Để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Trần Văn Thọ  ( Exryu Japan )

  Từ giữa thập niên 1990, công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ kết mạng ngày càng phát triển làm giảm chi phí thông tin liên lạc giữa các quốc gia và giảm rủi ro trong việc quản lư các dây chuyền sản xuất. Do đó, công nghiệp hóa và phân công quốc tế ngày càng được thể hiện qua các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) và các chuỗi cung ứng toàn cầu (GSCs). Để bài viết không quá dài, phân tích dưới đây chỉ nói về GSCs. Các nước đi sau có thể phát triển nhanh nếu ngày càng tham gia sâu hơn và tiến lên cao hơn trên GSCs, nhưng phải liên tục xây dựng các tiền đề cho việc tham gia sâu và cao hơn. 

   Việt Nam trước ḍng thác công nghiệp mới

Từ năm 2018 kinh tế chính trị thế giới thay đổi nhanh làm chuyển hướng nhiều GSCs. Đại dịch từ cuối năm 2019 làm khuynh hướng ấy càng mạnh hơn. Tâm điểm của sự dịch chuyển GSCs là Trung Quốc, nơi được xem là công xưởng thế giới từ mấy chục năm nay. Để duy tŕ sự ổn định của các chuỗi cung ứng, doanh nghiệp đa quốc gia phải chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp từ Trung Quốc sang các nước khác hoặc không chọn Trung Quốc làm nới thực hiện các dự án đầu tư mới. Một làn sóng mới về công nghiệp đang chuyển đến các nước ASEAN và Ấn Độ.

Việt Nam được xem là điểm đến hấp dẫn của ḍng thác mới. Đặc biệt từ năm 2021 nhiều dự án lớn của các công ty đă quốc gia liên tiếp đươc kư kết. Về những dự án mới chủ yếu có thể kể công ty Foxconn của Đài Loan, chuyên cung cấp sản phẩm cho Apple, đă quyết định chuyển các cơ sở sản xuất lắp ráp điện thoại thông minh từ Trung Quốc sang Việt Nam; Lego của Đan Mach sẽ đầu tư 1 tỉ USD tại B́nh Dương để sản xuất đồ chơi gợi trí tưởng tượng cho trẻ em; Amkor Technology của Mỹ sẽ sản xuất chip bán dẫn tại Bắc Ninh, v.v.. Những công ty đa quốc gia đă hoạt động ở Việt Nam gần đây đă quyết định mở rộng đầu tư, như Sam Sung, LG, Coca Cola, Dự án Khu Công nghiệp Việt Singapore (VSIP), v.v.

Nhật Bản cũng đặc biệt chú trọng Việt Nam. Đầu tư của Nhật ra nước ngoài năm 2021 trên toàn cầu chỉ tăng 2,6% và sang Á châu tăng 32% nhưng riêng Việt Nam th́ tăng tới 59%. Khuynh hướng đầu tư của Nhật sang Việt Nam gần đây cho thấy ngoài những dự án lớn về sản xuất năng lượng và lập trung tâm thương mại, đáng chú ư là nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa tích cực sang Việt Nam sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong lănh vực điện tử và ô- tô. 

 Nói chung, ḍng thác mới trong công nghiệp thế giới đang trở thành cơ hội phát triển của Việt Nam. Nhưng để các chuỗi cung ứng mới hoạt động hiệu quả và bền vững, nhất là để doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp tham gia nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng mới, cần nhiều nỗ lực từ chính phủ và doanh nghiệp trong nước. 

Điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Phân tích t́nh h́nh tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam cho đến nay ta thấy hai vấn dề lớn. Một là mới tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, c̣n phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu sản phẩm cơ bản, sản phẩm trung gian. Hai là những tiến triển trong việc nội địa hóa công nghiệp hỗ trợ phần lớn do công ty có vốn nước ngoài thực hiện, việc tham gia của công ty Việt Nam rất hạn chế.

  H́nh 1 biểu diễn t́nh h́nh tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Đường dưới cùng (forward GVC) là tỉ trọng của giá trị gia tăng mà Việt Nam xuất khẩu sang các nước khác trong tổng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp. Tỉ trọng này càng cao càng chứng tỏ sức mạnh công nghiệp của một nước. Ta thấy tỉ trọng này của Việt Nam c̣n rất thấp và có khuynh hướng giảm. Đường ở giữa (backward GVC) là tỉ trọng của giá trị gia tăng ở phía sau của chuỗi trị toàn cầu, cụ thể là phần nhập khẩu. H́nh 1 cho thấy tỉ trọng này tăng nhanh, từ khoảng 20% năm 2000 tăng lên trên 50% vào năm 2018. Đường trên cùng (Total GVC) là tổng hợp của forward và backward. Như vậy trong mấy mươi năm qua Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng càng tham gia càng phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Với khuynh hướng gần đây trong đầu tư từ nước ngoài đă nói ở trên, hy vọng t́nh h́nh sẽ được cải thiện. Nhưng để khả năng nầy diễn ra như kế hoạch và tiếp tục một cách bền vững, Việt Nam cần chú trọng cải thiện hạ tầng và nhất là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao.

 Đặc biệt vấn dề nguồn nhân lực hiện nay rất căng thẳng. Cuối tháng 11 vừa qua tôi thăm nhiều công ty có vốn của Nhật ở đâu họ cũng nói là gặp khó khăn trong việc tuyển chọn và ổn định nguồn nhân lực. Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Lao động Thương Binh và Xă hội và chính quyền ở các địa phương cần đặc biệt quan tâm, có biện pháp khai thông thị trường lao động (tránh t́nh trạng có nơi thừa nơi thiếu) và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu mới. Nếu vấn đề cung cấp nguồn nhân lực không được giải quyết, các dự án có vốn nước ngoài đă cam kết có thể sẽ bị tŕ hoăn hoặc giảm quy mô.

Điều tra mới đây của JICA cho thấy nguồn nhân lực của Việt Nam rất kém về chất. Vào năm 2020, lao động có tŕnh độ giáo dục 9 năm trở xuống chiếm tới 61%, trong đó có tới 12% chưa tốt nghiệp tiểu học. Lao động đă tốt nghiệp Cấp III chiếm 15% và lao động có tŕnh độ kỹ thuật và chuyên môn chỉ có 24% trong tổng lao động. Đó là chưa nói đến sự khập khiễng giữa kỹ năng đang có của người lao động có tŕnh độ chuyên môn với nhu cầu của doanh nghiệp. Chính quyền các cấp cần nhận thực sự quan trọng của vấn đề để có đối sách nhanh chóng.

Song song với nỗ lực đào tạo mà việc thực hiện cần thời gian, nên tận dụng số thực tập sinh tại các nước. Nhất là tại Nhật, số lượng thực tập sinh đă lên tới 20 vạn, trong đó hơn 15 ngàn có tŕnh độ kỹ năng chuyên môn và tiếng Nhật. Cần có kế hoạch cụ thể và thực thi nhanh chóng trong việc kết nối thực tập sinh với các doanh nghiệp đang hoặc sắp triển khai ở Việt Nam. 

Vấn đề thứ hai là doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các chuỗi cung ứng c̣n rất hạn chế. Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam tiến triển một bước chủ yếu là do doanh nghiệp có vốn nước ngoài đầu tư chứ vai tṛ của doanh nghiệp trong nước c̣n rất nhỏ. Thăm một công ty lớn sản xuất máy in có vốn Nhật vào tháng 11, tôi ngạc nhiên thấy là dù công ty rất tích cực t́m kiếm nguồn cung ứng từ doanh nghiệp Việt Nam nhưng số doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện về chất lượng, giá thành, thời hạn giao nộp hàng , v.v. c̣n rất ít. Từ năm 2011 đến 2022, số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp linh kiện và các sản phẩm hỗ trợ khác cho công ty này tăng từ 105 lên 124 công ty nhưng phần lớn là những công ty cung ứng có vốn Nhật Bản và Đài Loan, doanh nghiệp có vốn Việt Nam chỉ có 18 công ty vào năm 2022, giảm so với 19 công ty năm 2011.

  Như Biểu 1 cho thấy, số lượng doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ vào năm 2018 chưa tới 5.000 trong đó doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI) chiếm tới khoảng 1/3. Đặc biệt trong ngành điện tử doanh nghiệp FDI chiếm tới 80%. Trong quá tŕnh công nghiệp hóa tại Việt Nam, FDI đóng vai tṛ lớn và ở đây cho thấy cả trong ngành công nghiệp hỗ trợ vị trí của FDI cũng lớn đáng kể. Một điểm đáng nói nữa là trong ngành công nghiệp, số lượng doanh nghiệp của Việt Nam có tới 11 vạn nhưng như Biểu 1 cho thấy chỉ có khoảng 3.400 công ty tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ, một con số quá nhỏ.

   Sở dĩ có t́nh trạng nêu trên là v́ doanh nghiệp Việt Nam quá yếu. Phần lớn là các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và một bộ phận khác là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Vào cuối năm 2019, Việt Nam có 5,4 triệu đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc hộ gia đ́nh, thu hút hơn 9 triệu lao động. Riêng trong ngành công nghiệp có hơn 84 vạn cơ sở sản xuất thuộc khu vực này, thu hút 1,7 triệu lao động. Số lao động trung b́nh trong mỗi đơn vị sản xuất cá thể thuộc ngành công nghiệp chỉ có 2 người.

  Quy mô quá nhỏ không cho phép các đơn vị cá thể có thể áp dụng công nghệ mới, không thể đầu tư lớn đủ để cải tiến thiết bị, nên không thể tham gia vào việc sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Cần có chính sách chuyển khu vực phi chính thức nầy thành những doanh nghiệp có tổ chức dần dần biến thành những SMEs mới. Hiện nay, số lượng SMEs đang có thu hút 4 triệu lao động nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh v́ khó tiếp cận với vốn và đất để đầu tư với quy mô lớn.

   Chính sách cần thiết hiện nay có hai nội dung. Một là chuyển đơn vị cá thể thành SMEs và hai là cải cách thị trường vốn, thị trường đất đai, tinh giảm thủ tục hành chánh để SMEs lớn mạnh. Đặc biệt nên lập ngân hàng hay quỹ tín dụng dành cho SMEs, một tổ chức có nhiêu cơ năng, ngoài việc cung cấp tín dụng c̣n có bộ phận tư vấn chuyên môn về hoạt động của SMEs. Cơ quan phụ trách SMEs của Chính phủ hằng năm nên phát hành một bản báo cáo (có thể gọi là Sách trắng SMEs) có các nội dung giúp SMEs tham khảo, chẳng hạn trào lưu mới về công nghệ và thị trường thế giới, nội dung các chính sách mới liên quan SMEs, v.v..

Đào tạo nguồn nhân lực và cải thiện thể chất của doanh nghiệp là những tiền đề để doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu./.

 

(Bài đă đăng trên Kinh tế Saigon số Xuân Quư Măo 2023, phát hành ngày 9/1/2023. Đây là bản đọc lại ngày 17/1/2023 trước khi đăng lên ERCT)