CON NGƯỜI CÓ BỞI KHỈ MÀ RA KHÔNG?

Chu Tất Tiến

15 tháng 10 năm 2004

 

Kể từ năm 1859, khi Charles Darwin xuất bản cuốn „On The Origin of Species“(Về Nguồn gốc  các chủng loại), các cuộc tranh luận về nội dung cuốn sách đă liên tục tiếp diễn bởi các nhà khoa học, lư luận, thần học, và lôi kéo thêm rất nhiều người tranh căi ngoài ḍng khoa học chính thức. Tuy nhiên, v́  không có cơ hội đọc tất cả các tài liệu liên hệ hoặc tham dự đầy đủ các cuộc thảo luận, nhiều người đă hiểu vấn đề một cách nông cạn. Dần dần, theo thời gian, những tư tưởng lệch lạc xuất hiện, làm biến dạng vấn đề một cách kỳ quặc. Nhiều người bênh vực thuyết Tiến Hóa đă cực lực cho rằng: Thiên Chúa giáo chống đối khoa học, phủ nhận các thành quả khoa học, trong khi cố bám víu lấy những tư tưởng lỗi thời của Thuyết Sáng Tạo. Gần đây, họ lại cho rằng Đức Giáo Hoàng đă công nhận Thuyết Tiến Hóa rồi, nên những ai chống lại Thuyết này đều là những kẻ ngu muội. Ngược lại, nhiều tư tưởng bênh vực Thuyết Sáng Tạo lại cho rằng Darwin là một kẻ vô thần, chống Thiên Chúa, bầy đặt chuyện những lư thuyết không tưởng.

 Thực tế, vấn đề không đơn giản như thế. Darwin, sau khi đă thu thập mẫu vật hơn hai chục năm, vẫn không thể trả lời được rất nhiều câu hỏi khoa học. Tuy nhiên, nhiều lư luận của ông về sự tiến hóa đă được khoa học kiểm chứng. Nếu bỏ qua một vài ẩn số, Thuyết này vẫn là một lư thuyết về con người và vũ trụ quan trọng nhất trong hai thế kỷ hiện tại. Đối lập với thuyết Tiến Hóa, thuyết Thiên Chúa làm chủ muôn loài vẫn mang một giá trị kiên định, vững chăi trong hai mươi thế kỷ trên rất nhiều h́nh thức tôn giáo khác nhau: Hồi giáo, Công giáo Đông Phương, Công giáo La Mă, và hàng trăm hệ phái Thiên Chúa giáo khác. Riêng về Giáo Hội Công Giáo La mă, trong khi xác nhận nhiều điều lợi  cho thuyết Tiến Hóa,  cũng  giải thích thuyết Sáng tạo một cách rất khoa học. Để có thể đóng góp một tầm nh́n giới hạn về thuyết này, người viết xin cố gắng tŕnh bầy một vài ư tưởng liên quan đến vấn đề trên, dưới quan điểm của một người viết văn, (thường viết dưới sự hướng dẫn của cảm tính hơn là thực tại,) và nhất định không phải là người làm Khoa học. V́ vậy, nếu có sai lầm hoặc diễn tả thiếu sót, cũng xin quư vị độc giả lượng t́nh tha thứ.

    A-Thuyết Tiến Hóa:

    Darwin không phải là người đầu tiên phát minh ra thuyết Tiến Hóa. Ông đă dựa theo nhiều nhà khám phá trước như Paley , Lyell, và Malthus. Trong cuốn Darwin's Metaphor, Chương III (Tài liệu giáo khoa của Cal State Fullerton, môn Khoa Học Tự Nhiên) Robert Young viết: „Đó là khi ông đọc Malthus vào năm 1838, ông đă bị xúc động bởi sự giải thích về thiên nhiên của Malthus vàø điều này đă làm củng cố thêm những ǵ ông đă thu thập được từ Lyell (người cũng dùng Malthus để giải thích những vấn nạn về sinh thái học và sự tuyệt chủng) và từ sự nghiên cứu về những súc vật đă được thuần hóa. V́ vậy, Paley và Malthus đă ảnh hưởng trên Darwin rất nhiều phương diện. Paley nhấn mạnh về sự hội nhập hoàn toàn; Malthus về sự mâu thuẫn. Ở một mức độ nào đó, một cách phản đề, Darwin đă tổng hợp chúng lại.“ Ngoài ra, ông c̣n ảnh hưởng sâu xa bởi Lamarck, nguời đă chủ trương rằng những đặc tính tiến hóa trong các cơ phận có thể di truyền được, chưa kể đến một năm trước khi cuốn „On The Origin of Species“, ông đă cùng với Alfred Wallace tŕnh bầy chung với nhau về sự Chọn Lựa Tự Nhiên ở Luân Đôn. (Origin of species. British Musem. Cambridge University Press. 1981).   

  Cuốn "On the origin of Species", tập hợp những lư thuyết quan trọng nhất của Darwin, gồm có các chương: Sự biến đổi duới việc thuần hóa, Chiến đấu để sinh tồn, Chọn lựa Tự Nhiên, Luật Biến đổi và sự liên hệ phát triển, Những khó khăn trong vấn đề chuyển hóa, Bản năng hoặc quyền lực tinh thần của súc vật, Sự lai giống, sự bất toàn của các ghi chép về Địa chất, tính chất kế thừa của các cơ phận, sự phân phối địa chất trong không gian, sự sắp hạng hay sự kết giao (hôn phối) hỗ tương…

   Từ các chương này, thuyết Tiến Hóa cho rằng: Không có bàn tay Thượng Đế trong việc tạo ra vũ trụ, nhất là việc tạo ra các chủng loại mới. Con người cũng như các sinh vật khác là những  sản phẩm của sự tiến hóa từ các chủng loại trước. Khỉ và Loài người có cùng một ông Tổ (common ancestor),  ông Tổ này cũng là sản phẩm của việc tiến hóa từ các đơn bào. Thiên nhiên (các động vật và thực vật) hiện hữu đều trải qua một sự chiến đấu với môi trường (đất, không khí, thời tiết…) và với đồng loại để sống c̣n. Trong các cuộc tranh thắng, động vật  nào mạnh hơn và biết thích hợp với môi trường hơn sẽ tồn tại (natural selection).

      B. Vài mâu thuẫn nội tại trong thuyết Tiến hóa:

        1-Thuyết Tiến Hóa chưa giải thích được toàn bộ cấu trúc của Thiên nhiên.

     Ỏ đoạn chót của Lời Nói Đầu trong cuốn sách trên, Darwin viết: „Hơn nữa, Tôi đă được thuyết phục rằng Sự Lựa chọn Tự Nhiên là một phương tiện Chính yếu, nhưng không phải là phương tiện độc nhất của sự biến đổi!“ (Furthermore, I am convinced that Natural Selection has been the main but not exlusive means of modification.) Tác giả đă mở ngỏ câu nói này, không giải thích thêm, v́ có lẽ ông cũng nhận thấy, ngoài những điều ông thu thập được, vẫn c̣n những bí ẫn mà tri thức ông không thể giải thích được.

Trong một đoạn kết luận, ông đă cho rằng không nên để cho một người nào bỏ qua sự tự chế mà nghĩ và duy tŕ rằng “con người có thể t́m kiếm  thật sâu xa hay nghiên cứu thật công phu vào cuốn sách gồm những lời của Thiên Chúa hoặc vào cuốn sách của những công việc Chúa làm, thần thánh hay triết học; nhưng hăy để mặc họ nỗ lực trong một tiến tŕnh vô tận hoặc một sự thông thạo trong cả hai điều đó”. (To conclude, therefore, let no man out of a weak conceit of sobriety, or an ill-applied moderation, think or maintain, that a man can search too far or be too well-studied in the book of God's word, or in the book of God's works; divinity or philosophy; but rather let men endeavor an endless progress or proficiency in both) (Kenneth R. Miller. Finding Darwin's God. 1999. trang xii.)

   Năm 1844, ông ta cho rằng, qua việc tồn tại của những ǵ thích hợp nhất trong khi chiến đấu để sinh tồn, sự chọn lựa tự nhiên (natural selection) đă có thể thay đổi một cách căn bản số lượng thăng bằng giữa những sinh vật và thực vật cạnh tranh với nhau. Nhưng,  ông lại không bao giờ có thể giải thích được sự phát triển của những trạng thái bất định (variability) trong thiên nhiên, và sự biến đổi thuận tiện trong chốn hoang dă lại có thể làm cho những chủng loại lai giống tồn tại rất lâu. Ngoài ra, ông cũng không thể trả lời câu hỏi tại sao số lượng sinh trưởng trong thiên nhiên lại không thể nào sánh kịp số lượng vật nuôi trong nhà, là nơi mà súc vật không có sự chọn lựa. Hơn nữa, ông cũng bế tắc với sự thay đổi rất khác biệt về môi trường hóa học và vật lư để tạo ra những giống loại mới. (S. Toulmin và J. Goodfield. The Discovery of Time. Đại Học Chicago Press, 1965). Ông c̣n gặp trở ngại với động cơ của sự thay đổi và sự thừa kế cũng như về bào thai học.

        2-Không phải những sinh vật xuất hiện trước là cha đẻ của những sinh vật sau:

   Cũng trong cuốn “On the origin of species”, chương XIV, Darwin đă viết: “We should not be able to recognise a species as the parent of any one or more species if we were to examine them ever so closely, unless we likewise possessed many of the intermediate links between their past or parent and present states; and these many links we could hardly ever expect to discover,  owing to the imperfection of the geolgical record.” Chính Darwin đă xác nhận là “chúng ta không thể nhận biết được cha mẹ của một chủng loại khi chúng ta phải nghiên cứu thật gần, trừ ra khi chúng ta có thể  sở hữu được sợi giây liên kết trực tiếp giữa cha mẹ chúng và  chủng loại hiện tại, mà những mối liên kết này, chúng ta không hy vọng ǵ khám phá được bởi v́ sự bất toàn của địa chất học.” Như vậy, cho dù có t́m được hàng trăm cái xương sọ khỉ có đặc tính như của loài người mà xuất hiện trước loài người hàng  ngàn năm, cũng chưa chắc con người là con cháu của khỉ. Hưống chi những cái sọ khỉ mà người ta đă kiếm được lại cách xa những cái sọ người hàng trăm ngàn năm. Người viết giả thiết rằng có nhiều hệ truyền giống song song với nhau nhưng không bao giờ gặp nhau, một hệ Khỉ kéo dài hàng triệu năm, một hệ Người chừng vài trăm ngàn năm, hai hệ này có một số  đặc tính tương tự nhưng không giao thoa với nhau và không phải là truyền nhân của nhau.  Bằng chứng là cả vài chục ngàn năm nay, chưa có khám phá nào cho thấy những con khỉ có đột biến dần dần thành người như rụng bớt lông, như bập bẹ nói, như bỏ đặc tính leo trèo…Vài chục ngàn năm đối với vũ trụ th́ như hạt cát, nhưng với sự tiến hóa của loài người th́ là cả một con số thật lớn, vậy mà không thấy biến đổi ǵ. Ngoài ra, cũng c̣n có những hiện tượng giao cấu lộn giống giữa những sinh vật tương cận  như ngựa và lừa thành la,  do đó mà có sự hoài nghi rằng, giả dụ có những sinh vật nửa người nửa khỉ, th́ cũng có thể là kết quả của một sự pha giống đột biến hiếm hoi trong một môi trường nào đó, một không - thời gian nào đó, mà không phải lúc nào cũng xẩy ra.

   C. Thái độ của người Công giáo:

        a-Tín ngưỡng không chống lại Khoa học mà c̣n hỗ trợ cho khoa học:

Thật ra, Thuyết Tiến Hóa không phải là đại diện cho toàn thể Khoa học, chỉ là một sự cố gắng giải thích nguyên nhân về sự hiện diện của mọi sinh vật, khoáng vật, thực vật  trên địa cầu cùng với những đặc tính của từng chủng loại. Khi nói đến Khoa Học một cách tổng quát, người nghe sẽ liên tưởng đến rất nhiều ngành học. Vật lư, Hóa Học, Thiên Văn, Toán, Thống kê, Nhân văn, Nhân Chủng, Khảo cổ học... V́ Thuyết Tiến Hóa chỉ là một Thuyết (theory) chưa phải là Luật, nên không thể bắt buộc toàn thế giới này tin theo. Có nhiều người v́ mê say thuyết Tiến Hóa đă lư luận rằng “hễ không tin vào thuyết Tiến Hóa là trở thành chống báng khoa học” . Đây là một suy diễn quá thiển cận, cũng  giống như “chụp mũ” vậy. Nhiều tác giả chỉ không tin vào thuyết Người bởi Khỉ mà ra, c̣n vẫn tin vào có sự  tiến hóa trong cùng một chủng loại (within a kind). Nếu có sự pha trộn giống th́ có thể do sự giao hợp của các sinh vật tương cận và các sự đột biến về Gen (random genetic drift) tùy vào những tác động bất ngờ của các yếu tố ngoại lai. Dĩ nhiên, khi nh́n lại lịch sử Giáo Hội, đă có những thời điểm mà Giáo Hội, v́ chưa qua giai đoạn ấu trĩ của một tôn giáo đang trên đà phát triển quá nhanh, đă sai lầm nghiêm trọng khi chỉ trích, trừng phạt một cách độc ác đối với những thành quả khoa học mới được khám phá, làm thiệt hại tài nguyên khoa học rất nhiều. Nhưng những việc đó đă chấm dứt hoàn toàn ngay sau khi nước Ư không c̣n nạn sứ quân nữa. Đồng thời, chắc chúng ta cũng không phủ nhận rằng hầu như những phát minh về vật lư, toán học, nhân loại học đều đa số xuất phát từ các nhà khoa học có một tín ngưỡng sâu sắc hay từ các tu viện.

   b-Thái độ của Giáo hội với Thuyết Tiến Hóa:

  Một phuơng cách đơn giản nhất để tiếp cận về vấn đề này là truy cập trên internet tại địa chỉ: nsmserver.fullerton.edu/departments/chemistry/evolution-creation/web. Sau đó, truy tới mục Catholic Theistic Evolution. Tại mục này, dưới đề tài “Adam, EVe, and Evolution,” tài liệu cho thấy rằng:

            1-Về sự tiến hóa của vũ trụ (cosmic evolution): Giáo hội giải thích một cách không thể sai lạc rằng vũ trụ đă được sáng tạo từ số Không. (the Church has infallibly defined that the universe was specially created out of nothing.) Giáo Hội không đứng trên một vị trí chính thức nào về (The Church does not have an official position on whether..) vấn đề những ngôi sao, thiên thể, và hành tinh mà chúng ta nh́n thấy hôm nay đă được sáng tạo vào giờ khắc đó hay là chúng đă phát triển theo thời gian (thí dụ như thuyết Big Bang mà các nhà vũ trụ học hiện nay đang bàn căi). Tuy nhiên, Giáo Hội duy tŕ niềm tin rằng, nếu các ngôi sao và hành tinh có phát triển theo thời gian, sự phát triển đó phải được thực hiện v́ Thiên Chúa và ư định của Ngài.

            2-Về sự tiến hóa của sinh vật học (biological evolution): Giáo hội cũng không đứng trên một vị trí chính thức nào về vấn đề các thể loại khác nhau đă phát triển theo thời gian. Tuy nhiên, nếu chúng có phát triển, chúng cũng được thực hiện dưới sự chỉ đạo và thúc đẩy của Thiên Chúa.

            3-Về sự tiến hóa của loài người (human evolution): Giáo hội cho rằng có một khả năng là loài ngụi hiện tại đă tiến bộ từ một thể loại khác dưới sự chỉ đạo của Thiên Chúa. (It allows for the possibility that man's body developed from previous biological forms- under God's guidance). Giáo Hội cũng khẳng định rằng, dù cho cơ thể loài người được sáng tạo một cách đặc biệt hay được phát triển, Linh Hồn đă được sáng tạo một cách đặc biệt. Linh hồn không tiến hóa, và cũng không thừa hưởng từ cha mẹ như  thân xác của chúng ta.

            4-Về thời điễm sáng tạo (the time question):  Giáo hội không xác nhận ràng trái đất đă được tạo thành vài ngàn năm trước và cũng không nói rằng trái đất được tạo thành vài tỷ năm trước đây.

            5-Về các nghiên cứu khoa học: Giáo hội mong rằng để cho có sự công bằng với vấn đề tuổi của vũ trụ, người ta phải t́m một sự hài ḥa (harmonize) giữa thánh kinh và những chứng cớ khoa học hơn là bỏ qua một trong hai. “Giáo hội không chống đối khoa học cũng không chấp nhận một cách dễ dăi những giả thuyết có tính cách tôn giáo hay triết lư đưa ra bởi những người thay mặt cho khoa học” Những khám phá khoa học lại c̣n mời gọi chúng ta đến sự ngưỡng mộ sâu xa hơn nữa về sự vĩ đại của Đấng Tạo Hóa, cùng nhắc bảo chúng ta dâng lên Ngài lời cám ơn về những công tŕnh của Ngài và về sự hiểu biết và khôn ngoan mà Ngài đă tặng cho những học giả và những nhà nghiên cứu.” (The Church is neither hostile tơward science,nor does it uncritically accept religious or philosophical propositions asserted by people on behalf of science”These discoveries invite us to even greater admiration for the greatness of the Creator, prompting us to give thanks for all his works and for the understanding and wisdom he gives to scholars and researchers.”

            6-Về những ngày tháng trong sách Sáng Thế (Genesis): Giáo hội cho rằng có hai quan niệm đọc sách Sáng thế : Đọc theo thứ tự niên đại (chronological reading) và đọc theo chủ đề (topical reading). Đọc theo thứ tự niên đại, sáu ngày trong Sáng Thế là sáu ngày căn bản 24 giờ. Nhưng Đức Giáo Hoàng Pius XII cảnh cáo rằng những người phiên dịch khi đọc sáu ngày (“yom” theo tiếng Hebrew) đó phải hiểu rơ rằng ngôn ngữ Hebrew cổ xưa của “những người cổ đại Phương Đông không luôn luôn dùng cùng thể và sự diễn tả giống như chúng ta dùng hiện nay, họ dùng những diễn tả mà thích hợp với họ tại thời điểm và không gian của họ..”

   Bởi vậy, điều này dẫn đến cách đọc theo chủ đề là cách mà những người cổ đại hay xử dụng nhất. Họ đă ghép những ǵ tương tự vào một khu vực mà gọi là Ngày. Trong ba ngày đầu tiên, Thiên Chúa giải quyết sự trống rỗng bằng cách cấu trúc môi trường. Ngày thứ nhất, Ngài chia rẽ ngày và đêm; ngày thứ hai, Ngài phân rẽ nước trên trời (mây) với nước dưới đất rồi cho bầu trời ở giữa; ngày thứ ba,  Ngài phân biệt đất và nước. Hai ngày kế tiếp, Ngài cung cấp cư dân cho trái đất: ngày thứ tư, Ngài cho Mặt trời,mặt trăng và các ngôi sao; ngày thứ năm Ngài tặng cho bầu trời chim chóc và cho biển đầy cá. Ngày thứ sáu, Ngài tạo ra muông thú và sau cùng là Con Người. Ngày thứ bẩy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Như vậy, theo người viết, cách đọc theo chủ đề là hợp lư nhất. Nếu đọc theo niên đại th́ sẽ vô lư, v́ măi đến ngày thứ tư,Thiên Chúa mới tạo ra mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, th́ làm thế  nào mà có ngày thứ nhất được? Ngày thứ nhất cho đến ngày thứ ba chưa có những tinh tú này, vậy không thể có “b́nh minh” và “hoàng hôn” được!

  D. Một vài luận điểm liên quan đến Thuyết Tiến Hóa:

     1-Thuyết Tiến Hóa hay Luật Tiến Hóa:

   Trong văn học,Thuyết hay Lư Thuyết chỉ là một. Khi nói một cách trang trọng, người ta dùng chữ “Lư thuyết”, khi nói ngắn gọn, dùng chữ “Thuyết”. Không có sự phân biệt giữa hai chữ này. Theo Tự điển Nguyễn văn Khôn, miền Nam xuất bản: Theory. n. Thuyết, lư thuyết, lư luận. Tự điển Anh Việt của Ủy Ban Khoa học Xă Hội, miền Bắc xuất bản:  Theory. dt. Thuyết, học thuyết, lư thuyết, lư luận, nguyên lư. Thường lệ, theo các khảo cứu khoa học, có ba giai đoạn để h́nh thành một luận điểm hay một luật về khoa học. Đầu tiên là một Giả Thuyết (Hypothesis) do một khoa học gia tự nghĩ ra, sau khi chứng minh bằng các phương pháp khoa học, giả thuyết được công nhận là một Lư Thuyết (Theory), nhưng chỉ măi sau khi các nhà khoa học khác cùng t́m ra một kết quả, cùng công nhận lư thuyết trên là đúng và không c̣n tranh luận nữa, Lư thuyết mới trỏ thành Luật (Law) như Luật bảo toàn năng lượng, luật về sự rơi trong chân không... Thuyết Tiến Hóa vẫn c̣n trong ṿng tranh luận nên không thể coi như Luật bắt mọi người phải theo được.

    2- Thuyết sáng tạo không phải huyền thoại sáng tạo (creation myth)

 Tự điển Webster's Ninth New Collegiate Dictionary: Creationism: a doctrine or theory holding that matter, the variuos form of life, and the world were created by God out of nothing. ( Thuyết Sáng Tạo: một học thuyết hay một lư thuyết cho rằng vật chất, các thể khác nhau của đời sống, và trái đất đă được Thiên Chúa tạo ra từ chỗ không có ǵ.) Năm 1973, tiểu bang Tennessee ban hành một đạo luật yêu cầu rằng sách học phải dậy Thuyết Tiến Hóa như là một lư thuyết, không phải một khoa học, trong khi lại bắt buộc phải gồm thuyết sáng Tạo vào học tŕnh sinh hóa. Năm 1981, tiểu bang Louisiana đă thông qua một luật bắt buộc các trường trung học phải “giảng dậy  công bằng với môn gọi là Khoa học Sáng tạo” (Phillip E. Johnson. Darwin on Trial. trang 3) Cùng năm đó, tiểu bang Arkansas cũng thông qua một đạo luật đ̣i hỏi các trường Trung hoc phải giảng dậy công bằng giữa “creation-science” và “evolution-science”. (Sách đă dẫn. Trang 112). Không những các nhà lập pháp đă gọi thuyết Sáng Tạo (creationism) mà c̣n trang trọng gọi là Khoa Học Sáng tạo nữa. Năm 1974 , Whitcomb và Morris đă phổ biến cuốn sách giáo khoa tựa là “Scientific Creationism” để dùng trong các trường học phổ thông. (Del Ratzsch. The Battle of the Beginnings. 1996. tr.75)  Hầu hết các sách liên quan đến cuộc tranh luận, dù là từ phía những người chống đối thuyết Sáng Tạo, cũng vẫn dùng hai danh từ ngang nhau : “evoulutionist” và “creationist”. Mới đây, năm 1997, Richard Milton đă cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề là: “Đập vỡ huyền thoại về Thuyết Darwin” (Shattering the Myths of Darwinism). Richard Milton là một người viết báo khoa học và là một kỹ sư họa kiểu ở Luân Đôn. Ông cũng là thành viên của Mensa, xă hội “high-IQ”, viết cho tờ Mensa Magazine, ông đồng thời là thành viên của Hội Chuyên Gia Địa Chất trong hơn 20 năm. Richard Milton đă được mời lên thuyết tŕnh trong các chương tŕnh của BBC, NBC, và các đài truyền h́nh khác. Ông phê phán kịch liệt những lỗ hổng (gaping holes) của lư thuyết Darwin, v́ với những khám phá mới, việc yếu tố di truyền thay đổi gây ra bởi sự Lựa chọn Tự nhiên rất giới hạn. Bằng những phương pháp định tuổi trái đất mới mẻ, các khoa học gia chứng minh rằng không có đủ thời gian để cho một đơn bào tiến hóa thành một cơ phận đa bào phức tạp. Ông cũng khám phá ra một yếu tố lúng túng (embarrassing fact) càng ngày càng  làm cho thuyết Darwin rất khó mà bỏ qua, đó là những mắt xích thiếu sót (missing links) trong mỗi hệ tiến hóa của những chủng loại. Cũng không có những chủng loại giao thoa nào được t́m thấy chứng minh rằng sự tiến hóa đă được tiến hành. Dựa trên những chứng cớ khoa học, Richard Milton đă khẳng định rằng lư thuyết tiến hóa đă trở thành một niềm tin hơn là một khoa học đầy đủ. (Sách đă dẫn. Trang b́a).

    3-Về Thuyết Big Bang:

   a-Tự điển Webster's New World: “big-bang-theory. A theory of cosmology holding that the expansion of the universe began with a giantic explosion (big bang) between 12 and 20 billion years ago.” Tạm dịch là: “một lư thuyết về vũ trụ học cho rằng sự dăn nỡ (bành trướng) của vũ trụ bắt đầu bằng một vụ nổ vĩ đại (big bang) vào khoảng 12 và 20 tỷ năm trước.”

   Tiếng “Bang” là một chữ tượng thanh, người đầu tiên chế ra chữ này đă dùng một thanh âm như một tiếng nổ để diễn tả lư thuyết của ḿnh. Tượng thanh là những chữ gợi ra âm thanh như “nổ đùng”, “lợn kêu eng éc”, “khóc ̣a” Tiếng “bang” là âm thanh của một tiếng nổ, như trong bài hát “bang, bang, em bắn ngay tim  anh..bang bang” … Thuyết Big Bang vẫn c̣n là lư thuyết chưa phải là Luật.

   b-Cuốn Physical Geology ấn hành trong các năm 1987, 1990, 1993, soạn bởi Carla W. Montgomery được dùng làm tài liệu giáo khoa cho sinh viên môn Địa chất Học tại Đại Học Cal State Fullerton, trang 165: “Most astronomers now accept a cataclysmic explosion, or “big bang,” as the origin of the modern universe.. At that time, enormous quantities of matter were synthesized and flung violently apart across an ever-larger volume of space.” Tạm dịch là: “Hiện nay, hầu hết các nhà thiên văn học chấp nhận một vụ nổ chấn động vĩ đại, hay “big-bang” như là nguyên thủy của vũ trụ hiện đại. Vào thời điểm đó, những số lượng khổng lồ của vật chất được tổng hợp và bắn tung ra một cách dữ dội băng qua một khối lượng lớn chưa từng có của không gian.”  Điều lưu ư trong đoạn sách giáo khoa này là chỉ nói đến “hầu hết các nhà thiên văn học” chứ không phải toàn bộ các khoa học gia về các môn khác như vật lư, hóa học, toán học.. và cũng không nói đây là Luật mà mọi người bắt buộc phải tin theo. 

     Tóm lại, bài viết này chỉ nhằm mục đích ca tụng kỳ công của Đấng Tạo Hóa, đă tạo ra Con Người một cách toàn hảo và đ̣i lại vị trí xứng đáng cho Con Người đă bị nhiều người hâm mộ thuyết Darwin làm giảm đi, v́ chỉ có Con Người Không Thuộc Loài Khỉ mới tạo ra Khoa Học, một sản phẫm tốt đẹp mà không loài khỉ nào có thể làm được. Thuyết Tiến Hóa, do kỳ công của nhà khoa học Darwin sưu tập, nghiên cứu, và sắp xếp một cách có hệ thống, nếu chỉ áp dụng trong cùng một chủng loại, là một thuyết rất chính xác và đứng đắn, đă giải quyết được nhiều vấn nạn khoa học mà ngàn năm trước, và ngàn năm sau, cũng chưa chắc có ai làm nổi.                                                                      

Chu Tất Tiến.

 Tài liệu tham khảo:

1-Carla W. Montgom,ery. Physical Geology. 1993. 2-Richard Milton. Shattering the Myth of Darwinism. 1997. 3-Steve Jones. The origin of Species Updated. 1999. 4-Phillip E. Johson. Darwin on Trial.1993.

5-Douglas J. Futuyma. Science on Trial.1995. 6-Jonathan Sarfati. Refuting Evolution. 1999. 7-Kenneth R. Miller. Finding Darwin's God.1999. 8-Del Razsch. The Battle of Beginnings. 1996. 9- British Museum (Natural History). Origin of Species. Cambridge University Press. 10-Professor Hofmann. Cal State University Fullerton. Reading in Natural Science. 2000.