên bề trên.

Tháng 3, Nhật Mỹ kết ước. Sau đó đến lượt Anh (tháng 8), Nga (tháng 12) kư với Nhật những điều ước tương tự. Cũng vào lúc ấy, Shôin đi cùng Kaneko Shigenosuke từ Edo xuống Shimoda với ư định khẩn khoản người Mỹ để được theo ra nước ngoài. Đêm 27 tháng 3, bị họ cự tuyệt không cho lên tàu. Tin ấy phát giác, hôm sau phải ra tự thú với chính quyền Nhật. Liền bị bắt giam tại chỗ rồi giải về Edo. Sự việc có ghi trong Sangatsu nijuushichinichiyoki (三月二十七日夜記Tam nguyệt nhị thập thất nhật dạ kư). 

Tháng 9, Mạc phủ hỏi tội Shôin, Kaneko Shigenosuke, Sakuma Shôzan và một vài người khác có liên hệ. Cả ba đều bị gửi về phiên ḿnh để chịu án.

Cũi tù được giải ngay về Hagi. Tháng 10, Shôin bị giam trong ngục Noyama 野山, c̣n Kaneko Juunosuke金子重之助 giam ở ngục Iwakura. Chuyện xảy ra cho ông hồi tháng 3 cho đến lúc này có ghi chép trong Kaikoroku (回顧録Hồi cố lục). Trong ngục, ông c̣n viết Yuushuuroku (幽囚録U tù lục) giải thích lư do tại sao ḿnh muốn ra nước ngoài. Gia đ́nh ông từ cha (Yurinosuke), anh (Umetarô) đến chú (Bunnoshin) đều bị giam lỏng để cảnh cáo từ tháng 4 nhưng đến tháng này th́ được xá tội.

1855 (26 tuổi): Khoảng thời gian nằm trong ngục Noyama, ông gắng gỗ học tập. Tên các sách vở đọc trong thời gian đó có chép lại trong Noyamagoku dokushoki (野山獄読書記Dă Sơn Ngục độc thư kư).

Bạn đồng chí là Kaneko Shigenosuke chết trong ngục. Shôin tiết kiệm tiền ăn để dành giúp gia đ́nh ông ta, đủ để lập bia mộ cho bạn. Ông lại soạn Shiki shichisaku (士規七策Sĩ qui thất sách), tŕnh bày phương pháp tu dưỡng của kẻ sĩ.

Tháng 4, ông bắt đầu giảng sách Mạnh Tử cho bạn đồng tù để dạy dỗ họ. Hai anh em người cai ngục Fukugawa Sainosuke cũng xin đến nghe giảng. Không khí trong chỗ giam tội nhân thành ra đổi khác. Ông c̣n để lại Gokuchuu haikai (獄中俳諧Ngục trung bài hài), Shôgetsu gasô (賞月雅草Thưởng nguyệt nhă thảo) nói về những bài thơ làm được trong lúc ấy.

Tháng 12, phiên ra lệnh cho cha ông (Yurinosuke) phải đem Shôin về biệt giam và quản lư ở nhà riêng. Shôin lại giảng Mạnh Tử ở đấy cho một số người và soạn được Noyamagoku bunkô ( 野山獄文稿 Dă Sơn Ngục văn cảo), Noyamagoku zatsucho (野山獄雑著Dă Sơn Ngục tạp trứ) chia làm 4 loại, Shinkoku Kanhô ranki (清国咸豊乱記Thanh quốc Hàm Phong loạn kư) kể lại thời hỗn loạn chính trị dưới triều Thanh.

1856 (27 tuổi): Tháng 4, bày tỏ quan điểm Thất sinh báo quốc trong Shichishôsetsu (七生説Thất sinh thuyết)[2] ư nói ḿnh có chết đi, kiếp sau cũng sẽ báo đền ơn nước.Tháng 6, soạn xong tất cả các bài giảng về sách Mạnh Tử đă bắt đầu thời gian ở trong ngục. Góp thành tác phẩm Kômô yowa (講孟余話Giảng Mạnh dư thoại).). Cũng vào tháng 6, tăng Mokurin (Mặc Lâm) ở Aki (Hiroshima) - người quen cũ cùng chủ trương cần vương với ông - trao đổi bằng thư, thảo luận đào sâu về những khái niệm cơ bản như Quốc thể và Thời vụ, soi sáng giúp ông xác định quan điểm về Quốc thể luận của ḿnh. Tháng 8, trong pḥng giam tại nhà, Shôin giảng Vũ Giáo Toàn Thư cho thân tộc. Người quen biết kéo nhau tới nghe, rốt cuộc pḥng biệt giam hầu như trở thành nhà học. Ông có kể chuyện ấy trong Heishin nikki (丙辰日記Bính Th́n nhật kư).

Tháng 9, Shôin viết Shôka sonjuku ki (松下村塾記Tùng hạ thôn thục kư) tŕnh bày lư tưởng giáo dục của ḿnh cho người cậu là nhà giáo Kubo. Trong năm này, Shôin hầu như chỉnh lư xong quan điểm của ḿnh về nhân sinh, về giáo dục và về quốc thể. Ngoài Kômô yowa (Giảng Mạnh dư thoại), ông c̣n viết được Bukyô Zensho kôroku (武教全書講録Vũ Giáo Toàn Thư giảng lục), Heishin yuushitsu bunkô (丙辰幽室文稿Bính Th́n u thất văn cảo) và sao lục được một số tư liệu về tiếp xúc ngoại giao với các triều Tống, Nguyên, Minh. 

1857 (28 tuổi): Tháng 10, Townsend Harris, tổng lănh sự Mỹ đầu tiên tŕnh quốc thư. Tháng 11, nhờ sự giúp đỡ của em cô cậu là Kubo Seitarô (Cửu Bảo Thanh Thái Lang), đă sửa sang được gian buồng 8 chiếu tatami trong một ngôi nhà nhỏ thuộc khuôn viên nhà Sugi để làm nơi dạy học cho Shôin. Đây là Shôka Sonjuku mới. Học tṛ lúc đó có khoảng 10 người. Dần dần c̣n số tăng lên nhờ được biết tiếng.

Học tṛ giỏi là Kusaka Genzui (Cửu Phản Huyền Thụy久坂玄瑞) kết hôn với Fumi, em gái Shôin, ở ngay tại nhà vợ và phụ giúp Shôin trong việc giảng dạy.

Năm này là thời gian Shôin sống b́nh yên nhất, có cơ hội đọc sách, viết lách và giảng bài. Trứ tác có Teimi yuushitsu bunkô (丁巳幽室文稿Đinh Tỵ u thất văn cảo), Yoshida goryaku (吉田語略Cát Điền ngữ lược), Tôzoku shimatsu (討賊始末Thảo tặc thủy mạt), Gaiban tsuuryaku (外藩通略Ngoại phiên thông lược), Gaishiizai (外史彙材Ngoại sử vựng tài), Kichinichiroku (吉日録Cát nhật lục).

1858 (29 tuổi): Tháng giêng, cảm khái trước thời cuộc, viết Kyôfu no gen (狂夫之言Cuồng phu chi ngôn) để bàn về những điều bức thiết phải làm trong phiên. Tháng 2, giữa Shôka sonjuku và Meirinkan có sự dị biệt trong cách đánh giá thời sự. Tháng 3, mở rộng thêm diện tích nhà học, giao lưu thân mật với Ikueikan (Dục Anh Quán), một trường khác trong phiên.

Triều đ́nh và Mạc phủ dần dần bất ḥa về việc kư kết ḥa ước với nước ngoài. Chức Tairô (tương đương Thủ tướng) là Ii Naosuke không đợi chiếu chỉ của triều đ́nh mà muốn kư ngay ḥa ước với Mỹ. Shôin ưu tư v́ thời thế, gửi học tṛ lên Edo và Kyôto lấy tin tức. Tháng 6, lănh chúa trở về phiên. Dâng Cuồng phu chi ngôn và được lănh chúa khen ngợi.

Lại soạn Gitaigi (議大義 Nghị đại nghĩa), Jigi ryakuron (時義略論Thời nghĩa lược luận) và tŕnh lên phiên. 

Phiên cho phép Shôka Sonjuku chiêu mộ học tṛ để dạy môn học của trường phái chứ không được dạy điều chi khác nhưng dù sao vẫn là công nhận một cách chính thức sự tồn tại và giá trị của nó.. Đây là thời toàn thịnh của nhà trường.

Tháng 8, một đoàn 26 thanh niên từ Shuô Heta đến học trận pháp về pháo binh, cùng môn sinh của trường diễn tập.

Thế nhưng, sang tháng 9 th́ Vụ đại ngục năm Ansei bắt đầu ( bởi v́ Ii Naosuke thanh trừng thế lực đối lập) gây rúng động dư luận. Shôin viết những bản trần t́nh về thời thế và gửi cho công khanh Ôhara Juutoku ở Kyôto. Lại mưu toan lập kế hoạch hành động trực tiếp với các đồng chí. Những việc làm của Shôin gây khó khăn cho cả lănh chúa trong việc giao dịch với mạc phủ. Tháng 11, bị phiên hạch tội không chăm lo học hành mà chỉ quậy phá, làm náo loạn ḷng người, bắt tạm giam. Viết Genju kiji(厳囚紀事 Nghiêm tù kỷ sựghi lại những ngày tháng đó.

Có lệnh mới từ chỗ tạm giam bắt bỏ hẳn vào ngục. Có sứ giả của phiên Mito đến, muốn bí mật gặp nhưng liên lạc không được, đành phải về. Trong năm này, trước tác đa dạng: Tôgoku kiji (投獄紀事Đầu ngục kỷ sự), Bogo yuushitsu bunkô (戊午幽室文稿Mậu ngọ u thất văn cảo), Yuusô zuihitsu (幽窓随筆U song tùy bút), Dokkô kanroku (読綱鑑録Độc cương giám lục), Kyuumu shijô (急務四条Cấp vụ tứ điều), Seiyô hoheiron (西洋歩兵論Tây dương bộ binh luận), Shôin shikô (松陰詩稿Tùng Âm thi cảo).

1859 (30 tuổi): Tháng giêng, các sĩ phu Bichuu đến thăm nhưng không gặp được phải về. Bi phẫn trước t́nh h́nh, Shôin tuyệt thực. Chỉ ngưng khi cha anh khuyên giải, cho biết đồng chí và môn sinh đang bị giam giữ được thả ra. Tháng 2, một vài môn đệ của Shôin như Nomura Wasaku野村和作 thoát khỏi phiên, lên Kyôto mưu toan kết hợp hành động với các đồng chí trên đó.

Nomura bị bắt, giam tại nhà ngục Iwakura岩倉. Từ đó, một số học tṛ khác bắt đầu xa lánh Shôin v́ nghĩ lập trường của thầy là quá khích.

Tháng 3, không nghe lời can gián của Shôin, lănh chúa vẫn lên Edo hầu việc Mạc phủ. Tháng 5, Shôin được báo sẽ bị giải về miền đông, ông ư thức được việc ḿnh có thể bị tử h́nh. Học tṛ và thân thích vào ngục thăm và cũng để nói lời vĩnh biệt. Ông viết Tôkômae nikki (東行前日記Đông hành tiền nhật kư).

Giải bằng củi tù về Edo. Cuối tháng 6 th́ đến nơi. Trước bị giam ở phủ lănh chúa Môri để nhân viên của phiên điều tra. Trên đường bị giải vẫn ngâm vịnh. Tác phẩm thu thập được trong Reishôshuu (涙松集Lệ tùng tập), Bakugoshuu (縛吾集Phược ngô tập).

Sau khi nhân viên h́nh pháp của mạc phủ luận án, bị tống vào nhà ngục Denmachô伝馬町. Tháng 10, ông bị khép vào tử h́nh.

Tháng 10, được phép gửi thư vĩnh biệt về cho gia đ́nh. Ryuukonroku (留魂録Lưu hồn lục) hoàn thành.

Sáng ngày 27 tháng 10, ông được nghe quan h́nh pháp đọc bản án, sau họ giải về ngục Denmachô để chém. Hôm 29, học tṛ lănh xác về chôn. Trong năm này, trước khi chết c̣n viết được nhiều tác phẩm như Kimi bunkô (己巳文稿Kỷ tỵ văn cảo), Kôkokushi (Hồng hộc chí 鴻鵠志), Sonshi hyôchuu (孫子評注Tôn Tử b́nh chú), Zagoku mokuroku (坐獄目録Tọa ngục mục lục), Shôganroku (照顔録Chiếu nhan lục), Dokuyo Zasshô (読余雑抄Độc dư tạp sao).

Diễn biến sau khi qua đời: Năm 1862 tức 4 năm sau ngày ông mất, mạc phủ ra lệnh đại xá cho Shôin và gia đ́nh. Qua năm 1863, học tṛ là Takasugi Shinsaku ( 高杉新作 1839-1867, một nhà lănh đạo phong trào thảo mạc cần vương, lúc đó đă thành công trong việc đoạt lại chính quyền ở Chôshuu từ thế lực qui thuận Mạc Phủ) cùng đồng môn cải táng cho ông. Một cuộc hội họp b́nh văn ông được tổ chức ở nhà Meirinkan. Nhà nước xuống chiếu dựng lại gịng họ Yoshida. Nhân v́ ông không vợ không con, cháu trai – con trưởng của Umetarô – là Kotarô được nối tiếp hương hỏa.Năm 1868 (Minh Trị duy tân bắt đầu), nhà nước tu sửa Shôka Sonjuku và đồng ư cấp qu chi phí hằng năm cho trường. Năm 1882, ngày kỵ thứ 24, một ngôi đền thần đạo được dựng lên đề thờ ông ở Tôkyô, bên cạnh mộ cũ. Nhiều trước tác của ông được ấn hành. Năm 1907, ngôi đền khác được cất trong khuôn viên Shôka sonjuku. Năm 1908, một buổi lễ kỷ niệm 50 năm ông mất được tổ chức trong hoàng cung. Năm 1936, xuất bản toàn tập Yoshidan Shôin Zenshuu吉田松陰全集 gồm 10 quyển.

Nếu Yoshida Shôin trở thành nạn nhân của thời cuộc là vì với ý thức dấn thân của một kẻ sĩ giữa thời tao loạn, tự ông muốn cháy lên làm ngọn đuốc soi đường cho dân tộc. Đó không phải là trường hợp của một người con gái thường dân như nàng Tôjin Okichi hay bà nội trợ  trẻ Kaneko Misuzu được nhắc đến sau đây. Cả hai không có cao vọng nào hơn là một cuộc sống bình yên nhưng lại hoàn toàn bị thời thế đưa đẩy vào cảnh ngộ hẩm hiu mà bản thân họ không có lấy chút quyền quyết định.

 

2021年版】下田デートならここ!下田好きの筆者おすすめの15選【アクティビティ・散策・ミュージアム・水族館など】 |アニーお祝い体験マガジン by  ギフトモール

 

Tôjin Okichi (1841-1891)

Năm 1856 (Ansei 3), Tổng lănh sự đầu tiên của Mỹ là Townsend Harris (1804-1878) đă đến Nhật và trú tại Shimoda, hải cảng phía nam bán đảo Izu. Ông cũng là nhà ngoại giao đầu tiên của liệt cường phó nhậm ở Nhật kể từ thời mở cửa.

Townsend Harris sinh ở New York, 16 tuổi đă theo anh trai tập sự buôn đồ sứ. Về chính trị, ủng hộ Đảng Dân Chủ và có công thành lập một đại học tư thục trong tiểu bang. Năm 1849, một ḿnh mở hăng mậu dịch với Á châu, đi nhiều nơi ở Trung Quốc, Philippin, Ấn Độ và vùng Nam Thái B́nh Dương. Ông đă thành công trong việc lập hiệp định với Thái Lan (The Harris Treaty). Do giao thiệp rộng nên năm 1854 được bổ làm lănh sự tại Ninh Ba (Trung Quốc).Tuy nhiên, lại thích làm việc tại Nhật Bản nên đă về nước vận động với Tổng thống mới lên là Ambrose Pierce để trở thành Tổng lănh sự đầu tiên ở đây (1855).

Câu chuyện sau đây về mối liên hệ giữa nàng Okichi với Harris chỉ có tính cách cá nhân nhưng nó cũng là một chi tiết của lịch sử và đă không bị chôn vùi dưới lớp bụi của thời gian. Khi sứ thần Townsend Harris đại diện nước Mỹ đến thương thuyết với Mạc phủ, ông đă đặt bản doanh trong chùa Gyokusenji (sau đó đổi qua Zenpukuji) ở Shimoda (bán đảo Izu). Người Nhật đem một cô con gái đến để hầu hạ ông như thị nữ. Ngoài việc đó, họ có ư đồ ǵ khác như do thám hay không th́ không biết.

Okichi – c̣n có tên nữa là Tôjin Okichi – nguyên họ Saitô – là một người con gái xinh đẹp. Cô sinh năm Tenpô 12 (1841), người vùng Aichi (Nagoya bây giờ). Mười bốn tuổi, làm geisha ở Shimoda. Năm 17, người ta tuyển cô đến giúp việc cho Tổng lănh sự Townsend Harris. Tuy nhiên, được biết rằng dù không bằng ḷng và không được trả công hậu hĩ, cô cũng khó căi lệnh nhà đương cục.

Sau khi thôi việc, cô về lại Shimoda lúc làm geisha, lúc ấy lấy chồng, làm nghề bới tóc, mở quán ăn nhưng chẳng ít lâu phải bỏ chồng, dẹp quán. Tôjin, cái tên người ta đặt thêm cho cô có nghĩa là Đường nhân (Con nhỏ lấy Tây) vốn hàm ư xúc phạm và khinh miệt. Buồn đời, cô đâm ra rượu chè, say sưa.Năm Meiji 24 (1891),cô tự trầm dưới sông, lúc ấy 50 tuổi. Cô đă sống một cuộc đời bạc phước trong biến động của lịch sử cuối Mạc phủ đầu Duy Tân, nạn nhân của quyền lực và thiên kiến. Chùa Hôgukuji (Bảo phúc tự) thương t́nh đem xác về chôn. Liên hệ của cô và Harris th́ có nhiều lối giải thích nhưng đă được khai thác thành tiểu thuyết, phim ảnh.

Riêng về Townsend Harris, ông về nước năm 1862, chấm dứt đời hoạt động và chết ở quê nhà (1878). Khi ông mất, chính phủ Nhật Bản có gửi vật kỷ niệm (thạch đăng, đá lót đường, cây anh đào, cây dương đào...) trang trí mộ phần của ông chứng tỏ rốt cuộc, họ cũng đánh giá cao những cống hiến của ông. Tương truyền ông từng có dịp yết kiến Shôgun Iesada. Ngoài ra, ông đă hội ư với phía Nhật Bản để loại bỏ việc nhập cảng những món hàng độc hại như nha phiến vào đất Nhật.

Giã từ thế kỷ 19 để về với thời hiện đại. Trong hôm viếng thăm Shimoda, sau khi từ trên bến nhìn ra hòn đảo nhỏ nơi Yoshida Shôin ẩn nấp để xin lên tàu của Perry vượt biên sang Mỹ, tôi đã ghé thăm nhà kỷ niệm nơi có bày những hình ảnh về cuộc đời nàng Okichi. Chính ở nơi đây, tôi đã thấy bày bán tập thơ của Kaneko Misuzu, một con người bất hạnh thứ ba, không hiểu vì sao mà tác phẩm của bà đã lạc loài tới đây.    

 

伊豆・下田のオススメ観光スポット13選!魅力的な場所が盛りだくさん | トラベルjp 旅行ガイド

 

Kaneko Misuzu (1903-1930):

Nhà thơ nữ Kaneko Misuzu sinh năm 1903 ở thôn Senzaki quận Ôtsu (nay thuộc thành phố Nagato) tỉnh Yamaguchi, cực nam đảo Honshuu, Nhật Bản. Tên thật của bà là Kaneko Teru. Sau khi tốt nghiệp trường nữ trung học ở quê nhà, bà đă cho ra mắt thơ ḿnh trên nhiều tạp chí như Dôwa (Truyện nhi đồng), Fujin Kurabu (Câu lạc bộ phụ nữ), Fujin Gahô (Họa báo phụ nữ), Kin no hoshi (Kim tinh)... trong giai đoạn cuối Taishô bước qua Shôwa (1926). Nhà phê b́nh Saijô Yaso (1892-1970) – giáo sư Đại học Waseda và nhà nghiên cứu có thẩm quyền về đồng dao Nhật Bản - đă ca tụng bà như “ngôi sao sáng của ḍng thơ đồng dao”.

Làm việc trong một hiệu sách, lấy chồng và có một đứa con gái nhưng bà gặp lắm gian truân v́ gặp phải người chồng hoang đàng, vô hạnh. Nhiều lần cố gắng làm lành để cố giữ hạnh phúc gia đ́nh nhưng thất bại, v́ là một tâm hồn đa cảm, bà đă dễ dàng rơi xuống hố tuyệt vọng. Sau khi viết di chúc gửi lại đứa bé cho người thím để nuôi hộ, Misuzu uống độc dược tự kết liễu đời ḿnh vào năm 1930 (Shôwa 5) khi tuổi vừa 26.

Khi qua đời rồi, thơ của bà cũng như tên tuổi bị rơi vào quên lăng trong một thời gian lâu. Không ai biết có một người con gái với tâm hồn trong sáng của đứa trẻ lên ba lên năm, đă viết những vần thơ khả ái như thế. Măi đến những năm gần đây, 512 bài mới được thu thập lại như di cảo và cho xuất bản. Những câu thơ đơn sơ nhưng đẹp và cảm động của bà nhờ đó đă có dịp thấm nhẹ vào ḷng người.

Những người yêu thơ Kaneko Misuzu có thể đọc được những bài thơ ấy trong toàn tập gồm ba quyển do cơ sở JULA xuất bản (1993). Ngoài ra, tác gia và nghệ sĩ truyền h́nh Yoshida Midori cũng đă hợp tác với bạn bè ngoại quốc để dịch một số thơ của bà ra tiếng Anh, nhan đề The World of Kaneko Misuzu‘s Poetry, kèm theo tranh minh họa.

Nhiều bài thơ của bà đă được phổ nhạc. Cuộc đời của bà được kể lại trong những chương tŕnh truyền h́nh và phim ảnh. Đặc biệt có hai cuốn phim về đời bà lần lượt được nữ hai diễn viên Matsu Takako (2001) và Ueto Aya (2012) chủ diễn.


Tin thu (Aki no tayori)
 

Từ trên núi, thư gửi về tỉnh thành:

“Thưa rằng lúc này quả hồng, hạt dẻ đă chín, chào mào, họa mi hót ca ríu rít”.

“Làng trong núi đang giữa mùa lễ hội”

 

Từ tỉnh thành thư gửi về trên núi:

“Thưa rằng én đă bỏ đi, lá liễu rụng đầy”.

“Chỉ thấy buồn và lạnh”

 

Những v́ sao và đóa bồ công anh (Hoshi to tanpopo)

Giống như bao ḥn cuội ch́m giữa ḷng biển sâu,

Trên bầu trời cao xanh,

Có những ngôi sao ban ngày mắt thường không thể thấy.

Chúng đang chờ đêm xuống.

Ta không thấy nhưng chúng hằng tồn tại.

Nh́n không ra đâu có phải là không!

Như đóa bồ công anh héo tàn rồi rủ cánh,

Lặng lẽ thu ḿnh giữa kẽ ngói nóc nhà.

Nhưng chùm rễ bền bỉ kia vẫn đợi lúc xuân về,

Điều mà với mắt thường nào ai nhận cho ra.

 

Dù ta không hnh́n thấy chúng,

Những vật vô h́nh vẫn hiện diện đâu đây.

 

Có phải là tiếng vọng? (Kodama deshô ka?)

Khi em nói: Chúng ḿnh chơi nhé!

Nó cũng nói: Chúng ḿnh chơi nhé!

Khi em nói: Khùng hở?

Nó cũng nói: Khùng hở?

Khi em nói: Thôi ḿnh không thèm chơi với bạn nữa!

Nó cũng nói: Thôi ḿnh không thèm chơi với bạn nữa!

Sau đó, em chợt buồn.

Khi em nói: Xin lỗi nghe!

Nó cũng nói: Xin lỗi nghe!

Có phải đó là tiếng vọng?

Không, chỉ là chuyện b́nh thường của bất kỳ ai.

 

Ông nắng bà mưa (O-hi san, o-ame san)

Bà mưa rửa bụi bám đầy mặt cỏ

Cỏ ướt nước mưa, ông nắng hong khô.

Để em được nằm lăn trên cỏ,

Ngẩng mặt ngắm bầu trời xanh.

Thật tuyệt!

 

Ngôi sao không thấy được (Mienai hoshi)

Sâu trong bầu trời hỏi có cái ǵ?

Nằm sâu trong ḷng trời là những ngôi sao! .

Sau những ngôi sao, hỏi có cái ǵ?

Sau những ngôi sao c̣n có nhiều sao.

Những v́ sao mắt ta không thể thấy.

Những ngôi sao không thấy được là những ngôi sao nào?

- Là tâm hồn của một ông vua thích lẻ loi

Giữa đông đảo đ́nh thần.

- Là tâm hồn ẩn dấu của một nàng vũ công

Đang đứng trước bao nhiêu cặp mắt.

 

Con chó (Inu)

Hôm cây mẫu đơn em trồng ra hoa,

Kuro, con chó của hiệu bán sake, đă chết.

Bà chủ tiệm sake ngày thường vẫn mắng mỏ chúng em,

V́ hay chơi đùa trước cửa.

Nay bà buồn xo và khóc thút thít.

Ngày đó, lên trường, đang khi đem chuyện bà ấy ra làm tṛ,

Em chợt buồn làm sao.

 

Con gái (Onna no ko)

Bạn biết không?

Đă là con gái,

Không được phép trèo cây.

Nếu con gái đi cà kheo,

Là giống con trai.

Nếu con gái chơi bông vụ,

Sẽ bị gọi con khùng.

Mấy chuyện đó,

Em đều biết hết.

Bởi v́ khi em làm như vậy,

Lúc nào cũng bị người khác mắng cho.

 

Ḥn đá (Ishikoro)

Hôm qua nó làm em bé ngă,

Hôm nay nó làm con ngựa vấp chân.

Ngày mai

Ai có qua đây cũng đều như thế!

Thế nhưng ḥn đá trên con đường làng,

Chẳng làm sao cản được

Ánh nắng đỏ trời chiều.

 

Mẻ cá lớn (Tairyô)

Ngày rạng, trời hửng nắng.

Đánh được mẻ cá lớn.

Mẻ cá ṃi chính cống,

Một mẻ lớn!

Bờ biển vui như ngày hội,

Nhưng có lẽ trong ḷng biển sâu,

Bầy cá đông hàng vạn,

Đang để tang bè bạn.

 

Con dế (Koorogi)

Con dế,

Bị găy,

Mất một chân.

Dĩ nhiên em mắng,

Con mèo Tama,

Kẻ đuổi theo phá nó.

Ánh hừng đông của ngày thu,

Cứ lấp lánh,

Như không hay biết.

Có một con dế,

Bị găy,

Mất một chân.

 

Cá (O-sakana)

Em thương cho những con cá nằm dưới biển.

V́ gạo c̣n do con người làm ra ngoài ruộng,

Đàn ḅ có kẻ nuôi.

Cá chép dưới ao cũng được cho ăn cám.

Thế nhưng những con cá ngoài biển,

Nào có ai chăm sóc chúng đâu.

Và chúng cũng chưa một lần quấy quả.

Thế mà lại bị em ăn thịt,

Nên em thật ḷng thương cho lũ cá.

 

Tuyết đọng (Tsumotta yuki)

Tuyết ở trên trời,

Chắc là lạnh lắm,

Bởi v́ ánh trăng băng giá chiếu lên. 

Tuyết nằm dưới đất,

Chắc phải khổ đau,

V́ chịu hàng trăm bàn chân đè nặng,

Tuyết giữa không trung.

Chắc hẳn cô đơn,

V́ chẳng thấy trời, cũng không thấy đất. 

 

Em, con chim nhỏ và cái chuông (Watashi to kotori to suzu to)

Dù em có giăng rộng đôi tay,

Cũng không cách chi bay lượn giữa bầu trời.

Nhưng con chim nhỏ biết bay kia,

Không thể chạy nhanh hơn em trên mặt đất.

Dù em có lắc lư thân thể,

Không thể nào phát ra những tiếng động dễ thương.

Nhưng cái chuông đang rung lên đó,

Làm sao biết nhiều bài hát bằng em.

Cái chuông, con chim nhỏ và em nữa,

Không giống ǵ nhau cả,

Nhưng tất cả đều thật tuyệt vời.

 

Quái lạ (Fushigi)

Em thấy lạ lùng không cách chi hiểu nỗi,

Sao những giọt mưa rơi xuống từ đám mây đen,

Lại có màu sáng bạc!

Em thấy lạ lùng không cách chi hiểu nổi,

Sao con tằm ăn lá dâu xanh,

Mà thân thể lại trở thành trắng toát!

Em thấy lạ lùng không cách chi hiểu nổi,

Sao những đoá hoa b́m đâu ai đụng tới,

Có thể một ḿnh tự nở bung ra.

Em thấy lạ lùng không cách chi hiểu nỗi,

Nhưng ai nghe em cũng phá lên cười.

“Chuyện đương nhiên, có ǵ mà kinh ngạc”.

 

Vương quốc cát (Suna no ôkoku)

Em bây giờ,

Là nhà vua của một vương quốc cát.

Núi, sông, thung lũng, đồng bằng,

Em đều có thể đổi thay theo ư muốn.

Những ông vua trong truyện thần tiên,

Cũng không thể thay đổi sông núi nước ḿnh

Như em được.

Em bây giờ đúng là Một ông vua quyền thế!  

 

Đất và cỏ (Tsuchi to kusa)

Những hạt cỏ chẳng hề biết mẹ,

Hàng ngàn hàng vạn hạt cỏ,

Đất một ḿnh

Nuôi nấng chúng như con.

Nhưng khi cỏ lớn lên,

Mọc xanh um.

Th́ đâu c̣n thấy đất.

 

Nụ cười (Warai)

Nó màu hồng, trông xinh thật xinh,  

Và bé tí, chưa bằng hạt cải.

Nhưng một khi rơi đụng đất,

Sẽ nở bung ra như đoá hoa vĩ đại,

Không thua cả pháo bông,

Nếu nụ cười có thể rơi xuống đất,

Giống như giọt nước mắt.

Chắc là nó đẹp,

Đẹp biết bao nhiêu!  

 

Em muốn thích tất cả (Minna wo suki ni)  

Em muốn làm sao thích tất cả mọi thứ,

Chẳng chừa chi hết.

Hành, cà chua, cá và tất tất, 

Không bỏ sót một thứ nào.

Bởi v́ mọi món ăn ở nhà em,

Đều do một tay mẹ nấu.

Em muốn thích tất cả mọi người,

Dẫu họ là ai.

Ngay ông bác sĩ, ngay cả đàn quạ.

Em muốn làm sao thích tất cả mọi người.

Bởi v́ mỗi con người và mỗi đồ vật,

Đều là tác phẩm,  

Mà Ông Trời tạo ra!

 

Đền Gion (Gion-sha)

Bay tan tác,

Những chiếc lá tùng.

Mùa thu trong sân đền

Mới buồn làm sao

Ôi, c̣n đâu,

Khúc hát của gánh hàng rong cho xem phim qua lỗ,

Những ngọn đèn khí đốt,

Mấy thanh quế cột bằng sợi giây màu đỏ.

Tiệm nước đá bào,

Giờ cũng không c̣n khách,

Chỉ có gió thu như thể th́ thào.

 

Chuyện của vú em (Baaya no hanashi)

Vú không chịu kể câu chuyện ấy cho em nữa

Dù em thực thích nghe

Khi em nói “Chuyện đó con nghe rồi!”

Mặt của vú trông buồn hẳn.

Em từng nh́n thấy ánh lên trong mắt của vú

Màu của những đoá hồng dại mọc trên đồi cỏ.

Bây giờ em thấy tiếc không c̣n được nghe,

Phải chi vú có thể kể cho em lần nữa!

Em hưá sẽ im lặng nghe chăm chú,

Năm lần,

Hay cả mười lần.

 

Hạt sương mai(Tsuyu)

Thôi em không đem chuyện này đi kể đâu.

Chuyện sáng nay cái hoa trong góc vườn,

Đă ứa thầm nước mắt

Nếu như lời đồn đại lan ra,

Đến con ong rồi cũng hay biết.

Nó sẽ đem mật về trả lại nhụy hoa

Như hối hận ḿnh đă làm chuyện quấy.

 

Con ong và Ông Trời (Hachi to kamisama)

Con ong nằm giữa đoá hoa,

Đóa hoa giữa khu vườn.

Khu vườn giữa bức tường gạch.

Tường gạch giữa thành phố.

Thành phố giữa Nhật Bản,

Nhật Bản giữa thế giới.Thế giới nằm giữa Ông Trời.

Thế rồi, thế rồi, Ông Trời nằm ở giữa,

Một con ong nhỏ

 

Cầu vồng trên mi (Matsuge no niji)

Em dụi, em phủi măi,

Nhưng một ư nghĩ,

Cứ trào lên,

Giữa những giọt nước mắt.

 

- Chắc chắn em là

Một đứa con nuôi!

 

Khi em nh́n và nh́n,

Một cái cầu vồng thật đẹp,

Đậu trên riềm mi,

Một ư nghĩ lại đến.

 

- Hôm nay, vào giờ ăn dặm,

Sẽ có món ǵ đây?

 

Bánh ngọt (Okashi)

V́ tinh nghịch em đem dấu

Một miếng bánh của thằng em.

Dù đă nhất định không đụng đến,

Nhưng em đă đem ăn mất,

Bánh của nó.

 

Giờ nếu mẹ bảo có hai miếng cơ mà,

Em biết trả lời sao?

 

Em để miếng bánh xuống,

Em lấy nó đi rồi đem đặt lại.

Nhưng v́ không thấy đứa em đâu,

Em đă ăn mất,

Miếng bánh thứ hai của nó.

 

Miếng bánh ngọt đắng nghét,

Miếng bánh ngọt đáng buồn.

 

***

 

Bạn vừa cùng tôi tìm hiểu về ba con người đáng kính, đáng thương và cũng đáng yêu có liên hệ xa gần với vùng đất Shimoda của miền Trung nước Nhật. Người ta thường bảo, khi du lịch ở đâu, chúng ta thường muốn thực hiện 3 điều: ngắm phong cảnh đẹp, thưởng thức món ăn ngon và trò chuyện với người dân sở tại. Tôi muốn thêm ở đây một điểm nữa: tìm hiểu về thổ ngơi và những con người từng sống trên mảnh đất ấy. Có nghĩa là đi gặp những “hồn ma cũ”  nhưng chắc chắn hãy còn quanh quất đâu đây bên cạnh chúng ta, bàng bạc trong ánh nắng và khí trời. Chợt nhớ tới hai câu thơ mộc mạc về điều đó mà Sơn Nam - một nhà văn Nam Bộ - đã nói đến trong tác phẩm của ông:
 

Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa,

Thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ.

 

Tokyo 10/4/2016

Cập nhật ngày 4/1/2022

 


[1] Histoire du Japon, tr.945

[2] Thất sinh (七生) tức 7 kiếp, chữ nhà Phật, có nghĩa là vĩnh viễn.

 

Tư liệu tham khảo:

1-Yoshida Midori, 2012, Kaneko Misuzu. Kokoro no shi, Fujiwara Shobô, Tôkyô xuất bản.

2-Nguyễn Nam Trân, Giáo trình lịch sử Nhật Bản, Tập Hạ (bản thảo).

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com