Vấn đề thực tập sinh và xuất khẩu lao động

 

Trần Văn Thọ
Exryu Japan

Từ giữa thập niên 2010, số người trẻ Việt Nam sang Nhật rất đông, chủ yếu theo dạng thực tập sinh và du học sinh làm cho số người Việt Nam tại Nhật hiện nay đă lên đến khoảng nửa triệu, trở thành tập thể người nước ngoài đông nhất tại đây. Rất tiếc do nhiều lư do số người Việt Nam phạm tội tại Nhật cũng tăng, gây nên h́nh ảnh rất xấu của ta trước dư luận Nhật Bản. Mặt khác, một số công ty Nhật có thái độ bóc lột lao động, đối xử tệ, đôi khi tàn nhẫn, đối với lao động người nước ngoài, gây bức xúc cho chúng ta.

Gần 10 năm trước tôi đă viết trên báo Việt Nam về vấn đề xuất khẩu lao động. Trong cuốn sách xuất bản năm 2015 mà chương về vấn đề này được chép lại dưới đây, có đoạn sau: “Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó h́nh ảnh của những nước nầy không mấy sáng sủa trên vũ đài thế giới. Có kế hoạch chấm dứt t́nh trạng nầy trong một thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lănh đạo đất nước. …Hàn Quốc và Thái Lan đă thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Phi-li-pin là nước điển h́nh tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển h́nh tŕ trệ về kinh tế”.

Nhân dịp Thủ tướng Suga Yoshihide thăm Việt Nam tháng 10/2020, tôi có viết bài “Một Đông Du mới” đăng trên VNExpress (21/10/2020), trong đó có đoạn: “Trong số người nước ngoài tại Nhật, người Việt đông thứ ba (bây giờ đă thứ nhất) nhưng người phạm tội lại đông nhất, gây h́nh ảnh rất xấu tại đây. Lao động xuất khẩu phải tốn số tiền quá lớn cho các công ty môi giới là cái gốc của vấn đề. Tôi chỉ thắc mắc, chuyện đă được nói đến hàng chục năm nay, tại sao không được giải quyết? Bộ Lao động, Thương binh và Xă hội phải giải tŕnh về bi kịch này”.

Trong số người Việt tại Nhật hiện nay, có khoảng 65.000 là du học sinh và độ 200.00 là thực tập sinh. C̣n một h́nh thái nữa là lao động nhập khẩu, tức là những người sang Nhật để t́m việc làm chứ không phải để thực tập. Tuy nhiên theo chế độ hiện nay, Nhật Bản chỉ chấp nhận thực tập sinh nên những người đến với mục đích lao động cũng phải đăng kư theo dạng thực tập. Thật ra lao động muốn đến Nhật làm việc cũng chỉ làm ở các công ty (khác với những người đến Đài Loan hay các nước Trung Đông để giúp việc trong các gia đ́nh khá giả) trong một thời gian nhất định và sau một thời gian làm việc họ có kinh nghiêm, nâng cao tay nghề nên trên căn bản không khác thực tập sinh.

Thật ra nếu tổ chức tốt, lao động Việt Nam sang Nhật vừa làm việc vừa thực tập trong một thời gian sẽ trở thành lao động có kỹ năng, sau khi về nước có thể đóng góp tích cực vào công nghiệp hóa. Trong 30 năm qua, đă có khoảng 2 triệu thanh niên Á châu, chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan đă đến Nhật theo h́nh thức thực tập sinh kỹ năng và khi về nước nhiều người đă trở thành những người quản lư ở nhà máy hoặc tự ḿnh khởi nghiệp.

Trong số thực tập sinh người Việt Nam hiện nay, một mặt có nhiều hiện tượng tiêu cực gây h́nh ảnh xấu trong xă hội, nhưng mặt khác cũng có nhiều người nỗ lực học hỏi kinh nghiệm quản lư, nâng cao tay nghề, một số không ít đă thi đỗ lên cấp cao để lấy “tư cách kỹ năng đặc biệt”. Họ phải phấn đấu để có bằng tiếng Nhật cấp N4 trở lên và đỗ trong kỳ thi kỹ năng về lănh vực chuyên môn. Hiện nay số người Việt Nam lấy “tư cách kỹ năng đặc biệt “ đă lên tới 26.000, tăng hơn gấp đôi so với 2 năm trước.

Do đó ở đây nên phân biệt trường hợp thực tập sinh chính hiệu và trường hợp lao động xuất khẩu v́ trong nước không có việc làm. Dưới đây tôi chép lại chương sách về vấn đề xuất khẩu lao động, xuất bản năm 2015. Số liệu tuy đă cũ những bản chất của vấn đề cũng như chủ trương của tôi th́ không thay đổi.

Việt Nam trong ḍng chảy lao động tại Á châu

Chương 5 trong

Trần Văn Thọ, Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, NXB Tri thức, 2015.

Khu vực châu Á Thái b́nh dương, c̣n được gọi là vùng Đông Á, trong 40 năm qua đă phát triển năng động. Công nghiệp hóa lan tỏa từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, rồi đến Trung Quốc và nhiều nước ở ASEAN. Quá tŕnh đó được thúc đẩy bởi sự di chuyển nhộn nhịp của tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh từ các nước đi trước đến các nước đi sau. Những năm gần đây một yếu tố khác ngày càng nổi bật trên bức tranh sống động đó. Đó là lao động. Đây là yếu tố di chuyển từ nước đi sau đến nước đă phát triển, nghĩa là đi ngược ḍng với tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh. Nhưng trong 40 năm qua cũng có hiện tượng một số nước xoay chuyển ḍng chảy, từ vị trí của nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Qua các hiện tượng nầy ta có thể thấy được tŕnh độ phát triển của các nước, và đôi khi thấy được h́nh ảnh không mấy tốt đẹp của một số nước trên vũ đài quốc tế.

I. Sự di chuyển lao động tại Đông Á:

Tại Đông Á bắt đầu có hiện tượng xuất khẩu lao động từ thập niên 1970, chủ yếu là lao động nam từ Phi-li-pin, Thái Lan và Indonesia sang làm việc trong ngành xây dựng tại các nước Trung Đông, và lao động Việt Nam đi làm việc tại các nước Đông Âu. Sang thập niên 1980, lao động di chuyển trong nội bộ khu vực Đông Á bắt đầu tăng, lúc đầu chủ yếu là lao động nữ từ Indonesia, Phi-li-pin, và Việt Nam di chuyển sang Đài Loan, Singapore và Thái Lan, sau đó đến Nhật và Hàn Quốc. Vào thập niên 1980 và 1990, công việc chính của những lao động nữ này là giúp việc nhà, nhưng sau đó mở rộng sang các lănh vực khác như săn sóc người già, phục vụ trong các nhà hàng, v.v…

Năm 2012, Phi-li-pin xuất khẩu khoảng 1,8 triệu, Indonesia khoảng 19 vạn người. Việt Nam vào năm 2013 xuất khẩu độ 9 vạn lao động. So với Phi-li-pin và Indonesia, số lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam ít hơn nhiều, một phần v́ quy mô dân số nhỏ hơn. Nhưng đó là nói về lao động xuất khẩu đến toàn thế giới. Nếu chỉ kể những thị trường chính ở Á châu th́ số lượng lao động đến từ Việt Nam, Indonesia và Thái Lan gần như tương đương.

Tại các nước phát triển ở Đông Á, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang những ngành dùng nhiều tư bản, công nghệ và lao động trí thức, và chuyển sang nước ngoài (đầu tư trực tiếp) những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Tuy nhiên, những ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy mô khá lớn nên không thể chuyển hết ra nước ngoài, nhất là những lănh vực như xây dựng, nhà hàng, và dịch vụ săn sóc người già vốn là những ngành không thể dịch chuyển sang nước khác.

Từ thập niên 1980 Nhật Bản ngày càng thiếu hụt lao động trong những lănh vực vừa kể nhưng không tích cực nhập khẩu do lo ngại an ninh xă hội không bảo đảm v́ lao động giản đơn từ nước ngoài đến thường gặp trở ngại về ngôn ngữ và bất đồng về văn hóa. Nhật có chính sách chỉ nhận thực tập sinh (độ 155.000 người vào cuối năm 2013), là những người có tŕnh độ văn hóa nhất định và từ đầu được các công ty Nhật bảo lănh. Do chính sách này, v́ tiềm năng cung và cầu khá lớn nên nhiều lao động giản đơn đă đến Nhật theo các kênh bất hợp pháp và không có tư cách cư trú hợp pháp.

Hàn Quốc cũng thiếu lao động giản đơn từ đầu thập niên 1990. Lúc đầu họ cũng hạn chế lao động nhập cư nhưng đến năm 2004 đă đưa ra chính sách tiếp nhận có tổ chức bằng cách phát hành thẻ cho phép làm việc đối với lao động nước ngoài theo hiệp định với nước xuất khẩu. Vào cuối năm 2012, tại Hàn Quốc có 600.000 lao động nước ngoài trong đó 550.000 là lao động giản đơn, phần lớn có xuất xứ từ Phi-li-pin và Việt Nam.

Đài Loan bắt đầu có chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài từ năm 1989, lúc đầu giới hạn trong ngành xây dựng nhưng hiện nay phần lớn lao động nước ngoài làm việc trong các ngành chế tạo công nghiệp. Vào năm 2013 lao động giản đơn nước ngoài tại Đài Loan độ 490.000 người, phần lớn đến từ Indonesia và Việt Nam.

Trường hợp Thái Lan rất đặc biệt. Vào thập niên 1970, họ bắt đầu xuất khẩu lao động nhưng cuối thập niên 1990 sau một thời gian phát triển nhanh họ thiếu lao động nên xuất khẩu chấm dứt và chuyển sang nhập khẩu, chủ yếu từ Myanmar.

Như vậy, ḍng chảy lao động tại vùng Đông Á có hai đặc tính. Một là, những nước thành công trong chiến lược phát triển kinh tế là những nơi ngày càng nhập khẩu nhiều lao động. Trong đó, một số nước có kinh nghiệm xuất khẩu lao động trong thời gian ngắn như Hàn Quốc và Thái Lan nhưng đă sớm chuyển vị trí sang nước nhập khẩu. Hai là, những nước đă xuất khẩu lao động từ rất sớm và hiện nay c̣n tiếp tục xuất khẩu với quy mô lớn là Phi-li-pin, Indonesia và Việt Nam.

Nh́n từ vị trí của người lao động xuất khẩu ta có thể nêu một số điểm quan trọng. Thứ nhất, lao động giản đơn xuất khẩu sang các nước phát triển nhất là các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, thông thường làm việc trong những môi trường khó khăn, quyền lợi của người lao động thường bị xâm phạm v́ phần lớn việc xuất nhập khẩu lao động không được tổ chức chu đáo, không có sự cam kết của xí nghiệp dùng lao động và sự giám sát của các cơ quan nước sở tại.

Thứ hai, v́ là lao động giản đơn, tŕnh độ học vấn, tŕnh độ văn hoá của người đi lao động nước ngoài thấp nên khó thích nghi với điều kiện văn hoá, xă hội nước ngoài. Không ít người thất vọng với hoàn cảnh sống và làm việc ở xứ người, và có nhiều trường hợp phạm pháp xảy ra, gây ra h́nh ảnh xấu cho nước xuất khẩu lao động. Ngoài ra, cùng với điểm thứ nhất, lao động có tŕnh độ văn hoá thấp thường dễ bị bóc lột tại xứ người.

Thứ ba, nước xuất khẩu lao động hầu hết là những nước không thành công trong các chiến lược phát triển kinh tế. Với tŕnh độ văn hoá thấp, người dân các nước nầy không khỏi không lo âu khi rời xứ sở ra nước ngoài làm việc. Thành ra, nếu trong nước có công ăn việc làm, ít người muốn tham gia xuất khẩu lao động.

Thứ tư, cho đến nay, trong những nước xuất khẩu lao động chưa thấy nước nào đưa vấn đề nầy vào trong chiến lược phát triển kinh tế chung, trong đó lao động được đưa đi sẽ bảo đảm rèn luyện được tay nghề khi trở về, ngoại hối thu được sẽ được dùng một cách hiệu quả trong việc du nhập công nghệ, tư bản, v.v... và có kế hoạch chấm dứt xuất khẩu lao động trong tương lai.

II. Lao động xuất khẩu của Việt Nam:

Riêng về Việt Nam, không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Trong thập niên 2000, b́nh quân mỗi năm có 7 vạn, gần đây là 9 vạn, lao động được đưa đi ra nước ngoài (Bảng 5-1). Báo chí đă phản ảnh t́nh trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.

Bảng 5-1. Lao động xuất khẩu của Việt Nam

(Đơn vị: Người)

 

2001

2005

2011

Tổng số:

36.168

70.594

88.298

Sang Đài Loan

7.782

22.784

38.796

Sang Hàn Quốc

3.910

12.102

15.214

Sang Nhật Bản

3.249

2.955

6.985

Sang các nước khác

21.227

32.753

27.303

Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xă hội Việt Nam, 2013.

Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó h́nh ảnh của những nước nầy không mấy sáng sủa trên vũ đài thế giới. Có kế hoạch chấm dứt t́nh trạng nầy trong một thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lănh đạo đất nước. Như đă nói ở trên, Hàn Quốc và Thái Lan đă thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Phi-li-pin là nước điển h́nh tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển h́nh tŕ trệ về kinh tế.

Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc hiện nay (cuối năm 2012) có hơn 12 vạn người Việt Nam đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa v́ lư do kinh tế.

Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Việt làm thuê cả ở xứ ḿnh và xứ ngưới. Vào giữa thập niên 1960, nếu so sánh Saigon với Seoul, có lẽ không ai cho rằng Seoul phát triển hơn Saigon. Bây giờ th́ khác. Nhiều năm gần đây khi tṛ chuyện với những người có vị trí lănh đạo ở Việt Nam tôi thường đem quan hệ lao động giữa hai nước Việt và Hàn làm ví dụ để minh họa cho một t́nh trạng mà không một người Việt Nam nào không cảm thấy bức xúc.

Trách nhiệm của lănh đạo chính trị là sớm chấm dứt một t́nh trạng liên quan đến thể diện quốc gia nầy. Năm 2015 là năm chẳn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử. Nhiều người có trách nhiệm sẽ phát biểu về tương lai Việt Nam nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến việc thay đổi h́nh ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế về người lao động xuất khẩu./.

..........

Phụ trang cho Chương 5:

Trường hợp Phi-li-pin: Tụt hậu kinh tế và xuất khẩu lao động

Trên đường sang Nhật du học hơn 40 năm trước, máy bay của tôi đi từ Saigon dừng lại ở Manila vài giờ trước khi bay tiếp sang Tokyo. Từ đó cho đến những ngày rất gần đây tôi không có dịp đặt chân đến đất nước nầy. Đây là một chuyện khá hy hữu v́ tôi đă đi hầu hết các nước trong khối ASEAN, có nơi đă đi hàng chục lần nhưng lại không có duyên với Philippines mặc dù đây là một nước khá lớn với dân số trên 95 triệu. Như để bù lại, trong những tháng cuối năm 2011, tôi bay sang Manila dự hội nghị tới hai lần.

Nh́n từ góc độ phát triển, Philippines là trường hợp rất đặc biệt, đáng để ta suy ngẫm. Vào thập niên 1950, ở Á châu đây là nước có tŕnh độ phát triển rất cao, có lẽ chỉ sau Nhật Bản. Nhưng sau đó, do cơ chế, do bất ổn chính trị, xă hội, do một số chính trị gia thiếu tài đức mà Philippines bị bỏ lại đằng sau trong ḍng thác công nghiệp ở Đông Á. Hiện nay (2014) GDP đầu người độ 3.500 USD (Việt Nam là 1.900 USD), nhưng chênh lệch trong phân phối quá lớn tại một đất nước đông dân làm cho số người nghèo và cận nghèo quá đông. Ở Manila có quá nhiều khu nhà ổ chuột, nằm ngay cạnh con đường chính từ sân bay quốc tế đến trung tâm thành phố, hoặc nằm ở những nơi chỉ cách các trung tâm thương mại hiện đại không hơn một cây số. Những h́nh ảnh nầy gây cho ta ấn tượng đang đến một xứ nghèo.

H́nh ảnh ở sân bay quốc tế Ninoy Aquino của Manila cũng gây ấn tượng tương tự mặc dù việc tổ chức, quản lư ở sân bay khá đàng hoàng (chẳng hạn họ quản lư khâu sắp đặt taxi cho khách rất hợp lư, trật tự). Nhưng đến sân bay nầy ta sẽ thấy một cảnh tượng rất khác lạ so với sân bay ở nhiều nước khác: rất nhộn nhịp người đưa, ngưới đón. Đón và đưa người đi xuất khẩu lao động mà Philippines gọi là Overseas Filipino Workers (OFW). Ở cửa làm thủ tục xuất cảnh có cả một băng rôn to ghi hàng chữ đại ư là chúc cho các bạn đi lao động ở nước ngoài mạnh khỏe, thành công. Ở cửa đến, sau thủ tục nhập cảnh và lấy hành lư ta thấy có văn pḥng OFW dùng để hướng dẫn người đi lao động ở xa về. Tôi không rơ nội dung hướng dẫn gồm những ǵ, có lẽ về việc chuyển đổi ngoại tệ hay làm thủ tục nhập cư trở lại sau nhiều năm ở nước ngoài. Hiện nay mỗi năm Philippines có hàng triệu người đi lao động nước ngoài và ngoại tệ do OFW chuyển về tương đương trên 10% GDP.

Các bạn Philippines của tôi ai cũng bảo không vui v́ hiện tượng nầy. Tôi chia sẻ t́nh cảm của họ. Có ǵ đáng hănh diện với thế giới khi người dân nước ḿnh phải ra nước ngoài kiếm sống? Dĩ nhiên trong thời đại toàn cầu hóa, lao động di chuyển từ nước nầy sang nước khác không c̣n là hiện tượng ít thấy nữa. Tuy nhiên, nếu người nước ngoài đến nước ḿnh chủ yếu để quản lư, kinh doanh, để sở hữu nhà máy và các tư liệu sản xuất khác, c̣n dân nước ḿnh phải ra nước ngoài lao động, và sự bất tương xứng nầy không có dấu hiệu chấm dứt trong tương lai gần th́ là điều rất đáng lo ngại. Người Tây Ban Nha, người Hoa, người Mỹ từ lâu đă sở hữu phần lớn bất động sản và các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ ở kinh doanh thương mại của xứ nầy. Gần đây có thêm sự hiện diện ngày càng lớn của người Hàn Quốc.

Yếu tố lịch sử, địa lư, văn hóa ảnh hưởng nhiều đến t́nh trạng hiện nay. Lănh thổ của nước nầy gồm tới 7.000 đảo lớn nhỏ nên phong tục, ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc nhiều nơi vốn khác nhau. Khi Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha (lúc đó làm việc trong Hoàng gia Tây Ban Nha) t́m thấy quần đảo nầy năm 1521 th́ ở đây chỉ là những bộ lạc sống rời rạc trên những đảo lớn. Khoảng hai mươi năm sau, năm 1543, Tây Ban Nha lại đến và chuẩn bị các thiết chế để biến xứ nầy thành thuộc địa. Tên nước Philipiines mới có từ lúc đó, được đặt theo tên của Philip II, hoàng đế đương thời của Tây Ban Nha. Sau hơn 300 năm thuộc địa của Tây Ban Nha (1565-1898), Philippines lại trở thành thuộc địa của Mỹ (1898-1946). Do h́nh thể địa lư rời rạc, bề dày lịch sử tương đối mỏng lại bị thuộc địa gần 400 năm, Philippines gặp khó khăn trong việc thống nhất về mặt văn hóa và có lẽ sự gắn kết về mặt dân tộc cũng không bằng nhiều nước Á châu khác. Hiện nay nước nầy có đến hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Filipino nhưng không phải ai cũng thông thạo cả hai. Tổng thống Benigno Aquino hiện nay thông thạo cả hai thứ tiếng cũng trở thành một trong những điểm nổi bật trong dư luận của nước nầy. Nhiều bạn Philippines của tôi chỉ thạo tiếng Anh. Trong chuyến thăm Manila vào giữa tháng 12 năm 2011, tôi đi dạo phố với một người bạn, thấy anh nói chuyện với nhân viên ở nhà sách bằng cả hai thứ tiếng tôi hỏi lư do th́ được biết là những người có học chủ yếu nói tiếng Anh nhưng thêm vài câu tiếng Filipino để tạo sự thân mật với người cùng xứ.

Dân đông và tiếp tục tăng nhanh trong khi kinh tế phát triển chậm cũng là vấn nạn lâu dài của nước nầy. Dân chúng đa số theo đạo Thiên chúa nên không hạn chế sinh đẻ. Tầng lớp càng nghèo càng sinh nhiều con và cái ṿng luẩn quẩn "nghèo-đông con-nghèo" cứ tiếp tục. Tôi có đến thăm một khu nhà ổ chuột, chỉ cách trung tâm thương mại tài chính Makati (do ḍng họ Ayala của Tây Ban Nha sở hữu) hơn một cây số. Ở khu đó, trẻ con ḿnh trần đứng dầy ngoài đường. Hai bên đường toàn nhà cửa lụp xụp. Người bạn của tôi bảo là đàng sau những ngôi nhà nầy c̣n vô số những căn nhà lụp xụp khác và trẻ em trong đó rất đông. Nhiều người gọi những nơi như thế nầy là những "nhà máy sản xuất trẻ em" (baby factory).

Qua sách báo, tôi đă biết nhiều về Philippines. Nhưng nh́n tận mắt mới thấy ấn tượng và xúc động. Dĩ nhiên Philippines có nhiều mặt được thế giới chú ư và đánh giá cao. Giải thưởng Magsaysay, để kỷ niệm tổng thống thứ bảy Ramon Magsaysay của Philippines, được lập ra nhằm trao cho những cá nhân và tổ chức mà năng lực lănh đạo và hoạt động của họ đă đóng góp vào việc làm cho Á châu tốt đẹp hơn. Giải thưởng nầy đă được xem như Giải Nobel Ḥa b́nh của châu Á. Manila cũng là nơi có bản bộ của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), những nơi thường xuyên có nhiều học giả uy tín đến làm việc hoặc hội nghị.

Trong nửa sau thập niên 1980, qua truyền h́nh nh́n bà Tổng thống Corayon Aquino nhân hậu và thấy được người dân tin tưởng tôi đă thầm mong đất nước nầy sẽ chuyển sang thời đại mới. Nhớ lại hồi năm 1988 lúc tôi c̣n làm việc ở Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật, một giáo sư người Philippines đến thăm và trao đổi về t́nh h́nh kinh tế Á châu, ông ta nói về bà Corazon Aquino với sự tin tưởng và hănh diện: "Chúng tôi đang có một vị tổng thống quá tốt". Nhưng rồi t́nh h́nh đă không thay đổi. Dân chúng Philippines bây giờ đang mong đương kim tổng thống Benigno Aquino, và là con trai bà Corazon Aquino, có đủ năng lực qui tụ nhân tài vốn rất phong phú của xứ này, và giải quyết các mâu thuẫn nội bộ để đất nước 95 triệu sớm vào quỹ đạo phát triển của vùng Đông Á./.

Tokyo, 21/1/2022