Đả phá sáng tạo để doanh nghiệp phát triển

 

Trần Văn Thọ
Exryu Japan

Một góc nh́n mới về đổi mới sáng tạo

Việt Nam đă nói đến sự cần thiết phải đổi mới mô h́nh tăng trưởng từ khoảng năm 2010. Nhưng đă hơn 10 năm mà các chuyên gia vẫn c̣n bàn luận về vấn đề này. Nhiều người cho rằng phải chuyển từ mô h́nh tăng trưởng dựa trên đầu vào, chủ yếu là dựa trên tăng đầu tư, tích lũy tư bản, sang mô h́nh dựa trên tiến bộ công nghệ để tăng năng suất tổng hợp. Gần đây, nhà nước cũng chủ trương đổi mới sáng tạo sẽ là một điểm nhấn của chiến lược sắp tới của Việt Nam. Ngoài ra, cách mạng công nghệ 4.0 và việc chuyển đổi sang kinh tế số ngày càng được nhấn mạnh.

Hướng đi như vậy là đúng nhưng chưa đủ và hầu hết cần nhiều thời gian mới thực hiện được. Có những vấn đề trước mắt nếu thấy và quyết tâm thay đổi th́ hiệu quả nhanh hơn và làm tiền đề để những nỗ lực về khoa học, công nghệ, sáng tạo có điều kiện thực hiện. Mặt khác, mô h́nh tăng trưởng dựa trên đầu tư vẫn có tác dụng tích cực nếu đầu tư đi liền với cải tiến công nghệ mà muốn hai yếu tố nầy có hiệu quả làm tăng năng suất lao động th́ chủ thể đầu tư là doanh nghiệp phải có một qui mô lớn nhất định.

Từ nhận định nầy và từ khảo sát thực trạng Việt Nam tôi muốn bàn đến tiềm năng to lớn của việc tăng năng suất qua chiến lược đả phá sáng tạo để doanh nghiệp phát triển. Đả phá sáng tạo (creative destruction) là phá bỏ cơ cấu lạc hậu để xây dựng cơ cấu hiện đại, biến các đơn vị sản xuất kinh doanh cá thể, phi chính thức thành các doanh nghiệp có tổ chức, từ đó nối kết họ vào hệ thống doanh nghiệp hiện đại, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  

Đả phá sáng tạo khu vực kinh tế phi chính thức.

Theo Niên giám thống kê, vào năm 2019, trong tổng lực lượng lao động (55,8 triệu) có 54,7 triệu người có việc làm. Trong số lao động có việc làm, khu vực nông lâm ngư nghiệp có 18,8 triệu, chiếm 34,4%. Cũng theo Tổng cục thống kê, năm 2019 có 15,2 triệu người, chiếm 28%, làm trong các doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy c̣n lại khoảng 21 triệu người, chiếm tới gần 40% lực lượng lao động, làm việc trong khu vực phi chính thức, gồm kinh tế gia đ́nh (cá thể) và những đơn vị sản xuất kinh doanh có ít hơn 10 lao động (7 năm trước đă có Nghị định định nghĩa hộ kinh doanh là các đơn vị sản xuất kinh doanh có dưới 10 lao động). Như vậy hiện nay trong nền kinh tế, trừ nông lâm ngư nghiệp, chỉ có 28% lao động làm trong khu vực chính qui và tới gần 40% ở trong khu vực phi chính thức. Khu vực phi chính thức nầy đóng góp độ 30% tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào năm 2019.

Trong bất cứ một nền kinh tế nào, khu vực phi chính thức đều tượng trưng cho sự chậm tiến, kém năng xuất, lao động lương thấp và không có bảo đảm xă hội, mà ở Việt Nam khu vực này c̣n quá lớn. Như vậy, đổi mới sáng tạo phải bắt đầu từ khu vực này.

 Tại sao khu vực phi chính thức c̣n lớn như thế? Có lẽ có hai nguyên nhân. Thứ nhất, sự hiểu biết về các thủ tục và chính sách để chuyển thành doanh nghiệp có tổ chức của nhiều chủ đơn vị sản xuất kinh doanh ở khu vực này có giới hạn, lại thêm bộ máy hành chánh ở địa phương quan liêu và đầy các thủ tục rườm ra. Thứ hai, nhiều chủ đơn vị sản xuất sợ phải nộp thuế nhiều khi chuyển thành doanh nghiệp có tổ chức. Hiện nay họ đóng một loại thuế khoán cho địa phương và có thể thương lượng với cán bộ thu thuế để hai bên cùng có lợi. V́ hai lư do nầy, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh không muốn trở thành doanh nghiệp nên cố giữ số lao động lúc nào cũng dưới 10 người. Như vậy qui mô sản xuất kinh doanh lúc nào cũng nhỏ, kém hiệu suất.

  Để đả phá sáng tạo khu vực nầy cần một chiến lược ở tầm quốc gia, một mặt bổ sung và đào tạo cán bộ địa phương, giao trách nhiệm mới trong việc giảm thủ tục hành chánh và giúp các đối tượng cần được chuyển sang loại h́nh doanh nghiệp có tổ chức; mặt khác, tuyên truyền, vận động các đơn vị sản xuất kinh doanh ở khu vực phi chính thức mạnh dạn chuyển sang thời đại mới. Khi được chuyển sang khu vực chính thức, các đơn vị đó sẽ trở thành những doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Với các chính sách SMEs sẽ nói dưới đây, các đơn vị sản xuất kinh doanh ở khu vực phi chính thức sẽ thấy những lợi ích về chính sách và lợi nhuận kỳ vọng trong thời đại mới sẽ lớn hơn nhiều so với thuế mà họ sẽ phải nộp. 

Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)

Xét riêng khu vực chính thức hiện nay ta thấy trong số 15,2 triệu lao động có 9 triệu đang làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước và trong đó gần 5 triệu, chiếm 9% trong lực lượng lao động, là thuộc các công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty trách nhiệm hữu hạn phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Như vậy nếu khu vực phi chính thức được chuyển thành SMEs th́ số lao động làm việc trong SMEs chiếm tới gần 50% lao động có việc làm trong toàn xă hội. Một con số vô cùng lớn. Chiến lược, chính sách tập trung vào SMEs sẽ làm tăng năng suất của toàn nền kinh tế và đẩy mạnh tăng trưởng.

Phần lớn các SMEs hiện nay có quy mô rất nhỏ và siêu nhỏ v́ môi trường kinh doanh khó khăn, đang gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận với vốn và đất để đầu tư và chịu nhiều chi phí hành chánh tiêu cực. Đây là khu vực năng suất lao động rất thấp v́ không đủ qui mô để có thể mua sắm thiết bị và các phương tiện sản xuất hiện đại. Họ cũng không có năng lực tiếp cận vốn để đầu tư lớn.

Cần cải cách hành chánh để giảm xin cho, giảm kiểm tra và hoàn thiện thị trường vốn, thị trường đất đai. Việc nầy đă được bàn luận nhiều nhưng tiến triển chậm. Nếu có khát vọng phát triển phải khẩn trương cải cách các lănh vực này. Ngoài hoàn thiện cơ chế thị trường cần các biện pháp chính sách hỗ trợ cụ thể hơn. Bộ máy phụ trách doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương và địa phương phải phát huy chức năng hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp nhỏ, vừa, siêu nhỏ trong việc vay vốn, t́m đối tác, phương pháp tiếp cận thị trường, tiếp cận công nghệ. Các cơ quan  nầy cũng có vai tṛ giới thiệu các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ liên kết với các doanh nghiệp lớn, với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Vấn đề này được giải quyết sẽ tăng năng suất, đẩy mạnh tăng trưởng. Có 2 biện pháp: Một là, tăng cường bộ máy phụ trách doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương (Cục doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bộ Kế hoạch Đầu tư) và địa phương (các sở liên quan ở các tỉnh thành). Dưới đây sẽ gọi chung là Cơ quan (quản lư) SME. Phải tăng cường nhân viên và ngân sách cho các cơ quan SME để họ phát huy chức năng hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp nhỏ, vừa, siêu nhỏ trong việc vay vốn, t́m đối tác, phương pháp tiếp cận thị trường, tiếp cận công nghệ. Các cơ quan SME nầy cũng có vai tṛ giới thiệu các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ liên kết với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hằng năm nên xuất bản Sách trắng về doanh nghiệp nhỏ và vừa để phân tích các vấn đề mà các doanh nghiệp ấy cần tham khảo như thị trường, công nghệ, dự báo kinh tế, v.v..

Tóm lại có hai vấn đề lớn. Thứ nhất, đả phá sáng tạo biến khu vực phi chính thức thành những doanh nghiệp có tổ chức, trong trung hạn sẽ làm tăng nhanh số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ hai, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ lớn mạnh và kết nối được với các công ty lớn trong nước cũng như các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Hai chiến lược này sẽ làm tăng năng suất lao động, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế theo hướng hiệu suất và bao trùm./.

 

(Bản gốc bài đă đăng trên số Xuân 2022 của Doanh nhân Saigon)