Đầu Năm, Lại Chuyện Tử Vi

 

Việt Hải 

 

< Bài đă đăng trên Suối Nguồn Tâm Tư >

 

Tử vi bói toán được coi là một khoa học có hệ thống, khúc chiết và có căn bản lư giải, lư luân. Ngày xưa tôi đến chơi tại nhà người bạn gốc Hoa tại Chợ Lớn, ba anh này là một người nghiên cứu lư số tử vi từ bên Tàu sang, dưới nhăn quan của tôi ông là vị thầy bóc quẻ am tường, thông suốt về những nguyên tắc lư số tử vi mà ngày xưa ông lư giải tràng giang đại hải về những cụm từ ngữ nghe như xa lạ của tuổi thiếu thời, tôi đâm ra bị hoang mang và lạc hướng suy nghĩ trong khoa này. Càng lớn hơn tôi t́m sách đọc th́ những nguyên tắc xưa hiện về cho tôi một cái nh́n đúng đắn hơn, trân trọng hơn xưa và hiểu biết hơn về căn bản của khoa tử vi lư số mà nó đă hiện hữu từ lâu bên văn hóa phương Đông.

Sau đây là những điều căn bản như chất liệu cho bài viết mua vui vài canh khi năm mới lại về với chúng ta:

 

* Tử Vi về Âm Dương Ngũ Hành:

Theo thiên văn học th́ năm hành tinh chính trong hệ thống xoay vần của mặt trời hay Thái Dương Hệ là "Kim, Mộc Thủy, Hỏa, Thổ", mà trong khoa tử vi Đông phương gọi là ngũ hành. Từ khi chúng ta sinh ra, nhân mạng của chúng ta hay bổn mạng bị chi phối bởi những nguyên tắc tử vi căn bản như luật tuần hoàn của Âm Dương Ngũ hành, Thiên can, Địa chi, Trực, Cung, Sao Hạn,... Thuyết Âm Dương ảnh hưởng thẳng đến đời sống chúng ta như nam hay nữ về phái giống, thể xác hay linh hồn về cấu tạo con người, hay khí năng hay hơi thở so với máu huyết của chúng ta về y khoa sức khỏe. Do sự chi phối này của tử vi mỗi cá nhân đều có số mạng riêng.

 

* Tử Vi về Trời Đất:

Trong bài viết ngắn ngủi và tổng quát này, người viết chỉ đưa ra khía cạnh căn bản của khoa "tử vi nhập môn" như bài đọc vui nhân dịp đầu Xuân. Đào thêm vào lư thuyết thâm hậu của khoa tử vi này hẳn cần một pho sách vô tận cho những lư giải mạch lạc hơn cho hàng triệu trường hợp cá biệt cho mỗi cá nhân hiện hữu trên mặt địa cầu này. Do đó khi con người hiện diện trên mặt đất th́ cá nhân đó đă chịu ảnh hưởng của Trời, được gọi là Thiên Can và Đất, được gọi là Địa Chi.

 

* Thiên Can:

Trong khoa tử vi có mười thiên can mà chúng ta thường nghe qua là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quư. Đó là thập thiên can. Ví dụ như năm 2004 là năm Giáp Thân và 2005 là Ất Dâu.

 

Lấy vài ví dụ tiêu biểu cho người mang thiên can như Ất. Ngừời mang thiên can Ất th́ trực tính, thích làm việc thiện, việc xă hội, giúp đỡ tha nhân. Có lắm vất vă, thăng trầm trong cuộc sống, nhất là trong việc làm và t́nh cảm. Có tính tự lập, kiên nhẫn. Người mang thiên can Bính th́ thường cô đơn, suy tư, thường gặp hoàn cảnh bất hạnh, bất trắc. Cuộc đời gặp nhiều thử thách, cam go, nhiều phấn đấu. Người sống với nội tâm, đức hạnh và kỷ luật. Người thuộc thiên can Kỷ th́ tính thẳng thắng, rộng răi, vị tha, thích hoạt động từ thiện, xă hội, giúp tha nhân, tiền của không giữ lâu, đến rồi đi. Người thường gặp vất vă về t́nh duyên, trắc trở, chia ly, nhưng hậu vận lớn tuối có hạnh phúc về t́nh cảm, gia đạo ấm êm. Người thuộc thiên can Nhâm th́ cuộc đời nhiều may mắn, mọi việc dễ hanh thông, thuận lợi. Nếu sinh vào tuổi Nhâm Th́n lại càng tốt v́ rồng phun nước nhă ngọc trân châu, trai th́ số phú quư, gái th́ số sung sướng, nhất là về hậu vận. C̣n người mang Thiên Can Quư th́ thường có tính hào phóng, rộng lượng, ít lo, an nhàn, người có tài, thường được ưu đăi về việc làm, bổng lộc. Nếu mang tuổi Quư Tỵ th́ người tuổi này có lúc bị trắc trở, chia ly, giải tán hay không hợp tâm, hợp ư với đối tác trong đường làm ăn hay về t́nh cảm với bạn đồng hành.

 

* Địa Chi:

Tương ứng với 10 thiên can, ta có 12 địa chi như sau: Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi, tức mười hai con giáp chi phối tuổi của chúng ta.

Bàn về tuổi xung khắc hay thuận hợp trong hôn nhân nam nữ th́ vài ví dụ như thiên can nam khắc thiên can Tân của nữ, lại hợp thiên can Canh của nữ. Bính (nam) khắc Nhâm (nam), hợp Tân (nữ), Kỷ (nam) khắc Ất (nữ), hợp Giáp (nữ). Nhâm (nam) khắc Kỷ (nữ), hợp Mậu (nữ) và Mậu (nam) khắc Giáp (nữ), hợp Quư (nữ).

 

* Tử Vi về Cung và Hạn:

Theo hệ thống thiên văn 9 hành tinh mà mặt trời đứng giữa 8 hành tinh nhỏ hơn, th́ sự lư giải như là các tiểu càn khôn chịu ảnh hưởng của đại càn khôn hay tương tự như con người chúng ta chịu ảnh hưởng của vũ trụ bao quanh. Mặt trời tức Nhật hay Dương cho ánh sáng ban ngày, và Nguyệt, tức mặt trăng hay Âm, của ban tối chỉ màn đêm buông xuống. Như vậy th́ con người như tiểu càn khôn chịu sự chi phối của 9 cung sao:

 

Thổ Tú, Thủy Điêu, Thái Bạch, Thái Dương, Vận Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức, và La Hầu. Theo môn Thiên văn học mỗi chu kỳ của mặt trời trong Thái Dương Hệ xoay là 9 năm, trong khi đó trái đất xoay chung quanh mặt trời một ṿng là một năm hay 12 tháng hoặc 365 ngày. Theo âm lịch địa cầu xoay chung quanh mặt trăng 28 ngày mỗi chu kỳ. Như vậy thời gian trôi qua sự xoay vần các hành tinh trong Thái Dương Hệ ảnh hưởng trực tiếp với con ngừời từ các sao hạn Thổ Tú đến La Hầu. Mà trong 9 cung sao đó sao Kế Đô được xem là sao xui tận mạng, nó là v́ sao không may.

 

Lấy vài ví dụ như sao Thổ Tú cho thấy ta phải cẩn thận v́ có kẻ tiểu nhân mưu hại, thị phi, gia đạo bất ḥa, nhà cửa bất an, thiên tai, hoạn nạn,... C̣n bị sao La Hầu chiếu mạng cho thấy những điềm rủi như tiền tài hao tốn, t́nh duyên trắc trở, bị thị phi t́nh cảm, bị phản bội lọc lừa,... Sao Kế Đô có thể là tin buồn, tin xấu, tại họa ách trời giáng cho ta, chuyện rủi ro thua kiện, tù tội,...

 

Ngoài 9 cung hay Cửu Cung đă nói trên ra, tử vi của con người c̣n bị chi phối bởi 8 sao hạn tức Bát Quái liệt kê như sau: Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên Tinh, Toán Tân, Thiên La, Địa Vơng, Diêm Vương, và Huỳnh Tuyền.

 

* Tử Vi về Trực:

Trong các loại âm lịch mà chúng ta xem, danh từ "Trực" được đề cập trong mỗi ngày. Trực cho người ta biết yếu tố hên hay xui. Có tất cả là 12 trực hay nhị thập Trực may rủi là:

1)Trực tốt (Trực may): Trực B́nh, Trực Măn, Trực Thâu, Trực Khai, Trực Thành, ví dụ Trực B́nh ám chỉ cho việc thuận lợi khai trương, di chuyển, thương lượng, xây cất dễ gặp điềm may.

2)Trực xấu (Trực xui): Trực Nguy, Trực Phá, Trực Chấp. Ví dụ Trực Nguy kiêng cử việc khai trương, kết hợp, hùn hạp, cưới hỏi,...

3)Trực trung b́nh: Trực Kiên, Trực Định, Trực Trừ, Trực Bế. Ví dụ Trực Bế ám chỉ sự thuận lợi cho thưa kiện, nhận chức vụ mới, xây cất,... cho thấy sự hanh thông tương đối. Nếu Trực B́nh sẽ khả quan hơn.

 

* Bàn về đôi lứa trong hôn nhân:

Trong hôn nhân, người phương Đông xưa thường xem tuổi dựng vợ gả chồng cho con cái mà nó như cái tạp quán xă hội hay cái văn hóa một thuở trong quá khứ. Dù tin hay không th́ ta thử bàn xem lập luận duy lư đó nó ra sao. Trong ngày tết năm xưa tôi theo người láng giềng gần nhà tôi vào Lăng Ông Bà Chiểu và chứng kiến cụ đồ thầy bói già xem quẻ tử vi. Cụ thật lưu loát diễn giải các địa chi tam hạp và tứ hành xung. Trong cái kỷ niệm cụ đồ lư số tử vi đó như một bầu trời bao la với tuổi thơ của tôi, nhưng là bầu trời hy vọng với niềm tin cho những cặp trai gái khách hàng của cụ.

 

* Tứ Hành Xung:

Các địa chi rơi vào nguyên lư bốn tuổi khắc nhau được chia làm 3 nhóm:

- Tư, Ngọ, Mẹo, Dậu

- Th́n, Tuất, Sửu, MùI

- Dần, Thân, Tỵ, Hợi

 

Bà bạn láng giềng nhà tôi tuổi mẹo, ông thầy bàn lấy người nam tuổi Tư không nên, ông lư giải theo lư thuyết địa chi xung khắc th́ nếu mà bà lấy người này sẽ khổ sở, sẽ lận đận và sẽ chia ly. Ông đề nghị tuổi khác như Sửu hay Tuất. Thế rồi người tuổi Tư của bà bạn tôi đi du học, rồi đi luôn. Sau này bà gặp ông tuổi Sửu cày như trâu kéo cày, và rất tận tụy lo cho gia đ́nh. Ông thầy đồ Lăng Ông ngày trước đúng chăng ?

 

* Tam Hạp:

Các địa chi sau đây làm thành 3 nhóm được gọi là Tam Hạp:

- Thân, Tư, Th́n

- Tỵ, Dậu, Sửu

- Hợi, Mẹo, Mùi

 

* Hôn nhân qua lư giải:

Tôi xem bài viết "Tử vi hướng dẫn đường đời: T́m vợ và kén chồng" đăng trên internet, tác giả lư giải bài viết rất dí dỏm, khúc chiết.

Ông bàn về ngừời phụ nữ đi t́m đối tượng:

 

"Làm sao chọn được người chồng tốt? Vấn đề chọn vợ không quan trọng bằng chọn chồng là sao?

 

V́ người vợ thường theo số chồng hơn là chồng theo số vợ. Nói cách khác, số người chồng quan trọng hơn và có tính cách quyết định hơn là số người vợ. Các cô thường chọn chồng sang, chồng giàu, chồng đẹp trai và thường bị hỏng trong việc lựa chọn đó. Người chồng có thể sang, giàu, nhưng mà có cái tệ vũ phu, bỏ nhà đi chơi bời, bỏ vợ, đủ thứ xấu th́ cái sang giàu đó lại hoàn toàn vô nghĩa. Thế cho nên, cộng vào các điều kiện tất nhiên khác, khi đặt vấn đề chọn chồng, các cô chỉ nên chọn người tử tế.

 

Các điều kiện nên có là:

1) Được người tử tế quư vợ.

2) Có tính hạnh tốt, nói chung.

3) Biết cố gắng chịu khó làm việc cho gia đ́nh.

4) Có số giống số chồng và có sự hợp nhau.

 

Về điều kiện 1, nên nh́n vào cung Thê của người Nam, thấy tốt là được, hay không thấy tệ hại. Về điều kiện 2, những cậu trai đáng kể là người có tam hợp Thái Tuế ở Mệnh, có Chính Tinh Miếu Vượng (Thiên Lương là nhất). Về điều kiện 3, thấy mạng tốt, hẳn là người khá, chịu khó làm việc. Về điều kiện 4, hai số hợp nhau, giống nhau, có truyền tinh hay không cũng được, nhưng những Đại vận nên có tốt xấu gần nhau.

 

Khi so đôi tuổi vợ chồng, thường thường các Thầy Bà chỉ đoán về sự hợp tuổi, hợp mạng: hành hai mạng hợp nhau là tốt, hay khắc cũng được, nhưng phải là mạng chồng khắc mạng vợ mới tốt. Như thế tức là mạng vợ khắc mạng chồng th́ không tốt, nhưng các Thầy Bà c̣n t́m ra xem hai mạng là hành ǵ? thuộc thế ǵ? để so sánh rồi cũng dễ dàng chấp nhận.

Như Thủy phải khắc Hỏa. Nhưng mạng vợ là Đại Hải Thủy th́ cũng không khắc được mạng chồng; nếu là Thiên Thượng Hỏa; mạng vợ là Trường Lưu Thủy cũng không khắc được mạng chồng là Sơn Đầu Hỏạ Đó là cách so đôi tuổi, để t́m về sự kiện hợp ư trong cuộc sống chung. C̣n về sự kiện sống chết, mạng vận hợp nhau thế nào th́ phải coi cả hai lá số.

 

Dầu sao th́ trong nhiều trường hợp, số vợ cũng theo số chồng. Không những là chồng giàu th́ vợ phải giàu, chồng nghèo th́ vợ phải nghèo; mà c̣n có sự kiện chồng yểu th́ vợ phải góa chồng không có số góa và đời sống hôn nhân phải dài lâu, th́ cái đó có thể một người vợ long đong về đường chồng, thành một người vững vàng trong hôn nhân. Cho nên chọn chồng phải tránh những ông chồng có hành mạng khắc hành của chính tinh cung Thệ Như ông chồng mạng Thổ có chính tinh cung Thê là Thái Âm Thủy, như ông mạng Thủy có chính tinh cung Thê là Liêm Tinh Hỏa; bởi v́ đó là những ông có thể có đến mấy đời vợ không chừng! Nhưng cũng không nhất thiết như thế, v́ cũng có những ông chồng không ở trường hợp đó mà cũng góa vợ. Cũng nên ngại những ông chồng có Hồng Đào, Tả Hữu, hay Long Phượng, Tả Hữu ở cung Thê, v́ các ông đó có mấy vợ; hoặc các ông có Hồng, Kỵ, hay Kinh Đà, Kỵ. Gặp Nhật Nguyệt hăm, là những ông chồng oán ghét vợ; có Cô, H́nh là xa vợ; có Phá Quan hay Thất Sát gặp H́nh, Riêu, Binh là người có thể làm hại vợ v.v... và v.v..."

 

Ông bàn về người nam t́m đối tượng nữ:

"Người con trai sướng hay khổ phần nhiều là do người vợ, nên phải để tâm kiếm người vợ hoàn toàn. Kiếm theo Tử Vi có lẽ đúng hơn, v́ những ǵ của cô gái, không cứ là tính nết, bộc lộ ra hết. Những ai muốn kiếm người vợ hoàn toàn, nên biết rằng: Trong đời sống vợ chồng; số chồng thường trùng lấp và lấn số vợ, v́ thế mà người đàn ông không nên đặt nặng vấn đề chọn vợ, là v́ số của ḿnh là số chính.

Thí dụ: Một ông có số khắc vợ, v́ mạng của ông khắc chính tinh ở cung Thê (mạng ông là mạng Thổ, chính tinh ở cung Thê là Thái Âm thuộc Thủy, và Thái Âm này Miếu ở Dậu; tốt như thế mà vẫn bị khắc) th́ ông phải có hơn một đời vợ, có thể có vợ chết.

Một ông bạn khác có số "Thân Cu Thê", cung Thê của ông lại có Hóa Quyền và Tam hợp Thê tại Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim khắc Tam hợp mạng thuộc Mộc ở Hợi Măo Mùi (Mạng ở Măo, Thê ở Sửu), th́ dứt khoát là ông bạn phải sợ vợ, khổ sở v́ vợ; dù ông có kiếm được một bà rất hiền lành, th́ cuối cùng vẫn phải sợ vợ mà thôi! Nhưng cách đó ở số nữ lại không được kể. Vậy th́ vấn đề kiếm một người vợ hoàn toàn, theo Tử Vi, nên đặt khác đị Nên kiếm những điều kiện sau:

 

1) Có sức khoẻ tốt.

2) Có đức hạnh tốt.

3) Thêm đức tính tháo vác, khí phách và lạc quan yêu đời.

4) Có số giống số chồng và có sự hợp nhau.

 

Vấn đề chọn vợ cũng là vấn đề t́m hạnh phúc, hay là vấn đề cải số tốt. Trước hết, xin bác bỏ luận cứ cho rằng hôn nhân là một cuộc lựa chọn của con người, th́ không có số. Trong hôn nhân, hai người nam và nữ ghép vào nhau cũng có số. Những trường hợp bất thường rất ít, gọi là trường hợp trái số. Có nhiều trường hợp đă xảy ra để minh chứng là con người có số mạng trong hôn nhân và những sự ghép trái số khó có thể thành tựu là đúng.

 

Bây giờ xin phân tích các điều kiện chọn vợ theo tử vi:

 

1) Chọn người có sức khoẻ tốt: Lấy vợ là để chọn người chung sức với ḿnh làm việc, sinh con, nuôi con, trông coi gia đ́nh, nên cần người có sức khoẻ và không bệnh tật. Điều này tương đối dễ dàng v́ có thể nh́n bề ngoài qua h́nh tướng thấy khoẻ mạnh; có bộ mông to lợi cho việc sinh đẻ mà theo Tướng Học dạy: "Đàn bà to mông, đàn ông to vai")...

2) Có đức hạnh tốt: Tính lành và lương thiện, nhất là nết na, ngay thẳng, không sinh hai ḷng; lấy chồng rồi c̣n thương yêu kẻ khác. Đàn bà có Hồng Loan, Nguyệt Đức v́ thế quư hơn Đào Hoạ Đàn bà Tứ Phú, Thiên Lương quư nhất. Nói chung các chính tinh miếu vượng đều quư; vừa là người ngay thẳng. Đàn bà Thái Tuế th́ hay nói, nhưng lại được sự ngay thẳng. Theo Phú đoán đàn bà có mạng Tham Sát ở Dần Thân là bất nghĩa, nhưng có Tam hợp Thái Tuế lại không saọ Đàn bà cũng không nên có Không Kiếp tại Mạng, có thể long đong.

3) Thêm đức tánh khí phách, tháo vác, lạc quan: Cưới được người vợ có đức tính như vậy thật là hoàn toàn. Người vợ lạc quan th́ không buồn khổ trước nghịch cảnh và không trách móc chồng. Người vợ khí phách th́ cứ lo toan mọi việc đâu ra đấy, không làm phiền hà đến chồng; chồng cứ việc làm ăn đấu tranh với xă hội bên ngoài. Người vợ tháo vác xứng danh là nội tướng. Cụ Phúc Lộc Đường, thân phụ tôi nói: Chọn người vợ có Chính Tinh là Thiên Tướng, rất có bản lănh, rất tháo vác. Nhưng những cô Thiên Mă, Tràng Sinh hay Mă Khốc Khách cũng tháo vác lắm vậy. C̣n muốn có người lạc quan, phải kiếm người Thiên Hỷ hay Hỷ Thần.

4) Có số giống số chồng, có sự hợp nhau: Nhưng vợ chồng đích thực là những vợ chồng Tử Vi có sự truyền tinh: Số chồng mà cung Thê có những Chính Tinh, trung tinh chính nào, th́ số vợ có mạng cũng có những sao đó. Giống số nhau, có sự hợp nhau, lại c̣n có nghĩa là có các Đại vận gần giống nhau, tốt cũng tốt, xấu cũng xấu. Giống số nhau, lại c̣n phải nói đến sự sống chết: số chồng chết yểu th́ số vợ phải ở góa; ngược lại cũng thế; vợ yểu th́ chồng góa; mà cả hai vợ chồng cùng sống lâu th́ đời sống chung phải lâu dài, thịnh vượng.

5) Cuối cùng, lấy vợ cũng phải tránh được những người có những cái xấu nguy hại, như gặp những cách vợ bất nghĩa, hại chồng, vợ ngoại t́nh (Đào Hoa mà ngự Sao Thai, chồng ra khỏi cửa dắt trai vào nhà), vợ ác độc, xấu tánh. Vợ quá đẹp cũng có khi là điều nên tránh, v́ vợ đẹp là vợ người ta! Người quá đẹp lại đoảng, thiếu nhiều tánh tốt khác."

Do đó phàm là người hiện hữu trên mặt địa cầu đều có số cả. Người may mắn sống giàu sang phú quư, người th́ không may có cuộc sống thiếu ăn hay chết đói. Người th́ duyên bền tận hưởng hạnh phúc gia đ́nh, c̣n kẻ th́ dang dở, gian nan, lận đận t́nh duyên. Bởi thể trong ư nghĩa khôi hài người ta nói giầy dép c̣n có số huống hồ chi con người.

Lời kết luận cho bài viết này, khoa lư số tử vi dựa trên căn bản khoa học thiên văn kết hợp với lư thuyết Âm Dương lâu đời của người Trung Hoa, hay sâu xa hơn, đó là thuyết Kinh Dịch với vũ trụ quan của triết lư Đông Phương. Muốn đào sâu tới nơi tới chốn th́ lắm phức tạp, cần một kiến thức uyên bác hơn là bài viết ngắn, cô đọng và rất đơn giản trên đây. Người viết mong đón nhận những cao kiến từ các bậc trưởng thượng, những bậc thức giả trong phạm vi tử vi lư số này vậy.

 

Việt Hải Los Angeles