Giáo sĩ Đắc Lộ và việc h́nh thành chữ quốc ngữ 

Bài trên VietCatholic News ngày 22/5/2005 phần III trong loạt bài về giáo sĩ Đắc Lộ 

Có một điều mọi người đều công nhận, chữ quốc ngữ là một sự nghiệp tập thể của một số người, thuộc nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có người Ư, người Pháp, người Bồ Đào Nha. Thế nhưng v́ những tác phẩm in để lại cho chúng ta ngày nay đều là những sách do Đắc Lộ đă soạn và cho ấn hành tại Roma 1651, cho nên có một số người nói hơi quá đáng với những từ ngữ vang rền: Đắc Lộ là ông tổ chữ quốc ngữ, Đắc Lộ thủy tổ chữ quốc ngữ, Đắc Lộ sáng tạo ra chữ quốc ngữ, mặc dầu trong lời tựa của cuốn Từ điển Việt Bồ La, ông viết bằng tiếng Latinh và cho biết: sở dĩ ông soạn được Từ điển này là nhờ vào ba sự việc: thứ nhất là ông đă được học tiếng Việt với giáo sĩ De Pina là một người rất tinh thông tiếng Việt, người Bồ thứ nhất giảng mà không cần thông dịch viên, thứ hai ông đă sử dụng hai tác phẩm viết tay, một Từ điển Việt Bồ của Gaspar d’Amaral và một Từ điển Bồ Việt của Barbosa, hai ông này đă mất sớm, thứ ba ông đă lưu trú tại Việt Nam cả thảy 12 năm.

Thực ra nếu trừ những cuộc hành tŕnh đi đi về về hoặc tạm trú ngụ tại Phi Luật Tân hay Macao, th́ thời gian ông sống ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài chừng tám năm rưỡi. V́ năm 1651 là năm phát hành ba tác phẩm quốc ngữ của Đắc Lộ, trước đây và sau đây không có tác phẩm in nào, cho nên người ta đă lấy năm 1651 làm cái mốc để kháo cứu về chữ quốc ngữ và phân chia các thời ḱ thành lập: tiền Đắc Lộ và hậu Đắc Lộ.

Chúng tôi không nói tới những biên khảo của nhiều tác giả Pháp cũng như Việt từ trước cho tới những năm 1960. Chúng tôi phải để ư tới công tŕnh sáng lạn của Đỗ Quang Chính, năm 1972 đă cho phát hành cuốn Lịch sử chữ quốc ngữ ở Sàig̣n. Theo Đỗ quân th́ có thể Gaspar d’Amaral giỏi hơn Đắc Lộ, Đỗ quân c̣n khẳng định là khác.

Điều này làm cho chúng tôi suy nghĩ t́m ṭi thêm, nhất là suy nghĩ. Và chúng tôi thấy phải đặt lại vấn đề và sau đây là lai lịch những sự kiện và những chứng cớ chúng tôi sẽ đưa ra khi nói sơ lược về những tác phẩm của Đắc Lộ về chữ quốc ngữ.

I. Tiếng Đàng Trong và tiếng Đàng Ngoài

Nước Việt Nam chỉ là một, và tiếng Việt Nam cũng chỉ là một, chung cho cả Nam Bắc. Thế nhưng vào thế kỉ 17, Đất Nước bị chia đôi do hai nhà họ Trịnh và họ Nguyễn tranh giành nhau, viện cớ pḥ nhà Lê. Đó là một, nhưng về ngôn ngữ th́ có hai cách phát âm khác nhau, giọng Đàng Trong và giọng Đàng Ngoài, đó là hai. V́ thế chúng tôi tạm dùng "tiếng Đàng Trong, tiếng Đàng Ngoài" cho dễ diễn giải.

Lớp giáo sĩ Ḍng Tên đầu tiên tới xứ ta th́ đă đến Đàng Trong dưới thời Nguyễn Phúc Nguyên năm 1615, Nguyễn Hoàng mất năm 1613. Cha Buzomi người Ư cùng đi với một thày trợ sĩ người Nhật. Cha đă học rất tinh thông tiếng Nhật chủ ư đi truyền giáo ở Nhật, nhưng v́ có cấm đạo rất ngặt nên cha mới được phái tới Đàng Trong. Cũng phải nói là ở Macao Ḍng Tên đă nghiên cứu tiếng Nhật và cũng đă dùng tự mẫu Latinh để phiên âm tiếng Nhậtm tiếng Nhật. Các sách viết bằách viết bằng thứ tiếng này được ng này được gọi là "romaji", vi"romaji", viết bằng chữ "Roma", cuốn Yếu lí cơ bản in năm 1592.

Như thế có nghĩa là cha Buzomi và thày trợ sĩ người Nhật đă biết tới cách dùng chữ Latinh để phiên âm tiếng Nhật. V́ tuổi tác đă cao, nên cha Buzomi không học được tiếng Việt đến nơi đến chốn, cha vẫn phải dùng tới thông dịch viên để giảng. Mà thông dịch viên người Việt lúc đó cũng chỉ biết qua loa vài ba tiếng Bồ mà thôi. Cho nên mới có câu ngộ nghĩnh hỏi người ta có muốn theo đạo Kitô thế này: "con nhỏ muốn vào trong ḷng Hoa Lan chăng?". Thấy vậy, Bề trên ở Macao phái lớp giáo sĩ trẻ tuổi hơn. Năm 1617 De Pina được phái tới Đàng Trong. De Pina cũng đă tinh thông tiếng Nhật, nhưng v́ c̣n trẻ nên học rất nhanh và đă giảng mà không cần thông dịch viên. Năm 1618 khi cha Borri tới th́ đă thấy De Pina giảng trực tiếp cho người Việt. Borri rất thán phục và nhắc tới sự việc này. C̣n Borri biết tiếng Việt, nhưng khi phải dạy giáo lí, th́ vẫn c̣n lúng túng. Borri cũng là người đầu tiên viết về những nhận xét về tiếng Việt Theo Tường Tŕnh của Gaspar Luis viết từ Macao năm 1621 th́ người ta được biết ở Đàng Trong đă có một cuốn toát yếu giáo lí soạn bằng tiếng Đàng Trong. Hẳn cuốn này được viết bằng chữ nôm và hẳn cũng có bản quốc ngữ tiện cho các giáo sĩ ngoại quốc. Chắc chắn là De Pina đă làm việc này v́ ngoài ông ra không ai thông thạo bằng. Năm 1624 khi Đắc Lộ tới Đàng Trong th́ cũng nhận thấy De Pina rất giỏi tiếng Việt. Đắc Lộ rất ca ngợi người đồng nghiệp này và công nhận De Pina là người Bồ đầu tiên, người ngoại quốc đầu tiên giảng mà không cần thông dịch viên. Chính De Pina dạy tiếng Việt cho Đắc Lộ (chứ làm ǵ có trường như bây giờ, kẻ đi trước dạy người đi sau mà thôi). Đắc Lộ cũng học với một cậu bé người Đàng Trong sau này theo đạo lấy tên là Raphael Rhode (chính là tên Đắc Lộ). Đắc Lộ vừa là thày dạy tiếng Latinh và tiếng Bồ cho Raphael, vừa là học tṛ học tiếng Việt với Raphael. Đắc Lộ có kể rơ trong Hành Tŕnh và Truyền Giáo. Cũng năm 1624 (hoặc 1625) có giáo sĩ Gaspar Luis, người đă soạn Tường Tŕnh khi ở Macao như đă nói ở trên.

Có một nghi vấn chúng tôi đặt ra, khi Maracci viết Tường Tŕnh năm 1649 kể việc truyền giáo Đàng Ngoài mà lại nói:

"Cha Gaspar Luis người Bồ đă lâu năm ở trong khu truyền giáo này, cha đă soạn một cuốn ngữ vựng rất đầy đủ về ngôn ngữ này, nhưng cuốn sách đă mất trong một vụ đắm tàu v́ người ta gửi sách đó từ Xứ Đàng Ngoài về Macao, và nay không c̣n bản nào đầy đủ hơn".

Điều nghi vấn là Gaspar Luis không ở Đàng Ngoài. Ông tới Đàng Trong năm 1625 và bỏ Đàng Trong năm 1639. Vậy th́ cứ nhận là ở Đàng Trong với De Pina, với Gaspar Luis sau này, đă có cuốn từ vựng Đàng Trong kể từ thời ḱ này rồi. Năm 1626 khi Đắc Lộ được gọi ra Đàng Ngoài th́ ông đă rất thông thạo tiếng Đàng Trong và ngày 19 tháng 3 năm 1627 khi cập bến cửa Bạng ở Thanh Hóa, lần đầu tiên, ngày hôm ấy, ông đă dùng tiếng Đàng Trong giảng cho người Đàng Ngoài. Rồi từ 1627 tới 1630 Đắc Lộ vừa được tiếp xúc với Kẻ Chợ và học hỏi thêm, vừa dùng tiếng Đàng Trong để giảng cho người Đàng Ngoài. Người ta không dễ dàng một sớm một chiều thay được giọng nói, nhất là đối với một người ngoại quốc.

Cuối năm 1629 khi Đắc Lộ bị Trịnh Tráng ra lệnh trục xuất th́ có giáo sĩ Gaspar d’Amaral tới "cứu viện" nhưng để rồi cả hai cùng về Macao năm 1630. Cho tới năm 1631 Gaspar d’Amaral mới chính thức tới Kẻ Chợ và hoạt động cho tới năm 1638 th́ về Macao. D’Amaral đă mất trong vụ đắm tàu, tàu chở đoàn giáo sĩ từ Macao tới Đàng Ngoài: đó là ngày 23-12-1645.

Như vậy Gaspar d’Amaral đă có hai cái thuận lợi, một là được hưởng cái vốn liếng học hỏi tiếng Đàng Trong từ 15 năm trước đây ở Đàng Trong với những Buzomi, Borri, De Pina, Đắc Lộ, Gaspar Luis..., hai là được học trực tiếp ở Kẻ Chợ thủ đô. Tiếng nói ở đây không phải như tiếng nói (đúng hơn giọng nói), miền Quảng B́nh, Quảng Nam và B́nh Định. Cho nên cách ghi âm, phiên âm phần nào cũng dễ dàng hơn, dứt khoát hơn. Cho nên khi cho người này giỏi hơn người kia hoặc Gaspar d’Amaral giỏi hơn Đắc Lộ th́ chưa xác đáng. Nếu xem ra bản viết tay của D’Amaral năm 1632 khá hơn bản viết tay của Đắc Lộ năm 1636, th́ cũng không thể khẳng định là D’Amaral giỏi hơn Đắc Lộ, bởi v́ Đắc Lộ đă học tiếng Đàng Trong với lớp người đă học tiếng Đàng Trong từ 1615 như Buzomi (1615), De Pina (1617), Borri (1618), với một cậu bé Đàng Trong là Raphael (1624). Cuốn Từ điển Bồ Việt của Gaspar d’Amaral đă thất lạc, thủ bút của D’Amaral c̣n quá ít ỏi, không cho phép chúng ta khẳng định như thế. Chúng tôi nói "thất lạc", chứ nếu nói "tiêu diệt" th́ lên án một ư đồ mà không có bằng chứng. Dẫu sao, cũng c̣n phải có trong tay tác phẩm của D’Amaral đă, để ghi nhận sự đóng góp không nhỏ của ông, c̣n về việc cho ông giỏi hơn Đắc Lộ th́ cũng chưa có bằng cớ xác đáng. Bởi v́ không những Đắc Lộ soạn Từ điển nhờ vào tác phẩm của D’Amaral, mà c̣n viết một cuốn Ngữ pháp tiếng Việt và một Phép giảng tám ngày nữa, chúng tôi sẽ vắn tắt bàn giải sau đây.

II. Khái luận Việt ngữ hay Ngữ pháp tiếng Việt (1651)

Trên đây chúng tôi đă nói tới Borri; Borri đă viết mấy trang sách nói về tiếng Việt và ngữ pháp tiếng Việt. Nhưng lần đầu tiên, tiếng Việt được phân tích và học hỏi dựa vào ngữ pháp tiếng Latinh và viết bằng tiếng Latinh. Nói dựa vào ngữ pháp tiếng Latinh, nhưng thực ra người ta cũng chưa thể làm khác đi được. Hơn một ngh́n năm, chúng ta học chữ Hán, hơn một ngh́n năm có giao thiệp thông thương với Trung quốc, nhưng cả họ cả ta, không nghĩ ra cách học hỏi tiếng nước ḿnh. Đi học là học chữ nho, chứ tiếng mẹ đẻ cần ǵ phải học, ta học từ lúc lọt ḷng mẹ rồi cơ mà. Khái luận của Đắc Lộ có những chương nói về các loại từ như danh từ, động từ, trạng từ, phó từ như ngữ pháp tiếng Latinh đă bàn tới. Về điểm này, chúng tôi thấy, không những chúng tôi biết thêm về tiếng nước tôi mà c̣n hiểu thêm về tiếng Latinh nữa. Nhất nhất về bất cứ ǵ trong ngữ pháp, Đắc Lộ đều đưa La ngữ ra làm "tiêu chuẩn", thí dụ tiếng Việt không có những biến cách của danh từ (déclinaison), không có biến ngôi của động từ (conjugaison), nhưng ông cũng đưa La ngữ ra làm thí dụ (4). Thành thử, như đă nói, chúng ta học tiếng Latinh hơn là học tiếng Việt. Buồn cười nhất là ở một chương gần chót, Đắc Lộ bàn tới các "tiếng bất biến" trong Việt ngữ. Tiếng Việt tất cả đều bất biến rồi cơ mà, thế nhưng "bất biến" ở đây là những đại từ, phó từ, liên từ, thán từ, trong La ngữ, chúng đều là những từ bất biến. Chúng tôi đă xem lại một sách Mẹo tiếng Latinh và thấy Khái luận Việt ngữ của Đắc Lộ rập theo ngữ pháp tiếng Latinh với những chương nói về: các danh từ, tính từ, đại từ, động từ, giới từ, liên từ, thán từ... Nhưng Khái luận được viết bằng tiếng Latinh cho người ngoại quốc học, các giáo sĩ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, nhưng tất cả đều tinh thông La ngữ. Dầu sao, cách học tiếng Việt này sẽ c̣n được duy tŕ và tiếp tục với những sửa đổi, khi nước ta tiếp xúc với nước Pháp vào cuối thế kỉ 19.

Cái đặc sắc và độc đáo hơn cả là ở hai chương đầu, một chương bàn về tự mẫu Latinh dùng trong vần "quốc ngữ" và một chương nói về các thanh hay các dấu trong Việt ngữ. Chúng tôi cũng phải nói ở đây rằng, ở Trung quốc trước năm 1589, vào những năm 1584-1588 đă có một cuốn Từ vựng Bồ Hoa ba cột, một cột tiếng Bồ, một cột chữ nho và một cột chữ Hoa phiên âm với tự mẫu Latinh, nhưng chưa có dấu để ghi các thanh. Phải chờ tới cuối năm 1605 mới phát hiện các kí hiệu để ghi. Năm 1604, tại Phi Luật Tân cũng đă có cuốn từ vựng Hán Tây Ban Nha viết theo tự mẫu Tây Ban Nha và có các dấu để chỉ các thanh.

Về Khái luận của Đắc Lộ, chúng ta thấy có đủ các chữ trong vần mẫu tự Latinh, trừ chữ F được thay thế bằng chữ PH, trừ chữ J v́ thực ra vần Latinh thời này chữ J được dùng lẫn với I, nhưng lại thêm chữ Bêta Hylạp để phiên âm giọng nói chữ V người Đàng Trong (vui vẻ = bzui bzẽ), thêm chữ D có ngang thành Đ.

Đắc Lộ nói đọc PH như Phi của Hylạp (); KH như Khi của Hylạp (X); TH như Têta của Hylạp (); NG như Ngain () của Dothái, như thể để cho các người ngoại quốc t́m cách phát âm cho đúng. Một số khác đọc như tiếng Ư thí dụ như cha, che, c̣n CH ở cuối th́ như tiếng Bồ hoặc NH ở đầu cũng như tiếng Bồ, bởi v́ đă quen dùng như thế rồi... Nói chung Đắc Lộ xử dụng hết khả năng có trong các tiếng để làm thành vần chữ quốc ngữ. Bởi v́ Đắc Lộ biết nhiều thứ tiếng, tổng cộng tới hơn một tá: Pháp, Ư, Tây, Bồ, Anh, một thổ ngữ Ấn độ, Tàu, Nhật, Việt, Ba tư, thêm vào đó c̣n có Hêbrêu (Dothái), Hylạp, Latinh.

Về các nguyên âm, ngoài a, e, i, o, u c̣n thêm hai dấu mũ ngửa và sấp để thành ă, â, ê, ô, thêm tí râu để thành ơ và ư.

Nói chung vần quốc ngữ gần vần Latinh và Ư, Bồ, hơn Pháp. Nhưng tới các thanh mà Đắc Lộ coi như "hồn của vần" chúng ta thấy nói tới đủ năm dấu để chỉ năm trong sáu thanh của tiếng Việt. Khái luận không cho biết lư do t́m các dấu, nhưng trong một chương của Lịch sử Đàng Ngoài, ông nói đă dùng dấu huyền trong tiếng Hylạp, như ḍ, dấu chấm Hylạp iota để làm dấu nặng, như rẹ, dấu uốn nằm để làm dấu ngă, đấu bằng không dấu th́ để nguyên như pha, dấu hỏi Latinh để làm dấu hỏi, như sổ, và dấu sắc Hylạp để chỉ dấu sắc, như lá. Thế là chúng ta có sáu nốt nhạc là ḍ, rẹ, mĩ, pha, sổ, lá.

Đắc Lộ giải thích một vài chi tiết khác, chủ ư để phiên âm đích xác các cung giọng khá phức tạp của tiếng nói Đàng Trong. Và chúng ta để ư c̣n có mấy phụ âm kép thông dụng trong một vài địa phương thời đó (và có khi cả ngày nay) như BL (blời = trời), ML (mlời = lời, nhời), TL (tla = tla, tlăng = trăng).

Như chúng tôi đă nói, ở bên Tàu, trước chúng ta, người ta đă t́m được các kí hiệu để ghi năm thanh trong tiếng Tàu; tiếng Việt có sáu thanh. Từ năm 1615 và 1617 với De Pina, hẳn người ta cũng đă xử dụng các kí hiệu đă nói trên để viết tiếng Việt, nhưng chưa có tài liệu in nào để lại cho chúng ta. Cho nên Khái luận Việt ngữ của Đắc Lộ tuy rất vắn tắt, chỉ gồm ba mươi mốt trang, làm thành cuốn ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên của chúng ta. Dầu D’Amaral đă được hưởng những thành quả các lớp người đi trước ở Đàng Trong, nhưng không để lại một thứ ngữ pháp nào, cũng như không soạn một tác phẩm trường hơi như Phép giảng của Đắc Lộ. Và chúng ta bàn tới cuốn sách quốc ngữ đầu tiên này.

III. Phép Giảng Tám Ngày

Sách song ngữ, hai cột, một cột La ngữ, một cột Việt ngữ, tất cả gồm 319 trang. Sách do Bộ Truyền Bá Đức Tin ấn hành tại nhà in riêng của thánh bộ và do tài trợ của thánh bộ. Chúng tôi đă t́m được ở Văn Khố Bộ Truyền Bá Đức Tin mấy văn kiện: Năm 1650 Đắc Lộ xin thánh bộ cho in cuốn Lịch sử Đàng Ngoài, bằng tiếng Ư, năm 1651 xin tái bản, v́ cuốn sách bán rất chạy và nay đă hết, năm 1651 xin in ba cuốn, cuốn Khái luận Việt ngữ, cuốn Từ điển Việt Bồ La, và cuốn Phép giảng. Năm 1652 Đắc Lộ xin thánh bộ viện trợ cho một số tiền để đủ sống cho ḿnh và cho một người phụ tá đem từ Macao về đây, đó là một người Trung Hoa, có thể là một thày giảng Trung Hoa đầu tiên được đưa về Âu châu.

Chắc chắn là nhà in của Bộ Truyền Bá Đức Tin phải t́m cách dùng các chuyên viên và kĩ thuật riêng đúc chữ riêng để in sách tiếng Việt. Hơn nữa việc sắp xếp chữ cũng không dễ: Đắc Lộ và hẳn cả người Trung Hoa Đắc Lộ đem theo đă phải sửa chữa bản ráp. Nói chung c̣n một ít phải đính chính, nhưng chỉ là thiểu số. Cũng nên nhắc, khi trở về Âu châu, từ Macao, Đắc Lộ đă xin đem theo ba người, một người Tàu, một người Đàng Trong và một người Đàng Ngoài, nhưng sau Bề trên chỉ cho đem đi có một người tiêu biểu cho cả vùng Á châu là người Tàu mà thôi. Chúng tôi nghĩ Phép giảng đă được soạn trước bằng La ngữ, sau đó Đắc Lộ (và hẳn với một số thày giảng) đă dịch ra chữ quốc ngữ. Chúng tôi không bàn giải hết về chi tiết nội dung v́ mỗi chi tiết có thể là một đề tài và với thời gian, có thể lại khám phá ra nhiều điều mới. Chúng tôi sẽ nói tới tiếng Đàng Trong trong Phép giảng, những lời lẽ ngây ngô, cách đối thoại và tài hùng biện của tác giả để kết thúc.

1. Tiếng Đàng Trong trong Phép Giảng

Như chúng tôi đă nói, Đắc Lộ học tiếng Đàng Trong với thầy dạy giỏi tiếng Đàng Trong, với cậu bé người Đàng Trong, rồi khi ra Đàng Ngoài đă dùng tiếng Đàng Trong để truyền giáo. Trong Phép giảng chúng tôi bỡ ngỡ thấy có khá nhiều tiếng Đàng Trong. Và trước hết có mấy từ rất rơ rệt là tiếng Đàng Trong.

Đắc Lộ viết chên, kể cả chân cẳng, kể cả chân lí (20 lần):

"Thiên địa vạn hữu chi chên Chúa".

Rồi có đóng chên, dấu chên, xuấng chên, nghỉ chên, đi chên, theo chên, chên áo, què chên, chên tay, rửa chên.

Cũng viết dên, tuy có mấy chữ lại viết là dân (30 lần): cùng các dên, hỗn hào trong dên, tiểu dên, trước mặt dên, các dên, có dên, công dên, cứu dên, dên Đức Chúa blời, kẻ mọn trong dên, dạy dỗ dên nước ấy, cho nên dên th́ kính Đức Chúa blời, song le dên mờng bội phần, một người chết thay v́ dên, dên ta, kẻo các dên hư, dên có lấy lá tươi, dỗ dên Judeo dại, ta chào bua chúa dên Judaeo, dên Judaeo càng ra ḷng dữ tợn, ḷng dữ tợn dên Judaeo, khi dên Judaeo nghe ông thánh Pedro nói, kẻ đă chối đi chẳng nên dên Người, dên này đánh dên khác, lại khiến ông Moise dạy dên Judeo, khi ấy đến đức Chúa bl ih oygđle v́ dên ấy những yêu xác...

Tới chữ đất th́ cũng thế, Đắc Lộ viết đết (tuy cũng có một ít nơi viết đất): blời che ta, đết chở ta, sự blời đết th́ cũng vậy, hóa nên và giữ ǵn blời đết muôn vật; khi chưa có blời chưa có đết; chẳng khá lạy đết v́ đết làm nên chẳng có hồn nào, đức Chúa blời đết là Chúa cả sinh ra blời đết, Chúa làm nên blời đết, thật Chúa blời đết, thật là thien địa vạn hữu chi chên Chúa mà làm nên blời đết mọi sự, v́ vậy ngọc hoàng chẳng phải thật chúa blời đết, sự bàn cổ mà khién sinh ra blời đết th́ dối vậy, dù mà trong kinh bụt suy sự blời đết th́ nên trước, sự bàn cổ mà khiến sinh ra blời đết th́ dối vậy, lấy âm dương là blời đết, mọi sự ở trong blời đết, đức thợ cả làm nên blời đết, như blời cùng đết, nước, gió, lửa; như thể blời đết cùng các ḱ sự hư nát, đức Chúa blời đết là phép nhít, khi nước làm cho đết hóa ra, khi đết sinh ra của ǵ, v́ vậy khi chưa có blời chưa có đết, chưa có làm nên blời đết, lại sinh ra đết c̣n hỗn độn, ḥn đết, rốn đết, che cả và ḥn đết, đết th́ chẳng nên cho người ta ở được..., blời mới đết mới như ông thánh Pedro bảo, mặt đết, khi ấy th́ đết mở ra, lỗ mlớn đết th́ lớp lại, hóa nên blời đết, tay ḿnh có mọi phép, dầu tiên blời, dầu dưới đết...

Chúng tôi tuy đă viết nhiều, nhưng chưa hết, bởi v́ chúng tôi đếm được chừng 70 lần viết đết và chừng 20 lần ghi đất.

Nhật được viết là nhệt khi Đắc Lộ dài gịng giảng về nhật thực đă xảy ra vào lúc Chúa tắt thở trên thánh giá. Đắc Lộ đă lợi dụng sự việc lạ lùng này để đem khoa học thiên văn nói cho người ta hiểu thế nào là nhật thực và nhật thực thường xảy ra vào quăng nào trong thời gian: "th́ phải hay, mạt blời có nhệt thực" (22); "nhệt thực có đến ngày ba mươi hay mồng một mà thôi" (228), "nhệt thực ấy một giờ rưỡi là tối mặt blời" (229).

Nhân được viết là nhin, tất cả chừng 54 lần: nhin v́ sự ấy, rất nhin, nhin đức bổn sức ḿnh, nhin đức đầu, nhin thể, nhin đức, nhin lành, rứt nhin nghĩa, ḷng nhin lành, nhin nghĩa.

Nhất được ghi là nhít: ngày thứ nhít, thứ nhít, việc nhít, của nhít, loài thứ nhít, nhà nhít, phép nhít, khéo nhít, thực nhít, nhít ḷng lành, đứng nhít, nhít về sự linh hồn, nhít là, nhít là khi, nhít thật thà, nhít v́, làm thày nhít, người nhít, đạo sinh nhít, nhít sinh nhị..., làm nhít, hiền nhít, v́ sự nhít, hai phép nhít..., chúng tôi t́m ra chừng 70 lần. C̣n có một số tiếng Đàng Trong, chúng tôi kê khai ngắn gọn như sau:

1. A = Ă:

ví bàng, bàng an, bác tội, bát kẻ dữ, mạt blang, chảng, chan chien, chạt, đáng, đạt tên, giạc, hàng sống, h nê, óg ạá,,hđnn ốạng, mạc áo, mạt, ba nam bú mướm, ngày thứ nam, nàm, nang, náng, nhám, ngám, phép tác, ràng, sám sửa, săn, tối tam mù mịt, tát đi, thàng, tlam nam (trăm năm).

2. A = Â:

hàu làm sao, hàu hạ, trị nhạm, thạt, vô mău (vô mẫu).

3. A = E:

đam, đam đàng (đem, đem đàng).

4. A = Ơ:

đàm (đờm).

5. Â = A:

đần bà đần ông (đàn bà đàn ông).

6. Â = Ê:

tháng gyâng (tháng giêng).

7. Â = Ô:

buân bán, buậc lại, thiên trúc coấc, ngoài coấc, huấng lọ, muân viẹc, muâng chim, ruật, tlần tluầng (trần truồng), uấng, xuấng.

8. Â = Ơ:

đại tây dưâng, âm dưâng, nhuầng nào, nấu nuấng, phưâng đông, thờ phuậng, sưấng, thuâng, thuẩng phạt, tỏ tưầng, xuâng thịt (xương thịt).

9. Â = Ư:

mầng (mừng); cũng c̣n ghi mờng.

10. E = Ê:

biét, biẻn, chùa trièn, lửa diem, hièn lành, khién, khuien, kiém, cái kién, lien, lien lien, nhien, thien, thieng lieng, thiéu, tièn, viẹc, yen ổn (yên ổn).

11. E = Â:

quéi quá (quấy quá).

12. Ê = Â:

chệt hẹp, ếy, gện máng, nhệp vào, hàng mùa xoên (xuân), coết mạt (khuất mặt), cuên tử, coên tử, lếm (lấm), lền (lần), loên hồi (luân hồi), loện lẽ (luận lẽ), nuôi nếng (nuôi nấng), trến thủ (trấn thủ).

đây dĩ nhiên phải kể tới chên, dên, đết, nhệt.

13. Ê = I:

mềnh (ḿnh), tuy thường viết ḿnh.

14. Ê = Ô:

tuểi (tuổi), cũng ghi tuổi.

15. I = A:

thinh nhàn (thanh nhàn).

16. O = Ô:

Khong (Không), Khỏng (Khổng).

17. O = U:

thoận (thuận); như Hóa (Huế).

18. Ô = U:

cồm trang (cùm trang).

19. Ơ = Â:

bợc thang, nuei nớng, chảng lợp, lợp địa (tạo thiên lập địa).

20. Ơ = Ư:

Kớu thế, ngởi của thơm, ngơu giác (ngưu giác).

21. Ư = Â:

ba đứng cha, rứt vui vẻ, rứt cả, rứt khôn, rứt công bằng, rứt lành (rất lành).

Sau cùng c̣n một số nữa như: lè loẹt (lề luật), khoở xưa (thuở xưa), yêu đang (yêu đương), chuậc tội (chuộc tội), lá chuếy (lá chuối), aóc (óc), căóc biét (cóc biết), cái tăóc (cái tóc), đạo nhu (đạo nho), khí giái (khí giới), hạ giái (hạ giới), giuấng sáng, giuấng sức ḿnh (giáng, xuống), gưởi (gửi), chướp (ch,p)... (5).(c̣n tiếp)

2. Lời lẽ vụng về, ngây ngô

Như chúng tôi đă nói, hẳn là Đắc Lộ soạn bằng tiếng Latinh trước, rồi mới dịch và cũng nhờ các thày ủng hộ. Cho nên câu văn lời nói c̣n rất nhiều vụng về, ngây ngô khó hiểu. Chúng ta hăy thưởng thức một vài câu:

Khi hội đồng nhóm họp để t́m cách giết Chúa Giêsu th́ họ nói với nhau thế này: "Ta toan sự người này sao làm nhiều phép lạ thể ấy" (quid facimus, quia hic homo multa signa facit?). Thật là khó hiểu, nếu dịch bản La ngữ th́ là: chúng ta làm ǵ đây, v́ người này làm nhiều phép lạ (205).

Cũng thế, ai hiểu được lời Đắc Lộ viết: "Hăy làm phúc cho đáng việc lo tội" (177). (Facite fructus dignos paenitentiae). Phải dịch là: hăy làm việc phúc đức (làm thành hoa trái) xứng đáng với sự thống hối.

C̣n câu khó hiểu nữa: "Đă chọn để sự dữ mà bởi đấy làm sự lành, lấy làm hơn chẳng để ai làm sự dữ" (68) (maluit ex malis bona facere, quam nulla esse permittere), thà bởi sự dữ mà làm sự lành, hơn là không có sự lành nào.

Và cuối cùng, nên đọc thêm câu này: "Nào có ai vào cầm trong ấy, muốn làm sao th́ được làm vậy ru?". Cầm ở đây là giam cầm, bị tù tội (Qui ibi detinentur, num quid possunt facere quod libuerit). Kẻ bị giam trong đó th́ liệu có thể làm được điều ḿnh muốn không?

Dầu sao cũng có câu ngây ngô nhưng gây hứng thú cho người thời nay không ít. Thí dụ: "V́ tối mạt th́ cho sáng, kẻ nạng tai cũng cho sáng, kẻ què chên th́ cho đi ngay, kẻ đau nạng th́ đă, rồi cũng cho sống lại" (179). Cái thích thú thứ nhất là mấy tiếng Đàng Trong như mạt (mặt), nạng (nặng), chên (chân); thứ hai là có tiếng đă là khỏi, và thứ ba là đúng tiếng nói dân gian khi viết: sáng mắt, sáng tai.

Để kết luận về điều này, hăy đọc thêm:

"Khi mạt blời làm sáng th́ đức Chúa blời làm cùng.

Khi lửa làm nóng th́ cùng làm nóng bvối.

Khi gió rỗng làm mát th́ làm mát bvối.

Khi nước làm đết hóa ra th́ cũng làm hóa ra bvối.

Khi đết sinh nên của ǵ th́ cũng sinh nên bvối.

V́ có giúp mọi sự mà làm mọi viẹc lien bvối" (41).

Ngoài những chữ mạt blời (mặt trời), đết (đất), lien (liên), c̣n có bvối (với), gió rỗng (viết với dấu hỏi rổng) có nghĩa là không khí (aer, aeris).

3. Lời đối thoại

Lời đối thoại khá phức tạp, nhất là trong tiếng Việt, khi phải giữ đúng tôn ti đẳng cấp trong xă hội cũng như nơi gia đ́nh, đại gia đ́nh. C̣n phức tạp hơn khi là những nhân vật như nhân vật trong Phúc âm, trong Kinh Thánh. Hơn nữa chúng ta đă dùng tiếng Việt, tiếng nói dân gian để viết truyện nôm bao giờ đâu. Các nhà nho của ta chỉ dùng nôm để làm thơ ngâm vịnh măi cho tới thế kỉ 17 mới có một bản tường tŕnh vắn tắt bằng chữ nôm.

Thế cho nên câu văn đối thoại thấy trong Đắc Lộ là một tài liệu rất quí, mặc dầu c̣n vụng về ngây ngô, cũng nên nhớ trong Khái luận, Đắc Lộ nói khá nhiều về cách xưng hô trong tiếng Việt, cách xử dụng các đại từ chỉ ngôi. Khi Thiên Chúa đă lấy xương sườn cụt Adong để làm thành thân xác Eva th́ Adong đă nhận ngay ra và nói như thế này: "Xưâng nầy bây giờ là xưâng tao, và thịt nầy là thịt tao" (76. 77). Lời đối thoại giữa con rắn và Evà: "Blái nầy tốt lành, sao bà chẳng ăn? mà bà ếy thưa mlời dại ràng: "đức Chúa blời có cấm, mà ăn phải dái chết chang? nào có chết đâu, v́ chưng đức Chúa blời đă hay, ngày nào bay ăn phải blái nầy, th́ mở con mắt bay ra, được chịu bàng đức Chúa blời mà biết sự lành sự dữ" (84). C̣n lời Chúa nói với Adong th́ được Đắc Lộ viết ra tiếng Việt như thế này:

Mầy ở đâu?

Tôi lạy đức Chúa blời, tôi đă nghe tiếng đức Chúa blời, tlong vườn bvui bvẻ, mà tôi sợ hăy, v́ tôi tlền tluầng, th́ tôi ẩn mềnh.

Ai bảo mầy, cho mầy hay, mầy ở tlền tluầng? Thật bởi mầy ăn phải blái tao đă cấm mà chớ.

Tôi lạy đức Chúa blời, đần bà đức Chúa blời cho tôi làm bạn cùng, th́ cho tôi blái mà tôi đă ăn.

Sao mầy làm thể ếy gái kia?

Tôi lạy đức Chúa blời, con rắn đă dối tôi, mà tôi đă ăn (90-92).

Những câu đối thoại giữa mẹ và con:

Lạy đức Chúa Con sao làm thể ếy cùng mẹ?

Lạy đức Mẹ mà sao đức Mẹ có t́m Con làm bvậy? (174)

Ta có ǵ cùng Bà (181) [phép lạ ở Cana].

Đối thạ ạiởa đức Kitô và người bệnh:

Mày muấn đă cho lành chang?

Tôi lạy ông, tôi chảng có ai giúp tôi, cho đến khi nước động, tôi xuấng cho chóng, v́ chưng khi tôi blạt chên tay làm bvệy, kẻ khác th́ xuấng tlước, mà tôi bấy lâu năm chảng được lành.

Mày dệy, vác lếy giưầng mày mà về (192-193).

Đối thoại giữa đức Kitô và quân dữ, trong vườn Giệt:

Hở bay có t́m ai?

Ta t́m Jesu Nazarenô.

Jesu là tao (211).

Lời dạy đi truyền giáo:

Tao đă chịu mọi phép blọn và tlên blời và dưới đết, bay hăy đi deạy dẽỗ kháp người thế mà rửa tội, khi lếy một phép và một danh đức Cha, cùng đức Con cùng đức Spirito Sancto, mà dẽạy nó giữ mọi sự tao đă khién bay giữ (248).

Ở đây, nên nhắc lại là Đắc Lộ khá bướng bỉnh khi không nhận dùng chữ "nhơn danh" trong công thức làm phép rửa tội v́ Đắc Lộ thấy trong từ này có ngụ ư ba đức Chúa trời chứ không phải là một. Cho nên nếu dùng từ Hán Việt này th́ phải nói "nhơn nhít danh". V́ thế ở đây Đắc Lộ dùng chữ nôm rơ ràng là "lấy một phép và một danh". Nếu nói: "vấ ộh pavh. ấN uanhi hl yipuél àấl

y"danp"ựth́ hbể danh" chỉ ba đức Chúa blời không c̣n là một nữa. Cuộc tranh luận này đă xảy ra năm 1645 và trong Từ điển, Đắc Lộ c̣n viết: "nhin danh Cha", hồ nghi chưa hẳn cùng nghĩa với tiếng Latinh "in nomine Patris". Kết luận về những lời đối thoại, chúng ta thấy Đắc Lộ đă vận dụng được những đại từ để chỉ rơ liên hệ giữa hai người nói chuyện với nhau, liên hệ rất khác nhau v́ có tôi, tao, ta, chúng tôi, lại có mầy, bay, nó, nhưng những đại từ đó không thể dùng trong tất cả các trường hợp như: mẹ/con, cha/con, chủ/tớ, trên/dưới, bạn/thù, quen/lạ, quan/dân. V́ thế nếu có tôi/ông, tôi/chúa th́ cũng có tao/bay, tao/mầy, có ông/tôi, tôi/ông th́ cũng có tao/mầy, ta/bay; c̣n giữa mẹ con th́ mẹ/con, giữa cha con th́ cha/con. Chữ "tớ" cũng được dùng với "người" trong lời người kẻ trộm lành thưa với Chúa:

"Ví bằng người là Christô th́ chữa ḿnh và chữa tớ" (226). (c̣n tiếp)

4. Tài hùng biện của Đắc Lộ

Chúng tôi không quá lời khi nói tới tài hùng biện của Đắc Lộ, Phép giảng không phải chỉ là một cuốn giáo lí đại cương, với câu hỏi và lời thưa, nhưng là những bài rao giảng, thuyết tŕn,,rdoễg ảăg dài hơn với những lí lẽ, chứng cớ và lập luận. Lịch sử của chúng ta không thiếu nhà hùng biện, nhưng họ không viết tiếng Việt, họ dùng chữ Hán. Một Lí Thái Tổ, một Lí Thường Kiệt, hẳn đă có những lời lẽ thuyết phục nhân dân, cũng như một Lê Lợi, một Nguyễn Trăi, nhưng các ông không viết chữ nôm. Cũng không quá lời khi nói đây là những bản văn hùng biện tiên khởi trong văn học Việt ngữ. Nhiều lúc chúng tôi có cảm tưởng như được nghe những bài giảng hùng biện danh tiếng của Bossuet ở nhà thờ Meaux hoặc của Bourdaloue, hay Lacordaire ở nhà thờ Đức Bà Paris.

Chúng ta hăy đọc bài giảng trong ngày thứ nhất, Đắc Lộ đứng lên hàng đầu dơng dạc ném vào đầu những người nghe những lí lẽ khuất phục này: "Ai giảng đạo cho, th́ như sai viên rao lệnh đức Chúa blời sai cho, mà làm cho được khỏi phải phạt khốn nạn vô cùng, lại cho được chịu hưởng bvui bvẻ vô cùng bvệy.

Chớ có nói, đạo nầy là đạo Pha-lang, v́ chưng đạo thánh đức Chúa blời là sáng, tlước và mlớn hơn mặt blời: Nói thí dụ mạt blời soi đến nước nào, th́ làm ngày sáng nước ếy; dù là nước khác chưa thấy mặt blời maọc lên, hăy c̣n chịu tối đêm.... .. ếy là đạo thánh Đức Chúa Blời đă sáng soi đến nước An nam nầy. Chớ có ai đóng con mắt thieng lieng ở tlong linh hồn và tlong ḷng ta: mà lại chịu lấy đạo chính phải mlẽ, hết ḷng hết sức, lại ghét mà bỏ đi những tối tăm mù mịt tội lỗi đă phạm xưa nay" (25-26).

Trong Lịch Sử Đàng Ngoài, ở bài giảng đầu tiên trên bến Cửa Bạng ngày 19-03-1627, chính ngày lễ kính Thánh Giuse, Đắc Lộ đă cho biết ông rất trịnh trọng nói đến tên Thiên Chúa một cách vô cùng long trọng. Ông không dùng "Thiên Chúa", cũng không dùng "Chúa Trời" mà nói "đức Chúa trời đất", v́ chữ đức này làm tôn giá trị tuyệt đối của "Chúa trời đất", v́ trong cung điện, trong phủ, người ta vẫn phải nói đức vua, đức chúa, đức ông, đức bà. Th́ nay Đắc Lộ rót vào tai người Đàng Ngoài thánh danh Thiên Chúa là đức Chúa trời đất. Hơn nữa, v́ chúng ta đă có nhiều đạo như: đạo Phật, đạo Lăo, đạo Khổng, đạo tổ tiên... nhưng đây là đạo thánh, thánh giáo chứ không phải đạo thường, thông thường. Cho nên Phép giảng là phép giảng cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà bvào đạo thánh đức Chúa Blời. Đắc Lộ c̣n viết rơ rệt: viết chữ nhỏ ở đức và blời, và chỉ viết chữ lớn, chữ hoa ở Chúa mà thôi, v́ chúng ta không thờ trời, không thờ đất mà thờ đức Chúa blời đết.

Và sau đây là bài giảng hùng hồn, Đắc Lộ đưa ra để thúc giục người nghe động ḷng thương mến và thờ lạy đấng đă v́ loài người chúng ta mà chịu trần truồng nằm chết trên cây thập tự. Là v́, như Đắc Lộ đă nói trong phương pháp giáo lí, người Đông Phương, nhất là người Việt Nam đă phân biệt trời là trời, người là người, thượng đế là thượng đế xa vời cao xa. Như thế họ khó công nhận một Thiên Chúa chết ô nhục, như một kẻ trọng tội. Khổng, Lăo, Phật là những nhà hiền triết đáng kính, trong bộ y phục nho nhă, cao cả. Cho nên họ khó nhận Đấng Thiên Chúa chịu đóng đanh. Đắc Lộ đă nói v́ thế phải nhấn mạnh tới những sự lạ khi xảy ra cái chết dữ dằn trên thập tự và rồi phải lấy ảnh, đốt nến và cho người ta cung kính một cách sốt sắng. Trong bài diễn giảng này, Đắc Lộ đem hết tài hùng biện vừa để thuyết phục vừa để gây ḷng sốt mến.

Đắc Lộ bắt đầu như dẫn ta đến và ba lần chỉ vào người ấy và ba lần nói: "này là người", rồi Đắc Lộ tha thiết và thân thiết nói với "bạu", sáu lần Đắc Lộ bảo:

1. bạu hăy xem đức Chúa blời chuộc tội cho bạu,

2. hăy coi tay thánh,

3. hăy xem chên rứt thánh,

4. hăy coi sườn đức Chúa blời,

5. hăy ngắm mặt xưa gồm mọi sự tốt lành,

6. hăy suy, hăy xét...

"Bạu là kẻ biết mlẽ... đức Chúa Jesu đă kớu bạu..." Tất cả những dồn dập trực tiếp đánh vào lí trí và tâm t́nh "bạu" làm thành một thứ thôi miên, bạu không sao, không thể từ chối, thoát khỏi được, để rồi tới đợt cuối cùng Đắc Lộ đưa bạu tới chân thánh giá, qú đó mà thờ lạy. Thật là những trang sách vô song trong văn học công giáo Việt Nam, nếu không là văn học Việt Nam, như những tác phẩm hùng biệt của Bossuet, Bourdaloue, Lacordaire, trong Văn học Pháp, dĩ nhiên là tương đối thôi: "Ai nấy có í đây, hăy ngửa con mắt linh hồn lên, mà ngắm đức Chúa Jesu, như bàng c̣n tlước mạt ta, đóng đanh tlên cây Crux mà chuộc tội chịu chết làm bvậy.

Nầy là người, đức Chúa blời đă phán nói hứa đời tlước, sẽ mở ra cửa thiên đàng, tổ tung ta khoở xưa đă đóng lại.

Nầy là người, đức Chúa blời đă truyền cho thánh đời xưa có chịu sấm truyền, ngày sau đến kớu loài người ta.

Nầy là người, thạt là đức Chúa blời, tự nhyen chảng chịu được đí ǵ, v́ chúng tôi đă chọn làm Con người, mà chịu nạn làm bvậy, khi đă mở đàng cho ta được bvui bvẻ vô cùng...

... Ấy vậy mà nếu bạu hay suy nghĩ, nếu có nghe mlời giảng, từ tlước đến nay, mà chảng tai điếc, th́ nh́n lệy nhin lành vô cùng đức Chúa Jesu, kớu bạu, dầu người chảng có dùng ǵ loài người ta...

... Hăy xem đức Chúa blời chuộc tội cho bạu, mà bêo tlên cây Crux. cả và ḿnh nát.

Hăy coi tay thánh, chảng hay làm sự ǵ lỗy, mà hay làm phép nhều, bây giờ chảy máu rạng rạng.

Hăy xem chên rứt thánh, khi t́m bạu, cho được rỗi vô cùng, th́ nhaọc, mà bây giờ chịu đaóng đanh khốn lắm.

Hăy coi sườn đức Chúa blời, có lưỡi đạng dữ đâm bvào.

Hăy ngắm mạt xưa gồm mọi sự tốt lành, mà bây giờ máu, cùng đàm giổ th́ che hết: và tlán xưa rất vui, những gai thâu bvào, cho nên chảy máu ra. Hăy suy, hăy xét Chúa rứt sang, rứt traọng. Khi đang th́ nên người, coi có xưâng đâu, mà chịu chết rứt xấu hổ v́ bạu.

Khi bạu chảng hay blả ơn cả lạm bhận ha êl, ín cà nà́ vếy caonn nứ thlà nh́n lếy lạng đức Chúa Jêsu yêu bạu chảng cùng, mà khi bạu hhynn ớù gắ, àbkiilḅugclả ắước mắt, bởi la ng lo lắm, th́ làm dyuơn bvậy. Ấy là kẻ tlước đă hủy báng đức Ch bạu... Mà bạu là kẻ biết mlẽ, mà đức Jesu kớu bạu ở bêu tlên cây.

Sao bạu kứng lạng bàng sắt bvậy, mà chảng chảy nước mắt rạng rạng, sao chảng khaóc laóc, mà thưâng xót, kính mến, cám ơn đức Chúa Jesu hết lạng hết sức bvậy.

Nhin v́ sự ếy, bạu th́ phải lếy mlời làm bvậy mà cầu cùng đức Chúa Jesu, rứt nhin rứt yêu và kớu thế, ở bêu tlên Crux v́ bạu..." (233-236). Có một vài chữ cần phải giải thích: sấm truyền là lời tiên tri, dùng là cần dùng, cần tới; "coi có xưâng đâu", La ngữ là "cervice deflexa", đầu gục xuống, rũ xuống. Từ bạu cũng chỉ có trong Từ điển Việt Bồ La (1651) với nghĩa là socius, bạn, không có trong Taberd, Theurel, Huỳnh Tịnh Của, Khai Trí Tiến Đức.

Bài giảng hùng biện cuối cùng là bài giảng vắn tắt Đắc Lộ chuẩn bị cho người nghe học biết về mưgiờđ ềg eăh chbêế hềam ờà iần cuối ngày thứ tám. Đắc Lộ lại xưng ḿnh là Thày. V́ chữ thày được dùng trong dân gian để chỉ các "nghề tự do" được mọi người quí trọng kể từ thày đồ, thày thuốc, thày đạo tới thày phù thủy, thày pháp, thày bói. Đắc Lộ cũng cho thủ trưởng nhóm các thày giảng được chức và được gọi bằng thày. Đắc Lộ giảng:

"Thày bvưng lệnh đức Chúa Jesu, là bvua chúa tlên hết mọi bvua chúa, mà đến đây, đem tin lành cho bay, mà thay v́ đức Chúa Jesu, mời cho bay được chịu bvui bvẻ cả ếy, cùng các thánh, và đem đàng cho, ví bàng có toan noi giữ đàng ếy, và khỏi được h́nh khốn nạn vô cùng, lo chảng đến, nhưng h́nh địa ngục, kẻ dữ th́ phải chịu, cùng ma quỉ đời đời, mà lại chịu được bvui bvẻ thanh nhàn vô cùng đời đời, mlời nói chảng hết; v́ chưng tlong hai sự nầy, thạt mỗi một ta, ai là ai chảng khỏi được một, v́ có mlời đức Chúa blời, thạt thà vô cùng, chảng sai, có phán làm bvậy..." (277).

Đắc Lộ lại nhắc tới tư tưởng chủ yếu: đạo là đàng, t́m đàng sống.

Chúng tôi xin kết thúc ở đây v́ c̣n nókttểtbún g ảâ h́ềc nơc ữh ềàd ni

itn ihuầhơn nữa về danh từ thần học, p ụég Giảng, về những từ vẫn c̣n được dùng bằng tiếng Latinh, về những bản văn Kinh tin Kính, Kinh lạy Cha, Kinh kính mừng, kinh mười điều răn đă được ghi trong Phép Giảng. Nhiều kinh, ngày nay chúng ta đọc đă được bắt nguồn từ thời Đắc Lộ. Về ngữ pháp cũng c̣n có thể nói về những từ cổ, những từ dịch từ La ngữ v.v... Và chúng ta bước sang cuốn Từ Điển Việt Bồ

Nguyễn Khắc Xuyên