Ông tây "cầu treo"

Nguyễn Bảy


Một ông tây to đùng, đến Bến Tre xắn quần lội śnh, ghi ghi, chép chép ǵ đó rồi mất hút. Bẵng một dạo, đột nhiên ông tây ấy trở lại, mang theo lỉnh kỉnh dây cáp, ống thép và đủ thứ đồ nghề. Lại xắn quần lội śnh, chỉ chỉ, trỏ trỏ, ḥ la í ới. Dân t́nh mới ngộ ra, ông tây tự bỏ tiền giúp dân làm cầu...

Ông Tony Ruttimann
đi chọn chỗ xây cầu.
Tây làm cầu... cho ta
Đó là dạng cầu treo, rất đẹp và lạ hoắc đối với xứ này. Hai bên là 4 trụ thép, cao chừng 10m, nối với nhau bằng dây cáp đồng. Nhịp cầu là những khung cáp hệt như cái xích đu. Lót trên đó những tấm thép dày cộm, bề rộng non 2m, dài nhằng cỡ 50m. Thế là thành một chiếc cầu treo h́nh ṿng cung, ngốn không dưới 300 triệu đồng.

Chuyện ông tây làm cầu, treo lơ lửng qua sông rạch đang rùm beng, rôm rả khắp các vùng nông thôn Bến Tre. Ông tây hơi "lạ đời", một là một, hai là hai, nhất quyết không chịu ch́a tiền cho suôn. Càng không khoái cho cầu bằng dự án ṿng vo Tam quốc. Mà "ăn cây nào, rào cây nấy", làm thử thấy được th́ cho, không th́ xách gói đi nơi khác. Nói theo cách của cánh nhà nông, khi chắc mẻm "ba bó một giạ", ông tây mới... ôkê. Đích thân ông tây đi thực địa, xa cách mấy cũng tới, chọn đúng nơi dân đông, dân khổ, dân bị trần thân v́ cái chuyện đ̣ giang cách trở mới quyết định xây cầu. Có khi cuốc bộ mấy ngày liền, toàn gặm bánh ḿ, uống nước lă, giẫm nát cái chốn khỉ ho c̣ gáy mà không t́m được chỗ ưng bụng. Những đêm trời tối bưng, những cơn mưa nhiệt đới rả rích, nhiều lần làm ông tây úp mặt xuống đường đo ván, lộn nhào xuống sông, ngă sấp lên chạc bập dừa nhọn hoắt, chết giấc mấy phen phải khiêng vào bệnh viện, chỉ v́ cái tội... đi khám điền thổ. Đi đâu, ông tây cũng kè kè chiếc máy tính xách tay "đồ cổ". Nguồn tài sản quư nhất trong đó là những mẫu cầu do chính ông thiết kế. Khi "chấm" chỗ nào, ông tây ngó ngang liếc dọc, khui máy vi tính, nhập các thông số, rồi rà rà, bấm bấm, thiết đi kế lại, "hô biến" thành một chiếc cầu mẫu.

Chiếc cầu đầu tiên "treo" qua sông Tài Phú. Người già, con nít ôm nhau nhảy cà tưng, vui mừng ỏm tỏi v́ thoát kiếp cầu cây, tay vịn. Ông Tám Nách đă ngoài 80, giọng run run: "Thiệt t́nh hồi đầu qua (tôi) sợ. Đứt dây chết như chơi. Mèn ơi, hổng dè dây chằng dây néo vững trân. Trâu cụng (húc) đố mà sập". Rồi chiếc thứ hai "vắt" ngang kênh Mới. Đàn bà, con gái vùng này cũng nhấc cẳng nhảy dựng, reo cười híp mắt tống tiễn cây cầu khỉ, bao đời cùng họ lắt lẻo, gập ghềnh. Ngày cầu xây xong, tây - ta xí xô xí xào, vui như ngày thông xe cầu dây văng Mỹ Thuận xuống miệt Cần Thơ. Bỗng ông tây giơ hai bàn tay, gật gật ra dấu: "Quénty, quénty" (tức là twenty - hai mươi, theo tiếng Anh). Dân ngơ ngác, rồi vỗ tay cái rần, khi biết được ông tây không phải cho 2 mà là 20. Cứ lấy 300 triệu nhân lên, vị chi ngót nghét 6 tỉ đồng. Tỉnh hoan hô ông tây, chi cái "rụp" 500 triệu đồng, coi như gồng với ông tây mua thép. Ông tây vui, trước lối ứng xử nghèo mà "chơi đẹp" của các quan đầu tỉnh Bến Tre. Càng vui hơn v́ xưa nay, dân xứ dừa xây cầu theo lệ "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Nay "biến tấu" đẻ thêm kiểu mới "tây và ta cùng làm".

Thế là những cuộc về nước của ông tây thưa dần, tiếp tục ở lại đi "khám điền thổ", bù đầu bù cổ chọn điểm xây cầu. Vật liệu ông tây đưa sang từ các nước, được tỉnh cho hẳn một công ty đứng ra nhập ủy thác, xin miễn tất tần tật mọi phí hải quan, nhập cảng, lưu kho, lưu băi. Chỉ riêng thép và cáp xây 20 cầu cũng đă lên đến 118 tấn. Tỉnh cũng đă "tiến cử" một giàn kỹ sư giỏi, thợ hàn bậc xịn và một đội quân xe tải, sà lan, cần cẩu hùng mạnh, sẵn sàng "tác chiến" khi ông tây cần. Ngày nào cũng vậy, ông tây nằm trườn trên chiếc xe đạp, vắt bên hông cái "bản đồ xứ dừa" rối như mạng nhện, co cẳng đạp đến công trường, "hát" rất nhiều vai: Nhà thầu xây dựng, kiến trúc thiết kế,  phụ hồ, lao công, tạp vụ...

"Mối t́nh" của ông tây với người dân xứ này mỗi ngày càng sâu nặng. Vừa treo xong cầu Tài Phú, Kênh Mới, đến lượt cầu B́nh Phú, Phú Trạch, lại nối cáp hoàn chỉnh cầu Dứa, cầu Bến Xoài. Rồi cầu An Thuận, cầu Kênh Sáng, cầu Rạch Heo, cầu Quư Lợi lần lượt được "hợp long". Thật bất ngờ, khi "quénty" (hai mươi) chiếc cầu chưa kịp treo xong, ông tây lại vỗ vai vị lănh đạo đầu tỉnh bằng một tràng tiếng Anh dài thọng: "Tôi sẽ xây cho các bạn 30 cầu treo nữa". Không biết rồi đây, đất và người Bến Tre c̣n làm cho ông tây thực hiện bao nhiêu phép cộng để lũy tiến cái chuyện làm cầu, nhưng chắc chắn một điều là đến cuối năm nay, 50 chiếc cầu với tổng số tiền khoảng 15 tỉ đồng sẽ được treo lủng lẳng, nối những triền sông cách trở như những chiếc "đèn lồng" của ngày hội hoa đăng trên đất dừa chằng chịt đ̣ giang.

Xây cầu... liên lục địa
Trước khi đến Bến Tre, ông tây đă đi ṿng quanh thế giới, bỏ tiền ra làm cầu từ thiện cho cả 10 quốc gia khắp các châu lục như: Ecuador, Mexico, Colombia, Nicaragua, Myanmar, Campuchia,... Từ trời Âu xa tít, quê ông cũng có những khúc sông quanh co, những ngọn đồi cheo leo gió hú. Có lẽ v́ vậy, ông tây thấu hiểu nỗi vất vả của người dân nghèo trong cái cảnh cầu tre lắt lẻo, qua sông lụy đ̣. Để rồi, ông tây quyết ḷng rời Tây, dặm trường viễn xứ như một kẻ lữ hành, đi bắc những nhịp cầu cho dân nghèo khắp bốn phương trời. Khi th́ kéo cáp ở Nam Mỹ nắng cháy, quê hương của vũ điệu Lambada quay cuồng. Lúc th́ dựng trụ ở miền cận xích đạo, thủ phủ của những cuộc chính biến dậy sóng. Vừa nghịch ngợm với chiếc nón rơm truyền thống Ecuador, thoắt cái, ông tây trở thành nông dân Khmer trong chiếc kramas sọc đỏ, rồi "Việt Nam hoá" bởi chiếc nón lá rộng vành,... Xây xong cho nơi này, ông tây lại đi xây cầu cho nơi khác. Hàng ngàn tấn cáp đă theo ông nối sông liền sông, bến liền bến, treo gần 300 chiếc cầu hữu nghị không phân biệt sắc tộc, màu da.

Những ngày làm cầu trên đất nước Ăngko chùa tháp, ông được nghe kể về Việt Nam, về những người lính t́nh nguyện đi chiến trường K đằng đẵng mười năm máu lửa, giúp Campuchia thoát khỏi thảm hoạ diệt chủng do bọn Pol-Pot gây ra trên đất nước này. Thế là từ xứ Nam Vang, ông tây làm cuộc hành tŕnh đến Việt Nam, quyết dựng cầu trên đất Chín Rồng cuồn cuộn phù sa. Điểm dừng chân đầu tiên là quê hương ngàn sen Đồng Tháp, "treo" nơi ấy 3 chiếc cầu, rồi xuôi sông Tiền về đảo dừa Bến Tre. Nơi mà ông được biết qua phóng viên Peter Amett của Hăng Associated Press về cuộc nổi dậy "sinh tử" chống Mỹ của hàng triệu dân t́nh, về đội quân toàn đàn bà - "đội quân tóc dài" cuồn cuộn thác lũ đi đấu tranh chính trị, đánh giặc bằng súng bập dừa.

Đang xây cầu ở Bến Tre, nhưng ông tây luôn bận rộn với những mẫu cầu, cấu kiện dành cho dân nghèo phía bên kia trái đất. Ban ngày, ông cùng người dân Việt Nam xây cầu. Tối đến, hướng về phía nửa địa cầu xa thẳm nào đó, ông tây lại thức trắng để điều hành lắp cáp, dựng trụ, xây cầu... qua mạng. Rồi bù đầu v́ những công việc chuẩn bị nhập cáp từ Houston, Texas đến Việt Nam, đặt mua ống thép từ Bangkok chuyển đến Honduras, kiểm tra tiến độ xây cầu tại Campuchia... Có những khoảnh khắc trống vắng hiếm hoi, ông tây mới buông lời tự sự: "Tôi sinh ra là để xây cầu. Nơi nào cần, tôi sẽ tới. Tôi yêu công việc của ḿnh, nó như mặt trời không bao giờ lặn".

Ông tây ở nhà trọ
Tên ông là Tony Ruttimann - quốc tịch Thụy Sĩ. Ông không phải là kỹ sư cầu đường, không phải là nhà khoa học, cũng chẳng có bằng cấp chi cả, mà chỉ là người dân b́nh thường, đúng hơn là một nhà từ thiện. Trong những cuộc tán gẫu cùng bạn bè, người thân trên mạng, ông tự nhận ḿnh là Bridgebuilder (người xây cầu). Tony đến Việt Nam làm cầu qua sự giới thiệu của Đại sứ nước ta tại Phnom Penh (Campuchia). Trong con mắt của nhiều người, Tony là người của giới b́nh dân. Tony chuộng lối sống b́nh dị, hoà đồng và thân thiện. Một lần đi khảo sát địa điểm xây cầu ở Hương Mỹ (Bến Tre), người dân hiếu khách đón mừng, tổ chức tiệc tùng thết đăi, Tony tỏ ư không vui. Soạn cho Tony một chỗ nghỉ khách sạn, "ông ngoại quốc" lại nằng nặc đ̣i ở nhà trọ... dạng bèo. Tony nói: "Làm từ thiện không nên phung phí". Cho nên, khi xây cầu ở những vùng nông thôn hẻo lánh, dân ăn ǵ, ông ăn nấy. Củ khoai, trái dừa, khúc mía..., không chê thứ ǵ. Dân đ̣i đặt tên những chiếc cầu do ông làm là "cầu Tony", ông khoát tay lia lịa: "Cầu của mọi người. Tiền tôi giúp các bạn cũng là đi vận động người ta".

.....................

Báo Lao Động 4/6/2005