Kho báu của Mark

Mỹ Hằng

Ngôi nhà của bác sĩ Mark Rapoport bên hồ Tây (Hà Nội) giống như một bảo tàng nhỏ. Vượt nửa ṿng trái đất, tạm biệt thành phố New York lớn nhất, ồn ào nhất nước Mỹ, ông đến sống tại Việt Nam bởi 2 điều đam mê: Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hà Nội.

Mark ở Sa Pa.
Ảnh: Tư liệu gia đ́nh.
Người sưu tầm quá khứ

Thăm nhà Mark Rapoport - hay như mọi người gọi thân mật là Mark, là lạc vào một thế giới bí ẩn. Những gùi mây, nơm cá, những mặt nạ gỗ xù x́ đáng sợ, những bức tranh thờ huyền ảo, những cung nỏ, những tấm thổ cẩm sặc sỡ mà nhẫn nại... và vô số những thứ mà người ngoại đạo nh́n vào là chịu không thể đoán là ǵ. Nhà của một ông Mỹ, nhưng lại đầy những món đồ cũ kỹ màu thời gian từ bản làng nào đó ở một vùng núi xa xôi của Việt Nam.

Mark ch́a ra một đôi hộp tre nhỏ màu vàng. Ông mở chiếc hộp h́nh vuông có nắp khum khum: Mặt trong nắp hộp có viết một vài chữ cái. Rồi lại mở chiếc hộp dài như một chiếc xúc xích: "Đây là đôi hộp t́nh yêu của người Nùng. Chàng trai tặng cho cô gái ḿnh thương nhớ đôi hộp này, trong hộp vuông viết những lời nhớ thương, trong hộp dài đựng kim và suốt chỉ. Nếu ưng chàng, cô gái sẽ lấy kim chỉ trong hộp thêu áo tặng lại chàng trai. Chiếc áo bao giờ cũng phải màu đen, trắng hoặc xanh chàm" - Mark giải thích.

Ông lại lấy ra một chiếc áo trắng, những dải nẹp thổ cẩm màu sặc sỡ, và lật bên trong nẹp áo: Lại là những kư tự t́nh yêu. Một phong tục lăng mạn và đẹp. Nghe ông nói, chợt thấy có lỗi - những trầm tích văn hoá dân tộc Việt Nam c̣n quá nhiều mà chính chúng ta nhiều khi cũng không chịu hiểu.

Mark cao lênh khênh, rất nhiệt t́nh, hay chuyện và kể chuyện rất hấp dẫn. Ai hỏi đến bộ sưu tập nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam của ông, ông có thể nói tưng bừng hàng giờ liền, thậm chí có phải vừa nói vừa ... ngáp để rồi lại xin lỗi rối rít v́ đêm qua đă thức quá nhiều để làm công việc nghiên cứu của một ông bác sĩ. "Tôi cố cân bằng, nhưng lúc nào cũng thiếu thời gian." - ông phàn nàn sau cú ngáp. Là bác sĩ, ông từng tham gia xây dựng nghiên cứu chung Mỹ - Việt về hậu quả của chất da cam (mà gần đây đă bị huỷ bỏ). C̣n là nhà sưu tập, th́ ông đă 40 năm nay chuyên sưu tập nghệ thuật dân tộc thiểu số ở Châu Phi và Việt Nam.

Duyên nợ với Việt Nam bắt đầu từ năm 1969, nhưng ông mới thực sự  sưu tập từ 4 năm nay. Và kết quả là, bộ sưu tập của ông th́ có lẽ đến Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng phải ghen tỵ: 15 ngh́n hiện vật! Từ đồ thờ cúng, đồ dùng hàng ngày, các công cụ sản xuất, săn bắn..., từ thứ như cái thang gỗ to hơn cả một người, đến món chỉ nhỏ hơn cả một ngón tay. Mark nói thích sưu tập những đồ vật trong đời thường của người dân, chứ không phải của vua chúa. Phải chăng v́ từng tham dự vào một gia đ́nh nào đó, mỗi đồ vật như có một đời sống riêng, là vật chứng của thời gian, nên  chúng mới tạo nên không gian huyền ảo ở nhà Mark?

Mark nói rằng Việt Nam là thiên đường cho những nhà sưu tập như ông: "Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số. Tôi sưu tập trước hết v́ thích, nhưng c̣n v́ muốn t́m hiểu một nền văn hoá đa dạng". Thế nên Mark đă dành rất nhiều thời gian ngược lên miền núi để t́m hiểu tận cội nguồn của phong tục tập quán, để hiểu món đồ ông mua được là ǵ. Mark bảo, ông đi như thế chủ yếu là "đi học" chứ không phải đi mua đồ, v́ những món đồ ấy đă dần xuống Hà Nội hết rồi. Mark mong ước: "C̣n rất nhiều vùng văn hoá dân tộc ở Việt Nam chưa được khám phá. Giá tôi có thời gian để viết sách, sẽ là cuốn sách từ góc nh́n của một nhà sưu tập. Tôi muốn kể về cuộc sống của những người làm ra một món đồ, họ sử dụng thế nào, tại sao họ lại bán nó. Đó phải chăng v́ họ thay đổi cách làm cũ, hay v́ họ nghèo? Chẳng hạn tôi mua được những đồ hút thuốc phiện của họ, điều đó nói với tôi rằng, ở một vùng nào đó việc xoá cây thuốc phiện đă thành công. Hay v́ mùa màng thất bát mà họ phải bán đi những thứ ấy? Tôi biết Việt Nam đang cố gắng cải thiện điều kiện sống cho người thiểu số, nhưng cũng phải làm thế nào để bảo tồn được bản sắc của họ".

Những chuyến đi kỳ lạ cũng đem lại cho Mark t́nh cảm thân thiết với những người đă làm ra món đồ khiến ông mê thích. Là bác sĩ, nên ông hay mang  thuốc men  đến tặng họ, ông thích  giao lưu, chứ không phải chỉ là cuộc mua bán. "Việc sưu tầm cũng như sự trải nghiệm cuộc sống vậy, mọi người cũng rất vui v́ được giao lưu" - Mark nói. Có một chuyện khá vui. Có lần, ông đến một làng miền ngược. Các bà già ở đó chưa bao giờ có kính lăo, nên họ chẳng thể nh́n rơ điều ǵ. Ông cho họ mượn kính của ḿnh. Ôè, thế giới trở nên sáng sủa! Từ đó, Mark thường gom kính lăo, mà bằng cách nào đó ông kiếm được ở New York với giá chỉ 1 USD một cái, để mỗi chuyến đi, ông lại đem tặng cho các bà già ở vùng núi. Trong nhà ông vẫn c̣n treo ảnh một bà cụ người Dao đeo cái kính ông tặng, nụ cười sáng rỡ trên môi.

Từ Đà Nẵng tới Hà Nội
Mark bắt đầu sưu tầm các đồ của dân tộc ít người Việt Nam từ khi ông đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, làm t́nh nguyện viên cho một bệnh viện ở Đà Nẵng, khi cuộc chiến tranh đang vô cùng khốc liệt. Mark vẫn nhớ rơ tất cả: "Tôi đi khám và phát thuốc cho những người sống trong các làng bản ở vùng núi. Có lần, họ tặng lại tôi một cái gùi nhỏ. Không hiểu của dân tộc nào, chỉ thấy cái gùi thật duyên dáng. Rồi tôi t́m mua thêm một vài thứ nữa. Sau đó trở về Mỹ, tôi t́m đọc sách để hiểu về nó. Đó là lúc tôi bắt đầu vướng vào niềm đam mê nghệ thuật dân tộc thiểu số Việt Nam". Bệnh viện ở Đà Nẵng nơi Mark làm việc bị đánh bom, có một tổ chức ở Mỹ đă mượn Mark một vài thứ trong bộ sưu tập đồ Việt Nam của ông để trưng bày quyên góp tiền xây dựng lại bệnh viện...

Gần 40 năm, Mark vẫn giữ được chiếc gùi đầu tiên cho tới tận bây giờ. Đó là món đồ mà ông quư nhất. Bộ sưu tập dao cắt lúa là thứ ông tự hào không kém trong gia tài của ḿnh. Nh́n chúng, người ta hẳn phải ngỡ ngàng về sự phong phú và sức biểu đạt của nghệ thuật dân tộc. Mỗi chiếc cán gỗ đều là một h́nh cách điệu, nhưng nếu quay ngược lại th́ lại là sự biến hoá thú vị để tượng h́nh theo các cách khác. Con cá có thể hoá thành con voi, con chim có thể hoá thành một dáng người...
Đến giờ, Mark đă đi gần như ṿng quanh thế giới, có lúc ông đă giữ chức Uỷ viên Hội đồng phụ trách y tế thành phố New York. Nhưng rồi ông quyết định dừng chân tại Việt Nam từ năm 2001. "Lúc đó, các món đồ của người thiểu số Việt Nam vẫn chưa được mấy người để ư đến" - Mark hài ḷng. Và bây giờ, ông hoàn toàn có quyền tự hào về bộ sưu tập khổng lồ của ḿnh, phần lớn là đồ của người miền núi phía bắc và cũng có  những món mà ông chưa biết của dân tộc nào, cả những món đồ ông chưa bao giờ thấy đến cái thứ hai.

Nhưng Việt Nam, đối với Mark, không chỉ là bộ sưu tập đặc sắc ông đang có. Mark cũng có thể nói măi về đất nước nơi ông đang sống: "Tôi đam mê tất cả những ǵ là Việt Nam. Tôi đă đi khoảng 73 nước, vợ tôi đă đến khoảng 50 nước. C̣n bọn trẻ nhà tôi th́ h́nh như chúng đă đến khoảng 20-30 nước th́ phải. Nhưng mà chúng tôi chọn ở lại đây lâu dài. Sưu tầm và hợp tác với bảo tàng là một phần thú vị, nhưng tôi chưa gặp ai đă từng đặt chân đến Hà Nội mà không ca ngợi đây là một thành phố tuyệt vời, rằng hăy sớm quay lại hoặc sống hẳn nơi đây. Trong tâm trí của tôi, điều tuyệt vời nhất về Hà Nội là sự đan xen của cuộc sống, là sự giao lưu, tương tác giữa người và người. Ở Mỹ, hay nhiều nơi khác, hết một ngày làm việc, ta hầu như chẳng gặp ai ngoài đường, đó là một cuộc sống biệt lập. C̣n ở Hà Nội, những con đường luôn sôi nổi người qua lại, họ đi mua bán, ngồi uống chè, tán chuyện, trẻ con  đá bóng, cuộc sống tràn ngập. Tôi có thể ở đây 5 năm, nhưng cũng có thể là cả 100 năm nữa".

Thế nên Mark đă cùng với một cộng sự người Việt Nam rất trẻ - chị Nhung, mở một gallery trên phố Hàng Bún. (Có điều, muốn đến thăm gallery của ông th́ nhớ đội mũ bảo hiểm. Đi xe máy đến gặp ông, mà không có mũ bảo hiểm, thể nào ông cũng cho một bài kiểu "Tôi yêu Việt Nam", và thể nào ông cũng nhấn thử phanh xe để kiểm tra). Mark cũng rất mê Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và là người bạn khá thân thiết của bảo tàng. Năm 2003, ông từng mở triển lăm một phần bộ sưu tập của ḿnh ở đây. Mark bảo: Nếu phải trở về Mỹ, tôi sẽ chỉ giữ lại 1/3 bộ sưu tập nghệ thuật Việt Nam cho ḿnh. 1/3 tôi sẽ tặng các bảo tàng ở Mỹ . C̣n 1/3, tôi sẽ tặng các bảo tàng ở Việt Nam.

(Lao động 8/6/2005)