Một trăm bao gạo v́ sự nghiệp giáo dục

Trần Văn Thọ
Exryu Japan

 

(Bài nầy đăng trên báo Thanh Niên ngày 27/7/2007, được độc giả hưởng ứng sôi nổi. Ngày hôm sau báo đăng gần 1 trang ư kiến phản hồi tán thành của người đọc, nói lên sự bức xúc cao độ đối với thực trạng giáo dục ở Việt Nam)

 

    

Một trăm bao gạo (kome-hyappyo) là câu chuyện ở Nhật cách đây gần 140 năm nhưng có ư nghĩa mang tính thời sự rất lớn đối với ta hiện nay.

Chuyện kể rằng trong buổi giao thời giữa thời đại Edo và chính quyền Minh Trị, vào năm 1868, phiên Nagaoka (hiện nay là thành phố Nagaoka thuộc tỉnh Niigata) gặp khó khăn, nhất là thiếu lương thực. Một phiên lân cận thương t́nh mới đem tặng 100 bao gạo (mỗi bao tương đương 60 kư). Vũ sĩ của phiên Nagaoka rất vui mừng, phấn khởi v́ sẽ được ăn no, được ăn cơm không độn với ngô khoai. Tuy nhiên, Kobayashi Torasaburo, Đại tham sự (chức vụ tương đương với phó thị trưởng hoặc phó tỉnh trưởng ngày nay), quyết định không chia gạo cho vũ sĩ mà đem bán lấy tiền lo tu sửa trường ốc, xây thêm truờng học mới. Thấy nhiều vũ sĩ tỏ vẻ bất b́nh, thất vọng, ông đă thuyết phục, giải thích như sau: “Một trăm bao gạo chia nhau ăn sẽ hết ngay, chi bằng ta dùng vào việc chấn hưng giáo dục, trong tương lai ta sẽ có cả vạn, cả triệu bao gạo”. Nhờ chính sách sáng suốt thắt lưng buộc bụng v́ giáo dục nầy (những người chịu thiệt tḥi trước mắt là đám vũ sĩ nhưng dân chúng được hưởng dịch vụ giáo dục), số trẻ em trong phiên Nagaoka được đi học nhiều hẵn lên, nhiều người sau đó thành tài đóng góp đắc lực vào việc dựng nước thời Minh Trị. Trong số những người được giáo dục từ 100 bao gạo có Watanabe Renkichi sau đó học lên bậc cao hơn ở Tokyo và đi du học ở Đức, trở thành trợ lư đắc lực cho Thủ tướng đầu tiên của Nhật Ito Hirobumi trong việc soạn thảo ra hiến pháp đầu tiên (ban hành năm 1889) của nước nầy.

Câu chuyện 100 bao gạo của phiên Nagaoka nổi tiếng, điển h́nh  nhưng không phải là trường hợp cá biệt nếu xét từ chính sách, phương châm chung về giáo dục ở Nhật thời đó. Thời Edo có khoảng 360 phiên, hầu như phiên nào cũng chú trọng giáo dục. Nhờ vậy, thời Minh Trị duy tân thừa hưởng được một di sản quư giá là tŕnh độ dân trí rất cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy, vào thời đầu Minh Trị, tŕnh độ giáo dục, dân trí của Nhật gần như tương đương với nhiều nước tiên tiến Âu Mỹ. Đó là một trong những nhân tố làm thành công công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá của Nhật.

Việt Nam ta từ lâu có chiến lược xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng nh́n chung chưa thấy chiến lược đó được thể hiện trên thực tế. Ngược lại giáo dục từ nhiều năm nay vẫn c̣n là vấn đề nhức nhối của xă hội. Nhiều địa phương học sinh tiểu học chỉ được học một buổi v́ thiếu trường ốc. Thầy cô giáo không sống được bằng tiền lương gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xă hội làm giảm chất lượng giáo dục và làm ảnh hưởng trầm trọng đến quan hệ thầy tṛ, quan hệ nhà trường với phụ huynh vốn có truyền thống cao quư. Ta có thể đặt ra câu hỏi lớn sau: Nhà nước ở trung ương và địa phương đă làm hết ḿnh v́ sự nghiệp giáo dục chưa? Có phải tăng học phí là biện pháp duy nhất để cải thiện t́nh h́nh giáo dục hiện nay?

Cũng như nhiều ư kiến đă phát biểu, tôi nghĩ rằng nhà nước phải đảm trách việc thực hiện phổ cập giáo dục ít nhất ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở, tạo điều kiện cho mọi cháu ở lứa tuổi được đi học miễn phí ở các bậc học nầy. Các bậc học nầy thuộc giáo dục cơ bản, phải được thực hiện triệt để mới nâng cao được mặt bằng dân trí và đây cũng là một trong những nơi mà công bằng xă hội được cụ thể hóa dễ nhất. Do đó nhà nước phải có trách nhiệm và chỉ có nhà nước mới có thể đảm trách sự nghiệp nầy.

 Tôi đề nghị nhà nước đưa ra một cam kết, một kế họach cụ thể và bằng mọi cách phải thực hiện cho bằng được như sau: (1) Trong ṿng 3 hoặc 4 năm, cải thiện ḥan ṭan giáo dục bậc mẫu giáo và tiểu học theo hướng học sinh được học trọn ngày, phụ huynh không phải đóng góp một khoản nào và lương thầy cô giáo được tăng lên tới mức đủ sống (và có để dành) theo tiêu chuẩn trung b́nh của xă hội, và các thầy cô giáo nầy không được phép dạy thêm. (2) Trong ṿng 3 năm tiếp theo, nghĩa là 6 hoặc 7 năm kể từ thời điểm hiện nay, thực hiện kế họach tương tự đối với bậc trung học cơ sở.

Làm sao để có đủ ngân sách cho các kế họach nầy? Đề nghị nhà nước, trung ương và địa phương, xem xét một cách nghiêm túc một số điểm sau:

Thứ nhất, mổ xẻ cơ cấu chi tiêu của ngân sách giáo dục và điều chỉnh lại cho hợp lư. Đă có một số nghiên cứu, tính tóan cho thấy ngân sách giáo dục của Việt Nam không nhỏ, tỉ lệ của giáo dục trong tổng ngân sách hoặc trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) c̣n cao hơn nhiều nước khác. Vậy th́ ngân sách giáo dục của ta chủ yếu được dùng vào việc ǵ? Có thể cắt đi hoặc giảm những khoản không cần thiết không?

Thứ hai, mổ xẻ cơ cấu chi tiêu ngân sách nói chung xem có thể tiết kiệm chi tiêu ở những hạng mục khác để dành nguồn tài chánh nhiều hơn cho giáo dục không. Chúng ta đều biết đầu tư cơ bản của nhà nước hằng năm thất thoát hàng ngh́n tỉ đồng. Báo chí thỉnh thoảng đưa tin về sự tiêu xài hoang phí (xây trụ sở hoành tráng, đi xe đắt tiền, chiêu đăi vượt mức b́nh thường, v.v..) của nhiều lănh đạo địa phương. Rất nhiều cơ quan trung ương và địa phương tổ chức linh đ́nh đón nhận huân chương, bằng khen, v..v.. Những khoản chi tiêu như thế nầy hoàn toàn có thể tiết kiệm được.

 Thứ ba, sau khi nhà nước đă làm hết sức ḿnh về hai điểm nói trên mà vẫn không đủ ngân sách cho giáo dục th́ mới vận động thêm trong dân qua h́nh thức thu thêm thuế. Có thể ban hành một sắc thuế tiêu thụ đặc biệt mà người phụ đảm là những người tiêu xài sang trong xă hội. Chẳng hạn một bữa ăn trên 150.000 đồng cho một người sẽ chịu thêm 10% thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho giáo dục.

 Tóm lại, nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện phổ cập giáo dục cơ bản miễn phí. Nếu phải thắt lưng buộc bụng v́ sự nghiệp giáo dục th́ người đi đầu phải là nhà nước./. 

 

Bài nầy đă đăng trên báo Thanh Niên ngày 27/7/2007 và in lại trong sách Trần Văn Thọ, Việt Nam từ năm 2011: Vượt lên sự nghiệt ngă của thời gian, NXB Tri thức, 2011.
Bản cho ERCT lần này (
16/3/2022) có tu chỉnh vài chỗ, chủ yếu giải thích rơ hơn về địa danh.