What Can I Do? Chương 6:
Chiến tranh, quân đội và biến đổi khí hậu

Phyllis Bennis
Phạm Vũ Thịnh dịch

 

Lời người dịch:

Trong phần đầu chương 6 của cuốn sách “What Can I Do? My Path from Climate Despair to ActionTôi có thể làm được ǵ? Con đường dẫn tôi từ Tuyệt vọng đến Hành động v́ Biến đổi Khí hậu”, Jane Fonda thuật lại những lời giảng diễn của Phyllis Bennis về vấn đề “Chiến tranh, quân đội và biến đổi khí hậu”. Xin xem bản dịch ở dưới đây.

Phyllis Bennis (sinh năm 1951), tác gia, nhà b́nh luận chính trị, nhà hoạt động về ḥa b́nh và môi trường, chuyên gia về các vấn đề Trung Đông và Liên hiệp quốc, hiện là người điều hành New Internationalism Project - Dự án chủ nghĩa quốc tế mới, của The Institute for Policy Studies - Viện Nghiên cứu Chính sách ở thủ đô Washington DC. Bà đă xuất bản các cuốn sách:  From Stones to Statehood: The Palestinian Uprising (1990);  Calling the Shots: How Washington Dominates Today's UN (2000); Before & After: US Foreign Policy and the September 11th Crisis (2003); Understanding the Palestinian-Israeli Conflict: A Primer (2009); Understanding the US-Iran Crisis: A Primer (2009); Understanding ISIS and the New Global War on Terror: A Primer (2015);...

Phyllis Bennis cộng tác thường xuyên với các tờ báo The Nation, the New York Times, the Washington Post, USA Today, ... và hăng thông tấn Al-Jazeera.

 

*

Phyllis Bennis đă nói trong buổi diễn giảng Fire Drill Friday (Thứ sáu tuần thứ hai, tháng 11, 2019): “Chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt tạo ra thảm họa khí hậu, và thảm họa khí hậu tạo ra chiến tranh”. Một trong những lư do chính khiến Syria bùng phát xung đột là do khí hậu: đợt hạn hán kéo dài 3 năm đă đẩy 800.000 nông dân từ vùng đất của họ chạy loạn đến các thành phố, nơi họ lại phải đối mặt với t́nh trạng thất nghiệp, bất b́nh đẳng kinh tế và chủ nghĩa bè phái. “Tất cả đă bắt nguồn từ 3 năm hạn hán do tác động của biến đổi khí hậu.

Tôi đă sửng sốt khi Phyllis bảo tôi rằng quân đội được miễn trừ khỏi hầu hết các quy định về môi trường, có nghĩa là quân đội có thể thải đổ các hóa chất độc hại và đốt các thiết bị phế bỏ mà không cần phải cân nhắc ǵ về hậu quả đối với môi trường cả. Điều này có thể giải thích tại sao có đến 10% các địa điểm phải tẩy dọn của Superfund (*), những địa điểm được chính phủ liên bang chỉ định là độc hại nguy hiểm và cần được chính phủ tẩy dọn, lại nằm ngay trên hoặc gần các căn cứ quân sự. Vào năm 1991, rồi năm 2003 và sau đó nữa, quân đội của chúng ta đă bắn uranium cạn kiệt (depleted uranium) vào các khu vực dân sự ở Iraq, để lại di sản nhiều thế hệ sau nữa phải chịu, về suất ung thư gia tăng cho người dân ở đó và cho cả lính chiến của chúng ta. Có thể thấy mối liên hệ giữa dầu mỏ và chiến tranh, môi trường và chiến tranh, chiến tranh và kỳ thị chủng tộc, chiến tranh và chứng sợ đạo Hồi; tất cả những thứ này kết nối với nhau thành nguồn gốc tệ hại của các tác động kinh tế, tác động trong cả nước và tác động quốc tế.

Trong buổi giảng, tôi đă yêu cầu Phyllis nói về những ǵ mọi người có thể làm được. Bà đă đưa ra một lập luận thuyết phục về lư do tại sao chúng ta phải cắt giảm ngân sách quân sự ph́-đại của ḿnh, nguyên do đă khiến chúng ta dễ chọn các giải pháp quân sự thay v́ những giải pháp ít gây chết người hơn.

Ngân sách quân sự của chúng ta rất là lớn,” Phyllis nói. “Hiện tại, vào năm 2019, là 719 tỷ USD mỗi năm. Tức là lớn hơn tổng cộng ngân sách quân sự của bảy quốc gia sắp hạng lớn tiếp theo đó, là Nga, China, Saudi Arabia và 4 quốc gia nữa.

Năm mươi ba xu của mỗi một USD mà chính phủ liên bang lấy thuế từ chúng ta được chuyển thẳng cho quân đội. Nếu tính thêm những thứ như An ninh Nội địa và các vấn đề quân-sự-hóa khác th́ phải là sáu mươi hai xu. Đó là một phần rất lớn trong tiền nộp thuế của chúng ta mà thực tế chẳng giúp chúng ta an toàn ǵ hơn. Chúng ta có thể cắt giảm gần 600 tỷ USD từ ngân sách quân sự mà vẫn c̣n lại một ngân sách tương đương với tổng số tiền mà bốn nước Nga, Iran, Saudi Arabia và Triều Tiên chi phí cho quân sự ”.

Không có quốc gia nào khác có căn cứ quân sự ở khắp nơi trên thế giới,” Phyllis nói. “Tôi nghĩ Nga chỉ có bảy (căn cứ ở nước ngoài). Và chúng ta có thực sự cần đến 11 hàng không mẫu hạm hay không, trong khi các quốc gia khác chỉ có một chiếc mà thôi? ” Phyllis hỏi. "Tất cả số tiền này được chi cho quốc pḥng, có thật sự giúp được ai trong chúng ta an toàn hơn chút nào không?"

Phyllis dẫn lời Martin Luther King Jr. để trả lời câu hỏi đó. “Ông ấy từng nói rằng 'Một quốc gia tiếp tục năm này qua năm khác, chi phí nhiều tiền thêm cho quân sự pḥng thủ hơn là cho các chương tŕnh nâng cao xă hội th́ đang tiến gần đến cái chết về tinh thần.'  Ngày nay, tôi muốn thêm vào: 'và tiến gần đến cái chết thực sự của trái đất nữa'. Đó là t́nh h́nh cấp bách ngay bây giờ đây của chúng ta”.

Phyllis phản đối việc người ta thường xuyên bắt bẻ rằng nếu cắt giảm ngân sách quân sự th́ là “không hỗ trợ quân đội”. Sự thật th́, Phyllis cho biết chỉ một phần rất ít trong ngân sách quân sự này thực sự được dùng để hỗ trợ quân đội. Vào năm 2017, khi đang làm việc trong Poor People’s Campaign - Chiến dịch v́ người nghèo, Phyllis nhận thấy rằng hai mươi ba ngh́n binh lính, thủy thủ tại ngũ kiếm được ít tiền đến mức họ và gia đ́nh có đủ điều kiện để nhận tem phiếu thực phẩm phát cho người nghèo.

“Nếu kiểm xem một nửa ngân sách quân sự đi về đâu, th́ thấy là vào tay các tập đoàn kinh doanh quân sự và CEO của các tập đoàn đó, thuộc loại được trả lương cao nhất trong tất cả các giám đốc điều hành công ty,” bà nói. “Vào năm 2016, theo thống kê mức lương trung b́nh của năm tập đoàn quân sự hàng đầu, th́ các CEO thu nhập mỗi năm trung b́nh mỗi người gần 20 triệu USD, trong khi những người lính tại ngũ chỉ đủ tiêu chuẩn để nhận tem phiếu thực phẩm”. Quả là cú sốc nặng cho chúng ta!

Sau khi nghe mọi người phát biểu, tôi hiểu tại sao phong trào khí hậu và phong trào ḥa b́nh phải hoạt động song song với nhau.

Phạm Vũ Thịnh dịch
19 Feb 2021

(*) Chú thích theo Wikipedia:

Superfund sites: là các địa điểm bị ô nhiễm nặng ở Hoa Kỳ cần phải tẩy rửa lâu dài để làm sạch các chất độc hại gây ô nhiễm, đă được chỉ định theo Đạo luật Toàn diện về Ứng phó, Bồi thường và Trách nhiệm pháp lư (CERCLA) năm 1980. CERCLA ủy quyền cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) lập danh sách các địa điểm như vậy, đưa vào Danh sách Ưu tiên Quốc gia (NPL) . Các địa điểm Superfund thường tập trung ở những khu vực đông dân cư. Riêng New Jersey – tiểu bang có mật độ dân số cao nhất - có đến 114 địa điểm đó, nhiều hơn bất kỳ tiểu bang nào khác trong cả nước Mỹ, tiếp đến là California và Pennsylvania.


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về  t4phamvu@hotmail.com