Ḍng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ Của Người Việt Nam

Người Việt Online - Wednesday, March 16, 2005    Đỗ Tăng Bí

LTS: Bài viết dưới đây căn cứ vào các dữ liệu của cuộc kiểm tra dân số 1990 đồng thời đối chiếu với các dữ kiện của cuộc kiểm tra dân số năm 2000 (Census 2000). Cấu trúc bài viết dựa trên bản phác thảo của bà Lê Ngoan “Profile of Vietnamese American Community”, phổ biến vào Tháng Tám, 1994.

Sự hiện diện cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ là một hiện tượng mới mẻ. Thời kỳ trước 1950, trên toàn nước Mỹ có chưa tới 500 người Việt. Vào cuối năm 1974, có xấp xỉ 26,000 người Việt tại Hoa Kỳ, con số gia tăng nhanh chóng trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam vào tháng Tư, 1975, đă khiến một khối lượng lớn hơn bao giờ hết những người Việt Nam bỏ xứ ra đi. Những người này chủ yếu là từ Miền Nam, họ trốn ra đi do nỗi sợ bị tân chính quyền cộng sản khủng bố. Chỉ riêng năm 1975, 128,250 người Việt Nam được nhận vào Hoa Kỳ với tư cách những người tỵ nạn (theo Office of Refugee Resettelement Report 1977). Giữa những năm 1975 và 1979, khoảng 169,000 người Việt Nam đă đến Hoa Kỳ, gia tăng dân số người Việt tại Hoa Kỳ hơn 600%.

Người ta dự đoán rằng ḍng người ra đi khỏi Việt Nam sẽ chấm dứt một khi tân chế độ củng cố xong quyền lực và kiểm soát được hoàn toàn miền Nam. Tại Hoa Kỳ, Quốc Hội đă ban hành Chương Tŕnh Trợ Giúp Người Tỵ Nạn Đông Dương (Indochina Refugee Assistance Program) năm 1975, và đă dự trù kết thúc vào 1977. Tuy nhiên, tại Việt Nam, với những biện pháp được đưa ra để kiểm soát dân số miền Nam và để biến đổi miền Nam Việt Nam thành xă hội chủ nghĩa, đă thôi thúc những người Việt Nam rời bỏ quê hương ra đi nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào của lịch sử Việt Nam.

Mặc dầu cuộc “tắm máu” đă không xảy ra như nỗi hăi sợ của rất nhiều người dân miền Nam, nhưng hàng trăm ngàn người từng giữ những chức vụ trong chính quyền và quân đội miền Nam, những nhà báo, những nhà văn, những vị lănh đạo các tôn giáo đă bị giam cầm trong các trại cải tạo rải khắp nơi từ miền bắc tới miền nam. Nhiều gia đ́nh đang sống tại các thành phố đă được yêu cầu “t́nh nguyện” chuyển cư đến các vùng hoang dă theo chương tŕnh “vùng kinh tế mới”, nơi đây, họ bị ép buộc bỏ sức khai phá những mảnh đất không thể trồng trọt được. Giới doanh thương mà nhiều người vốn gốc gác Trung Hoa, trở thành mục tiêu khủng bố kinh tế: cơ sở thương mại của họ bị tân chính quyền quản lư, tài sản của họ bị tịch thu, và những vụ đổi tiền liên tiếp đă làm tiêu tan hết giá trị những tài sản bằng tiền mặt mà các cơ sở thương mại hay tầng lớp trung lưu Việt Nam c̣n dành dụm được.

Trong t́nh h́nh đó, hàng ngàn người Việt Nam chỉ c̣n cách là đào thoát qua ngả bờ biển phía đông hoặc băng ngang Cambodia để vào Thái Lan. Mặc dù có những nỗ lực kiểm soát mọi ngơ ngách của tân chính quyền, biên giới Việt Nam vẫn c̣n đầy những con người liều mạng này chạy trốn bằng thuyền hay đi bộ xuyên ngang Cambodia. Tỷ số những người tử nạn trong khi đào thoát khỏi Việt Nam rất cao. Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đă ước lượng khoảng 50% số những người trốn chạy bị thiệt mạng. Những h́nh ảnh thê thảm về đám đông “thuyền nhân” chen chúc trên những con thuyền không thể dùng đi biển được, cũng như áp lực đ̣i giải tỏa gánh nặng tỵ nạn đang đè lên các nước như Thái Lan, Malaysia, Hong Kong, Philippines, đă thúc đẩy nỗ lực giải cứu của quốc tế. Có một vài trường hợp hiếm hoi người vượt biên đi bằng đường hàng không như trường hợp Trung úy phi công Hồ Kim Hải cùng nhân viên cơ khí Nguyễn Văn Thắng, vào ngày 08-03-1976, hoặc trường hợp một số đồng bào cưỡng đoạt chiếc phi cơ DC-3 của CSVN trên đường bay từ Sài G̣n ra đảo Phú Quốc, ép phi công đáp xuống phi trường quân sự Selecter tại Singapore, hoặc trường hợp một cựu TNCT tại trại Thanh Cẩm, Thanh Hoá, sau khi được thả đă móc nối người em cùng cưỡng ép phi công trực thăng vượt qua biên giới Việt – Hoa để vào nội địa Trung Cộng (khoảng cuối năm 1979).

Quốc Hội Hoa Kỳ đă hợp tác với chính quyền của Tổng thống Jimmy Carter để thông qua Đạo Luật Tỵ Nạn 1980 (Refugee Act of 1980), theo đó, đây là lần đầu tiên minh định những ai có thể được cho nhập cư Hoa Kỳ với tư cách những người tỵ nạn; Đạo luật cũng thiết lập một cơ cấu cho mọi hoạt động trợ giúp người tỵ nạn của liên bang. Trên thực tế, khối lượng ào ạt những người tỵ nạn Việt Nam, cũng như người Cambodia và Lào, suốt những năm cuối thập niên 70 đă bắt buộc Hoa Kỳ phải xem xét việc tái định cư người tỵ nạn như một hiện tượng toàn thế giới, và điều đó đ̣i hỏi một chương tŕnh trợ giúp liên tục hơn là những sự đối phó nhất thời và đơn thuần đối với những cuộc khủng hoảng, như quan điểm của thời trước đây.

Giữa 1980 và 1990, khoảng 306,658 người Việt Nam đă đến Hoa Kỳ. Đa số họ được nhập cư dưới Đạo Luật Tỵ Nạn 1980. Những người khác được chấp thuận là tỵ nạn hay di dân do kết quả của ba chương tŕnh đặc biệt dưới đây:

* The Orderly Departure Program (Chương Tŕnh Ra Đi Có Trật Tự) do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979 tạo cơ hội cho những người Việt Nam có thể ĺa bỏ xứ sở và đến tái định cư tại nước khác mà không phải chấp nhận phương sách vượt biên nguy hiểm đến sinh mạng, và cũng không gây ra những áp lực xă hội và kinh tế cho các nước láng giềng.

* The Amerasian Homecoming Program (Chương Tŕnh Đoàn Tụ Con Lai) đă được ban hành theo đệ tŕnh năm 1988 của Dân Biểu New York Robert J. Mrzarek, một cựu chiến binh chiến cuộc Việt Nam, cho phép các Trẻ Lai và gia đ́nh họ nhập cư với tiến tŕnh nhanh hơn. Những người Con Lai này là con của những bà mẹ Việt Nam với những công dân Hoa Kỳ. Nhiều người trong số họ đă bị những ông bố Hoa Kỳ bỏ rơi.

* The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương Tŕnh Tái Định Cư Những Cựu Tù Nhân Chính Trị) là kết quả của thỏa ước được kư kết giữa Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam năm 1989 cho phép các cựu tù nhân chính trị và gia đ́nh họ di cư sang Hoa Kỳ.

Cho đến cuối năm 1990 trên một triệu rưỡi người tỵ nạn đă rời khỏi Việt Nam qua mọi h́nh thức, ngơ ngách.

Khoảng giữa 1989 – 1990, số tỵ nạn từ Đông Nam Á đă nâng số di dân Á Châu tại Hoa Kỳ lên đến 3.8 triệu. Tuy nhiên, cuộc Kiểm Tra Dân Số Hoa Kỳ năm 1990 cho biết tổng số người Việt Nam được xác định là 614,547 người. Trong số này, khoảng 18% ra đời tại Hoa Kỳ. Có thể tin rằng một số lớn những người Việt Nam đă không được xác định v́ nhiều người mới nhập cư đă không tham dự vào cuộc kiểm tra do trở ngại ngôn ngữ hoặc do họ không thấy tính cách quan trọng của việc kiểm tra. Cũng có một số người ra đi từ Việt Nam có ḍng dơi Trung Hoa nay tự nhận ḿnh là người Trung Hoa thay v́ là người Việt Nam.

Nhật báo Los Angeles Times cho biết vào năm 1990 có khoảng 1.2 triệu người Đông Nam Á sống tại Hoa Kỳ, kể cả 250,000 trẻ em ra đời tại đây. Cuộc kiểm tra dân số cho biết có khoảng 280,000 người VN sống tại California, trong đó 71,822 người tại quận Cam. Nhưng theo một số những nhà lănh đạo cộng đồng và báo chí, con số trên thấp rất nhiều so với thực tế. Tờ L.A. Times cho rằng năm 1989 có khoảng 100,000 người VN sống tại Quận Cam.

Từ năm 1991 đến 1992, thêm 133,042 người Việt Nam đến Hoa Kỳ (Theo 1992 Statistical Yearbook of the Immigration and Naturalization Service, U.S. Department of Justice). Làn sóng những người mới đến này là do các chương tŕnh kể trên cũng như qua diện di dân b́nh thường hợp pháp của Hoa Kỳ cho phép đoàn tụ gia đ́nh. Giả định rằng tỉ số những người mới đến năm 1993 và 1994 cũng bằng với 1991 và 1992 và giả định rằng tỉ số người Việt Nam ra đời tại Hoa Kỳ không thay đổi, có thể ước lượng rằng tổng số cư dân Việt Nam tại Hoa Kỳ hiện nay vào khoảng 900,000. Thực ra, theo văn pḥng Tái Định Cư Người Tỵ Nạn, năm 1993, có 58,814 người VN đến định cư tại Hoa Kỳ. Dựa theo con số trên, số người VN tại quận Cam được ước lượng vào khoảng 106,000 người. Tuy nhiên, theo L.A. Times, trong hai năm 1991 – 1992, có thêm 15,000 người VN đến quận Cam, như thế con số người VN tại quận Cam sẽ là 115,000, và như vậy, con số của năm 1994 sẽ cao hơn nhiều. Theo nhật báo Register, con số người Việt Nam tại Orange County tính đến đầu năm 1995 vào khoảng 150,000 người. Theo báo cáo của “Office of Refugee Resettlement”, trong 6 tháng đầu năm 1994, số người tỵ nạn đến California gồm 19,975 người.

Theo Cuộc Kiểm Tra Dân Số Hoa Kỳ năm 2000 (U.S. CENSUS 2000), có 1,122,528 người gốc Việt Nam tại Mỹ so với thống kê năm 1990 là 593,213 người. Trong 10 năm, dân số VN tại Mỹ tăng gần gấp đôi.

Theo tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tính từ tháng Tư – 1975 đến tháng Chín – 1994, số người tỵ nạn Đông Nam Á đến Hoa Kỳ có 934,047 người.

Nếu tính theo “Diện” của di dân người Việt, th́ từ 1980 đến nay, có khoảng 112,000 Cựu Tù Nhân Chính Trị dưới chế độ Cộng Sản và gia đ́nh đă đến định cư tại HK, và hiện nay (1995) c̣n 69,000 cựu Tù Nhân Chính Trị tại VN đang bổ túc hồ sơ để ra đi. Chính phủ HK dự trù hoàn tất việc phỏng vấn và cho nhập cảnh những người kể trên vào cuối năm 1997. Về những người Đoàn Tụ, chính phủ HK dự trù sau tháng 6/1996, sẽ không nhận thêm danh sách những người đoàn tụ với thân nhân ở Mỹ. Cho đến nay, có 189,000 người Việt sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Hiện nay (1995) khoảng 132,000 người VN đang nộp đơn xin đoàn tụ.

Theo U.S. CENSUS 2000, Từ 1990 đến Tháng Ba, 2000, có 408,004 người Việt Nam nhập cư Hoa Kỳ, từ 1980 đến 1989 con số trên là 266,282 người, và trước 1980, là 170,607 người. U.S. CENSUS 2000 c̣n cho chúng ta những con số thú vị là trong số những người Việt Nam nhập cư kể trên, từ 1990 đến 2000 có 910 người sinh trưởng ở Âu Châu, 164 từ Phi Châu, 614 từ Mỹ La Tinh, ...

Riêng tại California, từ 1990 đến Tháng Ba, 2000, có 149,092 người Việt Nam nhập cư Hoa Kỳ, từ 1980 đến 1989 con số trên là 119,419 người, và trước 1980, là 70,890 người.

Người ta ước lượng đến năm 2020, số dân Á Châu/ Thái B́nh Dương sống tại Hoa Kỳ sẽ lên đến 20 triệu người. Theo tờ New York Times số ra ngày 4 tháng 12, 1992, th́ tỉ lệ gia tăng dân số của dân AC/TBD tại Hoa Kỳ vào năm 2050 sẽ là 412.5% của con số năm 1992, trong khi các nhóm dân khác trong cùng thời kỳ chỉ gia tăng 50.2%.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI HOA KỲ

Thông qua chương tŕnh tái định cư người tỵ nạn, một kết hợp sự hỗ trợ giữa liên bang và những cơ quan thiện nguyện có mạng lưới trên toàn quốc, người Việt Nam đă được phân tán khắp nơi trên lănh thổ Hoa Kỳ, từ những đô thị lớn tới các thị trấn nhỏ và cả các vùng thôn dă. Nguyên do của sự phân tán rộng răi đó có thể là v́ trong những năm đầu tiên, những cơ quan thiện nguyện phụ trách chương tŕnh tái định cư người tỵ nạn đă đưa họ từ những trại tỵ nạn hội nhập vào các cộng đồng người Hoa Kỳ là các tổ chức toàn quốc có mạng lưới hoạt động trải rộng khắp nơi. Qua các giáo phận hoặc chi nhánh của những tổ chức trên, người Việt đă được nhập cư vào những cộng đồng của nơi mà một nhà thờ, một gia đ́nh, một cá nhân hay một định chế nhận vai tṛ “bảo trợ”giúp người tỵ nạn Việt Nam tái định cư trong những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dưới đây là những cơ quan thiện nguyện hoặc tiểu ban lo công tác định cư cho người Việt tỵ nạn:

1- ACNS (American Council for Nationalities Services), 2- AFCR (American Fund for Czechonovak Refugees), 3- BC (Buddhist Council for Refugees Rescue & Resettlement), 4- CWS (Church World Services), 5- HIAS (Hebrew Immigrant Aid Society), 6- IRC (International Rescue Committee), 7- IDHO (State of IDHO Program), 8- IRSC (Iowa Refugee Service Center), 9- LIRC (Lutheran Immigration & Refugee Service), 10- TF (Toltoy Foundation), 11- USCC (United States Catholic Conferance), 12- YMCA (Young Men’s Christian Association).

Trong những năm đầu (1975 – 1979), chỉ có một ít nơi tập trung các gia đ́nh Việt Nam. Dần dần, một số lớn những người Việt Nam đă rời bỏ nơi tái định cư ban đầu để chuyển đến các vùng đô thị lớn hầu mong có được sự hỗ trợ của những người đồng hương, t́m được những cơ hội làm ăn tốt hơn, hoặc có thể chỉ đơn thuần muốn tránh cái giá lạnh của mùa đông tại các vùng miền bắc, cái giá lạnh mà người Việt vốn sống tại vùng khí hậu nhiệt đới rất khó chịu đựng.

Những “di dân đợt hai” này hợp với các làn sóng người tỵ nạn Việt Nam đến được Hoa Kỳ trong suốt những năm 1980, nhiều người đến để được đoàn tụ với gia đ́nh hoặc bạn bè, đă đưa đến việc tập trung người Việt Nam vào mốt số ít tiểu bang và quận hạt (Counties)

Những dữ kiện rút ra từ cuộc Kiểm Tra Dân Số 1990 cho ta biết rằng đa số những người Việt Nam (89%) đă tái định cư tại những vùng gần bờ biển. Vùng Bờ Biển Miền Tây (California, Oregon, Washington) chiếm 50% tổng số. Chỉ riêng Tiểu bang California đă có 45% tổng số người Việt tại Hoa Kỳ. Vùng Bờ Biển Vùng Vịnh (Texas, Louisiana, Alabama, Missisipi) có 15% và Vùng Bờ Biển Miền Đông có 18% tổng số.

Người Việt Nam sống rải rác khắp 50 tiểu bang của nước Mỹ. Cho đến 1990, con số thống kê chính thức (thấp nhiều so với thực tế) cho biết những tiểu bang ít người VN nhất là Montana (159), Wyoming (124), West Virginia (184), Vermont (236), North Dakota (281); và những tiểu bang có đông người Việt Nam nhất là California (280,223), Texas (69,634), Virginia (20,693). Theo U.S. CENSUS 2000, ở California có 447,032 người Việt,

Sự chọn lựa tái định cư tại vùng bờ biển có thể v́ người Việt Nam đă thuận theo tập quán sống gần biển có từ hàng bao thế kỷ tại Việt Nam. Một số người Việt Nam vốn làm nghề đánh cá ở Việt Nam nay cũng tiếp tục đánh cá tại những vùng như Louisiana, Missisipi, Florida và vùng vịnh California. Theo U.S. CENSUS 2000, Louisiana có 24,358 người Việt, Mississipi có 5,387 người Việt, và Florida có 33,190 người Việt.

Tại vùng Trung Tây, người Việt Nam cư trú ở những nơi chính như Illinois (10,309), Minesota (9,387) và Missouri (4,380). Theo U.S. CENSUS 2000, 115,487 người Việt sống tại các tiểu bang phía Bắc, 106,938 tại các tiểu bang miền Trung, 335,679 tại miền Nam và 564,424 tại miền Tây Hoa Kỳ.

Bởi v́ những tiểu bang nơi người Việt tụ họp thường là những tiểu bang lớn, nên cũng cần phải xem xét những khu vực nổi bật tại những tiểu bang có đông đảo người Việt quây quần. Các dữ kiện rút ra từ những counties cho thấy thực ra chỉ có hai chục khu vực nổi bật như vậy, và tỷ lệ chiếm 58% tổng số người Việt. Số 42% c̣n lại của tổng số người Việt th́ sống rải rác khắp nơi trên đất Hoa Kỳ.

DÂN SỐ TẠI THỦ ĐÔ TỴ NẠN: QUẬN CAM

Cuộc kiểm tra dân số 1990 cho biết tại quận Cam, số người VN chiếm khoảng 2.98% tổng số dân toàn county. Con số này là 71,822 người, như ta đă biết ở phần trên, thấp rất nhiều so với thực tế (100,000 người vào 1990, và 150,000 người vào năm 1995 – do đó, những số liệu chính thức dưới đây thường thấp rất nhiều so với thực tế). Theo U.S. CENSUS 2000, số người Việt Nam tại Quận Cam là 135,548, trên tổng số dân cư là 2,846,289 người

Tổng số dân của Quận Cam theo cuộc kiểm tra dân số 1990 là 2,410,556 người gồm 1,214,060 phái nam và 1,196,496 phái nữ... Thành phần như sau: dân da trắng (1,894,593 người tức 78.60%); dân da đen (42,681 – 1.77%); dân Á Châu/ Thái B́nh Dương (249,192 – 10.34%), bảng tổng kê này bao gồm cả những dân gốc Nam Mỹ, nhưng không liệt kê họ như một nhóm riêng biệt v́ họ có thể có mặt trong bất cứ nhóm dân số nào. Về dân số AC/TBD, gồm dân số Trung Hoa (41,403 – 1.72%), Filipino (30,356 – 1.26%), Nhật Bản (29,704 – 1.23%), Đại Hàn (35,919 – 1.49%), Việt Nam (71,822 – 2.98%), và một số sắc dân khác.

Có ba thành phố lớn tại quận Cam có đông người VN cư ngụ, con số chính thức theo cuộc kiểm tra dân số 1990 như sau: Garden Grove (15,001), Santa Ana (14,828), Westminster (11,376). Tuy nhiên, c̣n 9 thành phố khác có nhiều người VN ở: Anaheim (4,569), Costa Mesa (1,999), El Toro (1,233), Fountain Valley (2,813), Fullerton (1,870), Huntington Beach (3,543), Irvine (2,319), Orange (2,614), và Tustin (1,264).

Dần dần, người VN tụ tập ở Westminster ngày càng đông, thoạt kỳ thủy là v́ giá nhà và đất ở thành phố này tương đối rẻ, tuy nhiên khi số người về đây nhiều, giá tiền thuê nhà không c̣n rẻ nhiều so với nơi khác, th́ lư do tụ tập là v́ sự tiện lợi của chợ búa, của khu hàng xóm láng giềng có nhiều người Việt Nam, nhất là v́ gần khu thương mại của người VN được gọi là Little Saigon. Theo U.S. CENSUS 2000, số người gốc Việt tại các thành phố như sau: Westminster: 27,109/(88,207 toàn thể cư dân); Garden Grove: 35,406/(165,196); Anaheim: 10,025/(328,014); Fountain Valley: 7,088/(54,978); Irvine: 4,414/(143,072); Santa Ana: 19,226/( 337,977).

 

Phụ bản 1

 

Dân Số Gốc Việt Tại Orange County, California

Theo Census 2000

 
Địa Phương Gốc Việt Tổng Số Dân
California 447,032 33,871,648
Los Angeles, Riverside, Orange County 233,573 16,373,645
Orange County 135,548 2,846,289
Garden Grove City 35,406 165,196
Westminster City 27,109 88,203
Santa Ana City 19,226 337,977
Anaheim City 10,025 328,014
Fountain Valley 7,088 54,874
Irvine 4,414 143,072

 

THÀNH PHẦN DÂN SỐ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Người VN có tuổi trung b́nh trẻ hơn của dân số Hoa Kỳ nói chung.

Theo Census 1990, một phần ba số người Việt dưới 18 tuổi. Chỉ có 2.6% là 65 tuổi trở lên. Tuy nhiên, có thể dự trù rằng số những người già từ 65 trở lên đă gia tăng kể từ 1990 v́ nhiều người VN đă được phép bảo lănh cha mẹ sang Hoa Kỳ trong vài năm gần đây, như thế tỷ lệ trên có thể đă thay đổi.

Theo U.S. CENSUS 2000, số người gốc Việt dưới 20 tuổi là 338,457, chiếm 30.1% tổng số người gốc Việt tại Hoa Kỳ. Tỷ lệ này cao hơn dân Mỹ nói chung (chỉ có 28.6%). Tỷ lệ người gốc Việt đang độ tuổi làm việc (20 tới 64 tuổi) khá cao so với dân Mỹ nói chung, 725,830 người, tức 64.7%, tỷ lệ của dân Mỹ nói chung là 58.9%. Tỷ lệ người già gốc Việt chưa bằng một nửa tỷ lệ của dân Mỹ nói chung, 5.2% so với 12.4%. Tuy nhiên tỷ lệ này tăng nhiều so với năm 1990. Vẫn theo census 2000, có 58,241 người gốc Việt từ 65 tuổi trở lên. Tỷ lệ người già trong dân số Mỹ nói chung mỗi ngày một tăng v́ tuổi thọ con người mỗi ngày một tăng. Con số 12.4% trên là một bài toán khó giải quyết cho các cơ quan trợ cấp xă hội và y tế của Liên Bang và Tiểu Bang.

 

Phụ bản 2

Phân Bố Hạng Tuổi Trong Dân Số Gốc Việt

Theo Census 2000

 

 

 

Tuổi / Giới Tính

 

Dân Số Hoa Kỳ

281,421,906

***

Dân Số Gốc Việt

1,122,528

***
************** Số Lượng % Số Lượng %
Nam 138,053,563 49.1% 567,514 50.6%
Nữ 143,368,343 50.9% 555,014 49.4%
19 tuổi trở xuống 80,473,265 28.6% 338,457 30.1%
20 tới 64 tuổi 165,956,888 58.9% 725,830 64.7%
Từ 65 tuổi trở lên 34,991,753 12.4% 58,241 5.2%

Theo Census 1990, phụ nữ (52.5%) nhiều hơn đàn ông (47.5%) trong số người Việt tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên thành phần giới tính thay đổi theo lứa tuổi. Ở lứa tuổi từ 44 trở xuống, nam giới nhiều hơn nữ giới; ở lứa tuổi từ 45 trở lên, nữ giới nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ bách phân phụ nữ lứa tuổi từ 65 trở lên cao hơn là điều cũng cần lưu ư trong việc hoạch định chương tŕnh phục vụ người già để có được những hoạt động thích ứng cho các bà già. Con số này ngược với dân Mỹ nói chung, phụ nữ ít hơn đàn ông. Theo Theo U.S. CENSUS 2000, số người gốc Việt trên 18 tuổi là 818,183, tức 72.9%, trong đó nam chiếm 410,218, tức 36.5%, nữ chiếm 407,965, tức 36.4%

T̀NH TRẠNG HÔN PHỐI, GIA Đ̀NH VÀ CƠ SỞ

Dựa trên Census 1990, người VN tại Hoa Kỳ có khuynh hướng không lập gia đ́nh khi tuổi c̣n trẻ. Đa số họ lập gia đ́nh ở tuổi từ 25 trở lên. Một con số đáng lưu ư (28.6%) người VN ở lớp tuổi từ 25 đến 44 chưa từng lập gia đ́nh. Hơn một phần ba lớp tuổi từ 65 trở lên là người góa. Có lẽ cần một sự nghiên cứu kỹ càng hơn để xác định nguyên do gây ra tỷ số lớn những người góa trong lớp người già. Có thể giải thích rằng cuộc chiến triền miên, sự thiếu dinh dưỡng và nỗi khổ đau trải qua trên bước đường tỵ nạn đă khiến tuổi thọ nhiều người VN giảm đi.

Điều quan trọng cần lưu ư là các cuộc kiểm tra dân số thường định nghĩa chữ “đang kết hôn” bao gồm cả những người có người phối ngẫu hiện đang vắng mặt. Mặc dầu tỷ lệ người VN ly dị thường thấp, nhưng thật khó xác định mức độ số người VN có thể đă từng ly dị v́ chữ “ly dị” theo định nghĩa các cuộc kiểm tra không bao gồm những người hiện đă tái hôn. Thống kê chính thức cho thấy tỷ lệ người Việt ly dị thấp, nhưng theo ông Kiêm Thêm trong cuốn “Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại 1975 – 1987” th́ “t́nh cảnh gia đ́nh VN đang sinh sống trên đất HK đă có những đổ vỡ trầm trọng... tại Orange County, thủ đô của người Việt tỵ nạn, là nơi có con số ly dị cao nhất hiện nay (1987)”. Đơn cử một vài con số, như năm 1982, cứ 1000 cư dân, tính chung già trẻ lớn bé, có 6 người ly dị, cao hơn con số trung b́nh 22%. Theo thống kê của California, tại Orange County, cứ 1,000 người, có 6.2 người ly dị hay ly thân, so với San Diego là 6.1, Los Angeles là 5.8.

Theo U.S. CENSUS 2000, số người gốc Việt sống ly thân là 15,046, tức 1.7% ; số người ở hóa là 32,276, tức 3.7%, trong đó phụ nữ ở hóa là 26,300 người; số người ly dị là 35,177, tức 4.1%, trong đó phụ nữ c̣n ở t́nh trạng ly dị (chưa tái hôn theo định nghĩa ở trên) là 21,610 người.

Để có thể hiểu về sự liên hệ giữa những nhân khẩu trong một hộ khẩu (household) người VN, trước hết ta cần hiểu về định nghĩa hộ khẩu của viện thống kê dân số Hoa Kỳ; “Hộ khẩu bao gồm tất cả những người cư trú (occupy) trong một đơn vị gia cư. Một đơn vị gia cư là một ngôi nhà, một chung cư, một nhà tiền chế, một nhóm các pḥng, hay một pḥng mà người ta cư trú cách biệt với người khác. Những nơi cư trú cách biệt là những nơi mà các trú nhân (occupants) sinh hoạt và ăn uống riêng biệt hẳn với các trú nhân khác trong cùng ṭa nhà và họ có lối đi riêng biệt để ra vào ṭa nhà hoặc qua một hành lang chung. Những trú nhân có thể là một gia đ́nh (family), một người sống độc thân, hai hay nhiều gia đ́nh sống chung với nhau, hoặc bất kỳ nhóm người nào có liên hệ hay không liên hệ cùng nhau chia nơi cư trú theo một thỏa ước”. Sự liên hệ này là sự liên hệ giữa những cá nhân sống cùng hộ khẩu với người chủ hộ khẩu (the head of household).

Căn cứ trên định nghĩa này, dữ kiện về hộ khẩu của người VN theo Census 1990 cho thấy một số đáng kể người VN (23.7%) không sống chung với gia đ́nh họ. Trên 66% sống với những người thân thuộc hay gia đ́nh: vợ chồng, anh chị em ruột hay cha mẹ. Dưới 5% sống với những người họ hàng.

Theo U.S. CENSUS 2000, 80.5% số hộ khẩu gốc Việt chứa từ 3 người trở lên. Tổng số người gốc Việt trên đất Mỹ chiếm 292,244 đơn vị nhà cửa, trong đó mua 158,319, tức 54.2%, thuê 133,925, tức 45.8%. Hai tỷ lệ trên của người Mỹ nói chung là 66.2% và 33.8%. Như thế tỷ lệ người Việt Nam làm chủ căn nhà c̣n thấp so với t́nh h́nh chung.

VĂN HÓA, GIÁO DỤC, SỰ THÀNH ĐẠT VỀ HỌC VẤN

Học vấn là mối quan tâm hàng đầu và là tiêu chuẩn đánh giá về con người và sự thành đạt đối với người VN. Tŕnh độ học vấn thường nói lên địa vị xă hội. Người VN tại quận Cam cũng như trên toàn liên bang đă lợi dụng cơ hội sống trên đất nước Hoa Kỳ để nâng cao tŕnh độ học vấn của ḿnh.

Dữ kiện về sự thành đạt học vấn của Viện Thống Kê cho thấy h́nh ảnh một sắc dân đă thụ hưởng được những cơ hội học hành của người Mỹ. Mỗi lứa tuổi kế tiếp của người Mỹ gốc Việt đều có những thành đạt học vấn hơn lứa tuổi trước. Học vấn của những người lớp tuổi từ bốn chục trở lên đă được h́nh thành từ VN. Những người VN trong các lứa tuổi từ 18 đến 24 tuổi và từ 25 đến 44 tuổi, th́ sự thành đạt học vấn của họ có được là nhờ hệ thống các trường công lập Mỹ cũng như nhờ các trường đại học dành cho những người muốn có một nền học vấn cao hơn. Trong số những người thuộc “tuổi đại học”, từ 18 đến 24, có đến 50% đă hoặc đang theo học đại học.

Hơn một phần tư người VN sinh trước 1925 đă không có một nền học vấn đầy đủ. Nhưng các thống kê về những người không đi học cho thấy sự kiện này đă biến mất trong cộng đồng người Việt tại Hoa kỳ.

Sự thành đạt học vấn của người VN tuổi khoảng 25 hay lớn hơn th́ cũng tương tự như sự thành đạt của người Hoa Kỳ nói chung, nếu tính về những người đă theo học đại học hay đă có được bằng cấp đại học. H́nh ảnh về tŕnh độ học vấn của người VN tại Mỹ: H́nh ảnh này tương tự với người Hoa Kỳ nói chung hơn là với những nhóm tỵ nạn thuộc các nước Đông Nam Á khác. Về tốt nghiệp trung học, người Việt chỉ đứng sau người Mỹ, nhưng ta thấy rằng đây vẫn là hậu quả của những người sống trong một nước có chiến tranh và rằng sự thành đạt học vấn của những người trẻ Mỹ gốc Việt có thể dần dần vượt qua người Hoa Kỳ đồng lứa.

Số liệu 1995 cho biết tại trường Trung học Westminster ở Quận Cam, 52% học sinh có điểm A là VN. Trong số 2,344 sinh viên năm đầu tiên đại học UCI, năm 1990, có 41% là Á Châu. Năm 1993, trong số 13,541 sinh viên ban cử nhân, có 1,870 SV là gốc Đông Nam Á. Họ thường có điểm số cao nhất đối vói bất kỳ sắc tộc nào. Năm 1993, khoảng một phần tư những sinh viên tốt nghiệp là người gốc Đông Nam Á. Các chuyên viên VN làm cho các cơ quan viện trợ quốc tế UNDP, WB, ADP, hoặc cơ quan viện trợ song phương như CCCE của Pháp, USAID của Mỹ, CIDA của Canada,... có mặt trên khắp thế giới. Các chuyên gia gốc Việt cũng có mặt trong các ban giảng huấn các đại học danh tiếng như Paris, UCLA, Gheorgetown, UCI, Québec,... về nhiều ngành học. Họ cũng là những chuyên gia cho nhiều hăng nổi tiếng như IBM, Merill Lynch, Flour, Bechtel, Veritas, Deutsch Bank, Bank of America, cơ quan NASA, Technip...

Ngoài ra, người VN c̣n dựng lên một mạng lưới hàng trăm trường học để dạy tiếng Việt cho các trẻ em lớn lên hoặc sinh trưởng tại Hoa Kỳ ngơ hầu cho các thế hệ con em VN không quên tiếng mẹ đẻ, văn hóa và cội nguồn dân tộc. Nhật báo Người Việt đă nhiều lần giới thiệu các Trung Tâm Việt Ngữ này.

Theo U.S. CENSUS 2000 số người gốc Việt từ 3 tuổi trở lên ghi danh đi học là 377,639 người. Trong đó, từ lớp 1 đến lớp 8 chiếm 35.3%, so với người Mỹ nói chung tỷ lệ này là 43.9%; Trung học từ lớp 9 đến 12 chiếm 21.8% so với nói chung là 21.4%; tốt nghiệp trung học hay theo học college chiếm 34.2% so với nói chung là 22.8%. Tỷ lệ cuối cùng của người Việt Nam cao hơn hẳn có lẽ v́ nhiều người già VN ghi danh học college hơn tỷ lệ người Mỹ nói chung.

Theo U.S. CENSUS 2000, ở California, số người gốc Việt từ 3 tuổi trở lên ghi danh đi học là 161,337 người. Trong đó, từ lớp 1 đến lớp 8 chiếm 33.4%, Trung học từ lớp 9 đến 12 chiếm 20.9%, tốt nghiệp trung học hay theo học college chiếm 37.8%. Như thế tỷ lệ số người Việt Nam ở California đi học cao hơn tỷ lệ người gốc Việt tại Mỹ nói chung.

VỀ TR̀NH ĐỘ HỌC VẤN CỦA NGƯỜI GỐC VIỆT:

Theo U.S. CENSUS 2000, trong số 693,441 người từ 25 tuổi trở lên, có 18% (124,990) học lực chưa tới lớp 9; 20.1% từ lớp 9 đến lớp 12 (139,317 người); 19.1% tốt nghiệp trung học hoặc văn bằng tương đương (132,119); 15.7% theo học college nhưng không tốt nghiệp; 7.7% tốt nghiệp college (đại học 2 năm) so với người Mỹ nói chung con số này là 6.3% ; 14.5% tốt nghiệp cử nhân, người Mỹ nói chung là 15.5%; 4.9% cao học so với người Mỹ là 8.9% Nếu tính ở riêng California, 18.1% người Việt học lực từ lớp 9 đến lớp 12, so với người Mỹ nói chung chỉ có 11.7%; 9.6 tốt nghiệp college so với 7.1, nhưng văn bằng cử nhân người Việt tỷ lệ thấp hơn: 16.1% so với 17.1%.

VỀ BÁO CHÍ, một h́nh thức phản ánh sinh hoạt văn hóa của người VN, t́nh h́nh được mô tả là rất đa dạng và sầm uất. Riêng tại California, vào năm 1984, đă xuất hiện trên 90 tờ báo. Ở vùng Washington và phụ cận, cũng có khoảng 30 tờ báo. Tiểu bang Texas có khoảng trên 10 tờ báo. Phần nhiều các tờ báo không sống lâu, nên theo con số của “Trung tâm Tác Vụ Đông Dương” (IRAC), số các tờ báo phát hành trong các năm như sau: 1975/13 tờ báo, 1976/32, 1977/23, 1978/18, 1979/12, 1980/16, 1981/31, 1982/34, 1983/32, 1984/36, 1985/40, 1986/42. Đây là số báo phổ biến chính thức, không kể các bản tin, nội san, đặc san của các tổ chức, hội đoàn. Năm 1995, số các nhật báo, tuần san, bán nguyệt san và nguyệt san xuất bản tại miền Nam California vào khoảng 40 tờ. Ông Kiêm Thêm trong tác phẩm dẫn thượng đă nhận định về báo chí hải ngoại như sau: “Nếu chỉ căn cứ về phương diện h́nh thức và ấn hành, phải nhận rằng ngành báo chí VN tại hải ngoại trong ṿng 10 năm qua (trước 1986) đă hoạt động gấp 3 lần ngành báo chí trong nước trước đây trong một trăm năm về trước”.

Vẫn căn cứ theo tài liệu của ông Kiêm Thêm, những tờ báo tiền phong của làng báo hải ngoại là: Tokyo nhật báo ra đời tháng 5/1975, Đất Mới (Seatle, Wa, HK), ra đời tháng 7/1975, Hồn Việt (Gleandale, CA, HK), ra đời ngày 15/11/1975, Văn Nghệ Tiền Phong (Arlington, Va, HK), ra đời ngày 1/1/1976, Quê Mẹ (Paris, Pháp), ra đời ngày 31/1/1976, Trắng Đen (Gleandale, CA, HK), ra đời ngày 1/2/1976, Việt Nam Hải Ngoại (San Diego, Ca, HK), ra đời ngày 6/3/1976. Ngoài ra, c̣n một số tờ báo ra đời rất sớm nhưng tuổi thọ không dài như:

* Chân Trời Mới (Guam, HK), của Phạm Kim Vinh, là tờ báo đầu tiên của người Việt hải ngoại, ra đời ngày 2/5/75 và đ́nh bản sau đó ba tháng, khi người Việt rời đảo đi định cư nơi khác.

* Tin Yêu (Washington DC), của linh mục Nguyễn Văn Nguyên, ra đời ngày 20 tháng 2, 1976, đ́nh bản vào tháng 7 cùng năm.

* Việt Báo (Alexandri, Va, HK), của cố linh mục Trần Duy Nhất, ra ngày 15/7/76, đ́nh bản ngày 10/1/79.

Hiện nay, tờ Người Việt là nhật báo Việt ngữ lớn nhất ở hải ngoại, là một tờ báo bán, có số phát hành hằng ngày từ 16,500 tờ đến 18,500 tờ. Báo được phát hành qua bưu điện đến hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ, qua Âu châu, Nhật Bản, Úc châu. Số trang hàng ngày trên dưới 40 trang, Thứ Sáu, Thứ Bảy lên đến 88 trang. Nếu kể trong số nhật báo Việt ngữ do tư nhân làm chủ dù trong nước hay hải ngoại, dù trước hay sau 1975, Người Việt là nhật báo tư nhân sống lâu nhất.

HOÀN CẢNH KINH TẾ CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI HOA KỲ

Sự phân bố lợi tức gia đ́nh của người VN gần giống với của dân số Hoa Kỳ nói chung, ngoại trừ về tỉ lệ bách phân số người sống dưới mức nghèo khổ. Gần 27% số người VN sống dưới mức nghèo khổ so với 13% của dân số Hoa Kỳ nói chung. Nghèo khổ, theo sách chỉ dẫn 1989 của liên bang định nghĩa, là lợi tức gia đ́nh ở mức $6,310 cho một người và $9,885 cho gia đ́nh 3 người. Tính từ tháng Giêng 1988 đến tháng Sáu 1994, số người VN nhận trợ cấp của chính quyền gia tăng nhiều hơn các nhóm chủng tộc khác. Hiện nay (1995) tại Quận Cam, số người VN nhận trợ cấp nhiều hơn các sắc dân Đông Nam Á khác.

Thời gian định cư tại Hoa Kỳ của người VN đă liên quan trực tiếp tới t́nh trạng nghèo khổ và các mức lợi tức gia đ́nh của họ. Lợi tức gia đ́nh đă tăng theo thời gian định cư tại Hoa Kỳ. Dữ kiện cho ta thấy chỉ có 30.2% những gia đ́nh đến trong khoảng 1975 – 1979 có lợi tức ít hơn $30,000 so với 58.6% số những gia đ́nh đến trong khoảng 1987 – 1990.

Ở mức lợi tức cao hơn sự tương phản càng rơ nét hơn. Hơn 20% những gia đ́nh đến trước 1979 có lợi tức trên $70,000 so với khoảng 9% những gia đ́nh đến sau 1987. Ta có thể có nhận định tổng quát rằng đa số những người tỵ nạn VN thuộc nhóm đầu tiên đến Hoa Kỳ có nền học vấn cao hơn và tay nghề khá hơn. Như thế càng thấy rơ những người VN ở lâu tại Hoa Kỳ có lợi điểm về ngôn ngữ và hội nhập dễ dàng nền văn hóa nên được huấn luyện tốt hơn, dễ có việc làm và lương bổng cao hơn.

Một trong những điểm mạnh của cấu trúc kinh tế gia đ́nh VN là thường thường trong một gia đ́nh có đến hai hay nhiều hơn người đi làm. Giống như hầu hết những nhóm di dân vào Hoa Kỳ, người VN thường nhận những công việc có mức lương thấp, hoặc lúc mới đến họ làm việc ngay cho một cơ sở nhỏ của gia đ́nh. Việc đóng góp lương chung trong gia đ́nh làm thăng tiến mức sống cao hơn. Điều này giúp các gia đ́nh VN cải thiện các điều kiện kinh tế.

Gần 20% những gia đ́nh VN có 3 người đi làm, một con số cao bất thường so với tiêu chuẩn Mỹ. Người VN đă mang đến xứ sở này truyền thống gia đ́nh là một đơn vị kinh tế nhiều nhân lực, truyền thống này đă giúp cho cộng đồng VN rất nhiều kể từ khi họ đến Hoa Kỳ. Hầu hết 45% những gia đ́nh có 3 hay hơn số người đi làm lợi tức thu nhập vượt quá $50,000 trong khi không đến 6% những gia đ́nh một người đi làm có được lợi tức trên.

Theo cuộc kiểm tra dân số 1990, tại Quận Cam, trong số 8,998 gia đ́nh VN ở 12 thành phố đông người Việt nhất, có 769 gia đ́nh có lợi tức từ $100,000 trở lên, 1,421 gia đ́nh có lợi tức từ $75,000 trở lên, 2,796 gia đ́nh có lợi tức từ $50,000 trở lên. Tính b́nh quân lợi tức hàng năm của gia đ́nh VN tại 12 thành phố nói trên, người VN tại Irvine có lợi tức b́nh quân cao nhất ($62,662/ năm). Nhưng Santa Ana là thành phố có số gia đ́nh VN lợi tức trên $75,000 cao nhất (406 GĐ với trên $75,000/năm và 137 GĐ trên $100,000/năm)... Garden Grove có 236 gia đ́nh lợi tức trên $75,000/năm và 147 GĐ với lợi tức trên $100,000/năm. Trong số 12 thành phố, người VN ở Westminster có lợi tức hàng năm tính b́nh quân thấp nhất nhưng cũng được $37,330/năm.

Một con số khác nói lên thành quả kinh tế của một nhóm người là quyền sở hữu nhà cửa. Người VN cũng đạt những thành quả nhanh chóng trong lănh vực này khi 43% người VN sống trong những cư sở do họ làm chủ. Tỷ lệ sở hữu chủ nhà cửa của người VN chỉ kém của người Hoa Kỳ nói chung gần 20%, nhưng thực tế cao hơn so với các sắc dân Đông Nam Á khác.

So với những tiêu chuẩn Hoa Kỳ, người VN đă dành một phần khá lớn của lợi tức gia đ́nh họ để trả tiền nhà. Có lẽ điều này đă giải thích được sự kiện về một tỉ lệ bách phân cao những người VN sinh sống ở những nơi có giá nhà cửa cao quá mức, chẳng hạn như ở California. Về lâu dài, sự kiện trên có thể làm giảm đi khả năng của cộng đồng trong việc sử dụng vốn liếng dự trữ làm đ̣n bẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tính thích nắm trong tay những ǵ cụ thể và khả năng mua được nhà là một phản lực mạnh mẽ đưa đến kết quả một mức đầu tư cao về bất động sản và tài sản này xưa nay vẫn gia tăng giá trị. Bộ phận nhận Rao Vặt nhật báo Người Việt cho biết rất nhiều người Mỹ da trắng đến đăng rao vặt nhận xét là người VN đặt ưu tiên hàng đầu cho việc trả tiền nhà, trước khi chi các khoản tiền khác, nên họ thích cho người VN thuê mướn nhà hơn các sắc dân khác, kể cả người da trắng.

Theo U.S. CENSUS 2000, trong số 293,621 hộ khẩu người Việt, lợi tức hàng năm dưới $25,000 chiếm 27.4%, so với người Mỹ nói chung là 28.6%; Từ $25,000 đến $50,000, người Việt là 27.2%, Mỹ là 28.7%; Từ $50,000 đến $100,000, Việt là 31.2%, cao hơn Mỹ là 29.3%; Từ $100,000 đến $200,000 Việt là 12.3%, Mỹ là 9.9%; Trên $200,000, Việt là 1.8%, Mỹ là 2.4%. Nếu tính riêng ở California, tỷ lệ người Việt có lợi tức cao từ $100,000 đến $200,000 là 16.0%, và trên $200,000 là 2.6%, cao hơn người Việt trên toàn quốc (12.3% và 1.8%).

Phụ bản 3

Thu Nhập Của Người Gốc Việt Tại Hoa Ky

Theo Census 2000

 
Lợi Tức Thường Niên Tính Theo Gia Đ́nh

Người Gốc Việt

Người Mỹ Nói Chung

Người Việt ở California

Dưới $25,000/năm

27.4%

28.6%

***

$25,000 đến $49,999/năm

27.2%

28.7%

***

$50,000 đến $99,999/năm

31.2%

29.8%

***

$100,000 đến $199,999/năm

12.3%

9.9%

16.0%

Từ $200,000/năm trở lên

1.8%

2.4%

2.6%

Nói chung, từ 1990 đến năm 2000, gia đ́nh Việt Nam đă gia tăng lợi tức một cách rơ rệt. Năm 2000, lợi tức b́nh quân cho gia đ́nh Việt Nam là $46,929, so với năm 1990 là $29,800.Múc nghèo khổ trong các gia đ́nh Việt Nam cũng giảm đi. Năm 2000, số gia đ́nh sống dưới mức nghèo khổ là 14.3%, năm 1990 là 24%. Số gia đ́nh làm chủ căn nhà cũng tăng, 59.6% so với 43.0% của năm 1990.

VIỆC LÀM VÀ NGHỀ NGHIỆP

Dữ kiện về t́nh trạng việc làm bao gồm những người 16 tuổi trở lên vào lúc tổ chức cuộc thống kê. Theo U.S. CENSUS 2000, 62.1% số người Việt Nam thuộc lực lượng làm việc, so với người Mỹ nói chung là 63.9%. Trong số đó có 58.4% có việc làm và 3.5% thất nghiệp. Hai con số của người Mỹ nói chung là 59.7% và 3.7%.

Số người VN hành nghề dịch vụ ước đoán cũng gần (38%) như người Mỹ nói chung (41%). Con số lớn những người VN làm việc trong lănh vực lao động chân tay (30%) mà lănh vực này đang chịu thiệt tḥi v́ những mức lương giảm đi, tuy nhiên đây vẫn là con đường tốt nhất dành cho những người không có khả năng chuyên môn, hoặc khả năng Anh ngữ giới hạn. Một số người VN đă giữ những vai tṛ quản trị, chuyên môn và kỹ thuật với lợi tức cao dù cho tỉ lệ thấp hơn so với tỉ lệ của người Hoa Kỳ nói chung. Tuy vậy, đối với người VN là nhóm di dân mới nhất, sự kiện 20% người VN t́m được việc làm trong những ngành kể trên đă là một điều hứa hẹn cho tương lai của cộng đồng.

Khoảng 25% người VN làm việc trong những nhà máy chế tạo đồ dùng trong nhà, trong khi khoảng 30% làm việc trong ngành dịch vụ tại những công ty bán lẻ.

NGƯỜI VIỆT LÀM CHỦ CƠ SỞ KINH DOANH

Dựa trên các số thống kê trong bản Báo Cáo Của Viện Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ “1987 Economic Censuses: Survey of Minoriry-Owned Business Enterprises”, con số những người VN tự làm chủ cơ sở kinh doanh của ḿnh đă gia tăng một cách đáng kể trong khoảng 1982 đến 1987. Theo đó, tổng số doanh thu cũng đă tăng 500%. Con số doanh thu trung b́nh hàng năm của những cơ sở do người VN làm chủ gia tăng đều đặn.

Năm 1982, toàn Hoa Kỳ có khoảng 4,989 cơ sở kinh doanh do người Việt làm chủ với doanh thu khoảng 215 triệu đồng, đến năm 1987, số cơ sở trên tăng lên 25,671 với doanh thu là 1 tỷ 361 triệu đồng. Theo U.S. CENSUS 2000, có 97,784 cơ sở kinh doanh do người Việt làm chủ, với doanh thu 9 tỷ 322 triệu đô la. Nếu tính những cơ sở có thuê người làm, con số trên là 18,948 cơ sở, doang thu 6 tỷ 768 triệu, xử dụng 79,035 nhân công với số tiền trả lương khoảng 1 tỷ 165 triệu.

Theo con số 1990 , số người Việt làm chủ cơ sở kinh doanh tại Quận Cam vào khoảng gần 4,500, cao hơn Los Angeles (3,489), Riverside (263), San Diego (837). Ngoài ra, tại khu vực Seabrook, vùng vịnh Mexico, Texas, người VN đă chiếm đến 80% số các cơ sở kinh doanh nghề đánh cá, dù cho những năm đầu tiên họ đă phải trải qua rất nhiều khó khăn về cạnh tranh của người địa phương, cũng như về vốn liếng, kinh nghiệm, luật lệ... Theo Công Ty Phát Hành Người Việt, số những cơ sở kinh doanh người Việt làm chủ trong khu tứ giác gồm các đường Talbert (Nam), Katella (Bắc), Bristol (Đông) và Golden West (Tây), do nhân viên công ty đếm được vào năm 2003 là khoảng 4,000 cơ sở.

SỰ HỘI NHẬP VỀ XĂ HỘI VÀ CHÍNH TRỊ

Sự tiến bộ về kinh tế của những người di dân thường liên quan tới mức độ họ vượt qua được các trở ngại về chính trị, xă hội và ngôn ngữ. Người VN vẫn c̣n phải vượt qua những hàng rào trở ngại này hiện đang cản trở họ đạt được những nguồn tài trợ hay những cơ hội quư báu. Trong số những trở ngại vừa nêu, Anh ngữ vẫn là khó khăn lớn đối với những người sắp trưởng thành và người lớn. Cuộc thống kê năm 1990 đă cho thấy gần một nửa gia đ́nh VN đang bị “cô lập về ngôn ngữ”. Có những gia đ́nh không có người nào tuổi 14 hay cao hơn nói tiếng Anh lưu loát hoặc không có ai chỉ nói tiếng Anh. Cũng theo bảng liệt kê này gia đ́nh nào có người dưới 14 tuổi th́ người đó nói tiếng Anh trôi chảy. Sự giới hạn về Anh ngữ c̣n khiến người ta khó thu đạt được kết quả tốt trong việc huấn luyện chuyên môn hay tay nghề, khó kiếm được việc làm lương cao, và làm giảm đi những cơ hội hội nhập hoàn toàn vào đời sống văn hóa và xă hội của một cộng đồng rộng lớn hơn.

Tiếng Việt vẫn c̣n được dùng rất nhiều trong cộng đồng và tại nhà. Thêm vào đó, trong số những người tự khai là nguồn gốc VN th́ cũng có một số người thuộc các ḍng giống khác qua việc họ nói những ngôn ngữ khác tại nhà. Mặc dầu người ta vốn đă biết có những người Việt gốc Hoa, nhưng sự kiện c̣n những ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt và tiếng Trung Hoa đă được nói tại nhà cho ta thấy rằng c̣n nhiều người VN di dân từ những quốc gia khác đến Hoa Kỳ và có cả một cộng đồng nhỏ bé người Việt tại Puerto Rico.

Theo U.S. CENSUS 2000, Khoảng 57.9% người VN đă trở thành công dân Hoa kỳ, 23.9% ra đời tại đây, một số là do các tiến tŕnh nhập tịch. 63% người Việt ở California đă có quốc tịch Hoa Kỳ.

Một tỉ lệ đáng kể những người VN mới đến chưa có quốc tịch Hoa Kỳ. Tiến tŕnh nhập tịch Hoa Kỳ đ̣i hỏi người ta ít nhất phải là thường trú nhân 5 năm, qua được những cuộc khảo sát Anh ngữ về những kiến thức công dân. Người phối ngẫu của một công dân Hoa Kỳ sẽ được giảm một số hạn chế khi xin nhập tịch Hoa Kỳ, do đó có thể dự đoán rằng trong ṿng ít năm nữa tỉ lệ những người VN là công dân Hoa Kỳ sẽ tăng lên.

Riêng năm bầu cử 2004 là một năm sôi động đối với cộng đồng người Việt ở Quận Cam, vẫn được mệnh danh là Thủ Đô Tỵ Nạn của người Việt Nam. Có hàng chục ứng viên gốc Việt dự tranh các chức vụ dân cử từ Dân Biểu Tiểu Bang đến Ủy Viên các Hội Đồng Giáo Dục các học khu. Người Việt đă thực sự tham dự vào sinh hoạt chính trị của ḍng chíng Hoa Kỳ.