Tính danh học Việt Nam: Tên Chính

 
VietCatholic News (Thứ Bẩy 22/1/2005)

CHƯƠNG BỐN : TÊN CHÍNH

Tên người Việt Nam, Trung Quốc, Đại Hàn, Hung Gia Lợi có công thức: Tên Họ + Tên Đệm + Tên Chính. Ngược lại thứ tự trên, hầu hết tên người tây phương có công thức: Tên Chính + Tên Đệm + Tên Họ. Về danh từ chỉ tên này, các nhà ngữ học và tính danh học, cả Âu lẫn Á, chưa có danh từ thống nhất. Ở Việt Nam học giả Nguyễn Bạt Tụy gọi là tên đẻ, giáo sư Hà Mai Phương gọi là tên tục, học giả Trịnh Huy Tiến gọi là tên riêng, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm gọi là tên riêng, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy gọi là tên chính. Tiến sĩ Lê Trung Hoa gọi là tên chính. Chúng tôi gọi là tên chính v́ hai lư do: một là v́ loại tên này ai cũng phải có và được sử dụng nhiều nhất, hai là để phân biệt với các tên như tên đệm, tên hiệu, tên tục, tên cúng cơm, tên hèm, tên thụy v.v…là các tên phụ thuộc, không phải ai cũng có.

Với Anh ngữ, ta có ba từ chỉ tên chính: Baptismal Name: tên rửa tội, Christian Name: tên Kitô Giáo, Forename: tên đứng trước. Tại Bắc Mỹ, người ta dùng First Name: tên thứ nhất, Given Name: tên đặt. Đôi khi người ta dùng từ Personal Name: tên cá nhân, Proper Names: tên riêng. Tất cả các từ ấy chỉ có nghĩa là tên chính.

Thời sơ khai con người đặt tên thế nào?

Trước khi t́m hiểu tên chính người Việt Nam, ta cần biết khi mới xuất hiện trên trái đất con người đă đặt tên thế nào để chỉ cá nhân? Câu hỏi này chưa có câu trả lời chính xác v́ không có chứng tích khảo cổ. Nhưng, theo sự suy đoán của giáo sư Elsdon Smith, khi loài người chưa biết đến hệ thống tên, th́ để gọi một cá nhân, người ta bắt chước giọng nói cao thấp của người ấy. Đó là h́nh thức tên đầu tiên của nhân loại. Thế rồi, khi bắt đầu biết cách đặt tên, người ta áp dụng nguyên tắc dựa vào những đặc điểm tính t́nh, thân xác, nghề nghiệp, ước vọng của cha mẹ, hoặc môi trường chung quanh để đặt tên cho cá nhân. Đó là lư thuyết được các nhà tính danh học chấp nhận. Lư thuyết này có thể kiểm chứng qua các tên trong kinh thánh của Do Thái Giáo. Cuốn sách cổ nhất của Do Thái Giáo là Sáng Thế Kư được viết vào thế kỷ thứ 13 trước công nguyên. Hăy nêu ra một số tên trong quyển kinh này để chứng nghiệm cho lư thuyết trên:

Tên dựa trên đặc điểm thân xác: Amri: Lưu loát, Asar: vui vẻ, Geddel: to cao, Laban: trắng, Edom: đỏ, Azbai: lùn. Noemi: đẹp. Ozni: tai to.

Dựa trên đặc điểm tính t́nh: Doeg: lo âu, Dalila: thương cảm, Ruth: thân thiết, Noe: di động, Eve: mẹ của sự sống, Nahum: người an ủi, Job: bị hất hủi.

Dựa trên ước vọng của cha mẹ: Abraham: cha các dân tộc, Joshua: Chúa là ơn cứu độ, Moses: người cứu thoát.

Dựa trên môi trường: Adam: đất sét, Oren: cây thông, Susan: bông huệ, Jonas: bồ câu, Elas: cây sồi, Sephora: chim nhỏ, Debora: con ong, Samson: mặt trời

Dựa trên nghề nghiệp: Obed: nô tỳ, Amon: người xây cất, Berzellai: thợ khóa, Somer: người trông coi.

Áp dụng lư thuyết trên, ta t́m hiểu tên chính người Việt Nam. Chương này gồm ba mục: Mục một, nghiên cứu tên chính người Việt Nam. Mục hai, nghiên cứu tên chính người tây phương. Mục ba, so sánh tên chính người tây phương và Việt Nam.

MỤC I : TÊN CHÍNH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Trong mục này, tên chính người Việt được lần lượt nghiên cứu qua 5 tiết: (a) phân loại tên chính, (b) những h́nh thức tên chính, (c) các tục lệ khi đặt tên chính, (d) nguyên tắc chọn tên chính, (e) sự biến đổi tên chính.

TIẾT A. PHÂN LOẠI TÊN CHÍNH

Nếu tên họ của người Việt Nam có khoảng trên dưới 1000, th́ tên chính, theo nguyên tắc, lại có rất nhiều, và việc thực hiện một quyển từ điển để giải thích ư nghĩa các tên chính như các nước tây phương đă làm, là điều không cần thiết, v́ tên người Việt Nam cũng như Trung Quốc thuộc ngôn ngữ thông thường. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ, tên chính của người Việt Nam có thể chia làm 3 loại: gốc Hán Việt, gốc Nôm, gốc tây phương.

1. Tên Từ Gốc Hán Việt: Đại đa số tên chính của người Việt Nam đều lấy từ gốc Hán Việt. Xét về phương diện phát âm, tên loại này nghe ‘‘kêu’’hơn các từ Nôm. Tên Nguyễn Trung Trực nghe hay hơn tên Nguyễn Văn Rồi. Nếu xét về phương diện ư nghĩa, tên Hán Việt thường được cấu tạo bằng hai từ: một để làm tên đệm, một để làm tên chính. Hai từ đó hợp lại có ư nghĩa rộng hơn, hoa mỹ hơn. Do vậy, tên chính lấy từ nguồn gốc Hán Việt rất phù hợp cho việc đặt tên người Việt Nam. Ví dụ Lê Vĩnh Phú (giàu có muôn đời), Nguyễn Thị Bạch Tuyết (trong trắng như tuyết), Vũ Hoài An (mong được an b́nh).

2. Tên Từ Gốc Nôm: Nếu tên chính lấy từ gốc Hán Việt có vẻ văn chương, hoa mỹ bao nhiêu, th́ tên từ gốc Nôm có vẻ mộc mạc bấy nhiêu. Tên gốc Nôm thường được các gia đ́nh ở nông thôn, ít học, đặt cho con cái. Các tên như Bông, Rồi, Vui, Cười, Lây, Há, Đực, Tí, C̣ v.v…đă làm nhiều cô cậu băn khoăn, khó chịu về cái tên của ḿnh, nhất là khi cô cậu lại lên thành thị sinh sống.

3. Tên Từ Gốc Tây Phương: Từ khi Pháp đặt xong nền đô hộ tại Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, một số gia đ́nh có liên hệ mật thiết với Pháp đă đặt tên con bằng những tên Pháp. Hiện tượng này thấy xuất hiện tại Sàig̣n nhiều hơn các nơi khác, v́ theo thỏa ước với triều đ́nh Nguyễn, miền Nam theo quy chế thuộc địa, c̣n Trung và Bắc theo quy chế bảo hộ. Trong danh sách thí sinh Tú Tài tại thành phố Sàig̣n trước 1975, người ta thấy những tên như Trần Văn Pierre, Lê Văn Paul, Trần Thị Paulette, Nguyễn Thị Suzanne. Sau 30 tháng Tư năm 1975, gần hai triệu người bỏ nước ra đi. Họ sống tản mát khắp nơi, hầu hết ở Hoa Kỳ và các nước Âu Châu. Những người này khi nhập quốc tịch, thường lấy tên mới phù hợp với ngôn ngữ và phong tục của quốc gia họ cư trú. Việc lấy tên mới thiết tưởng là cần thiết v́ người bản xứ không gặp trở ngại khi xưng hô, giúp cho công việc làm ăn giao dịch dễ dàng, và đôi khi tránh bớt được cảnh bị kỳ thị chủng tộc.

Việc đổi sang tên Mỹ không bó buộc, nhưng đôi khi cần thiết v́ một vài tên Việt đồng âm hay đồng dạng với từ Anh ngữ có ư nghĩa xấu. Ví dụ rất nhiều người Việt có tên Dung, Dũng, Dụng. Các tên này hay đối với người Việt, nhưng khi viết trên giấy tờ ở nước ngoài, Dũng, Dụng đều phải bỏ dấu ngă hay nặng đi, thành Dung hết. Tiếng Dung của Việt ngữ có tự dạng giống hệt từ Dung của Anh ngữ và có nghĩa là phân trâu hay phân ḅ. Từ ngữ Đinh hay Định trong tiếng Việt đồng âm với từ Ding của Anh ngữ có nghĩa là được rải phân. Các tên như Phúc, Phục, Phát, Pháp cũng giống trường hợp tên Dũng hay Dung v́ tên Phúc đồng âm với một từ Anh ngữ có ư nghĩa rất tục tĩu và khiếm nhă. Một thí dụ điển h́nh khác là tên Bích. Đối với Việt Nam, tên này thường đặt cho phụ nữ v́ ư nghĩa hay và đẹp, như Bích Vân, Bích Ngọc, Bích Mai, Xuân Bích, Ngọc Bích. Nhưng đối với những người nói tiếng Anh, tên Bích phát âm gần giống chữ Bitch. Chữ này có toàn nghĩa xấu và áp dụng cho nữ giới. Bitch nghĩa là chó cái, chồn cái, con mụ nanh ác, con mụ lẳng lơ dâm đăng, con mụ phản trắc. Người Hoa Kỳ chửi ai là “đồ chó đẻ”, họ nói “Son of a bitch”. Người bạn chúng tôi có cô con gái tên Bích nằm trong bệnh viện, giới chức hành chánh đă cẩn thận treo bảng với hàng chữ đỏ: Name Alert nghĩa là hăy cẩn thận để nhắc nhở y tá, bác sĩ phải rất cẩn thận khi gọi tên, tránh sự xúc phạm. Thay v́ phát âm đúng tên Bích, họ đă gọi cô Bích là cô Bai hay cô Bi.

Người Việt đổi sang tên Mỹ đôi khi cũng gặp chuyên rắc rối. Ví dụ người họ Vũ nào đó lấy tên là Robert Vũ. Với người Hoa Kỳ, tên này b́nh thường và đọc là Bob Vu v́ Robert được gọi tắt là Bob. Đối với người Việt tên Bob Vũ nghe không được lịch sự cho lắm v́ từ Bob được phát âm là Bóp. Người có tên Bob Vu chắc chắn phải ngượng ngùng lắm khi có người gọi tên ḿnh.

Ngoài ra, các tên Việt Nam ở nước ngoài phải viết đảo ngược thứ tự cho hợp phong tục, nên cũng sinh lắm chuyện rắc rối. Ví dụ ông Trần Từ Thiện viết đảo ngược thành ông Thiện Từ Trần, cô Tô Mộng Lan viết đảo ngược và bỏ dấu thành Lan Mong To, anh Phạm Vi thành Vi Pham, anh Phạm Tùng thành Tung Pham.

TIẾT B: NHỮNG H̀NH THỨC TÊN CHÍNH

Đọc tên các danh nhân lịch sử đến tên người Việt Nam hiện nay, người ta thấy có sự tiến hóa về phương diện h́nh thức. Thoạt đầu, từ thời Hùng Vương đến thế kỷ thứ 6, hầu hết tên các nhân vật lịch sử chỉ có tên họ và tên chính. Sau thế kỷ thứ 6, đa số tên người Việt có ba tiếng gồm tên họ, tên đệm, và tên chính. Đến thế kỷ 19, trong hoàng tộc nhà Nguyễn thấy xuất hiện tên 4 từ ngữ: Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị. Ngày nay, cả tên đàn ông lẫn tên đàn bà đang có khuynh hướng trở thành 4 từ ngữ. Sang đầu thế kỷ 21, chúng tôi đă đọc thấy tên 5 từ ngữ Nguyễn Hoàng Gia Anh Quốc trên bia mộ của một em bé tại San Jose, California. Để thấy sự tiến hóa tên chính, chúng ta nghiên cứu vấn đề trên phương diện h́nh thức ngôn ngữ và giống tính.

1. Tên Chính Xét Theo Phương Diện H́nh Thức: Tên chính có hai loại, tên đơn và tên kép. Tên đơn là tên có một từ ngữ như Lê Lợi, Phạm Quỳnh. Tên kép là tên được cấu tạo bằng 2 hay 3 từ ngữ để diễn tả một ư nghĩa. Ví dụ:

Tên hai chữ: Nguyễn Bạt Tụy.

Tên ba chữ: Đinh Quang Anh Thái

Tên bốn chữ: Nguyễn Hoàng Gia Anh Quốc.

Biết tên nào đơn hay kép là vấn đề khó. Hăy nêu một thí dụ ông Nguyễn Thành Công. Nếu tên đệm Thành được truyền từ đời này sang đời nọ th́ chữ Thành phải đi với tên họ Nguyễn để chỉ ḍng họ Nguyễn Thành. Ngược lại, nếu tên đệm Thành không được cha truyền con nối th́ chữ Thành phải đi với tên chính thành tên kép: Thành Công.

2. Tên Chính Xét Theo Phương Diện Giống Tính: Tên chính người Việt được chia làm hai loại. Tên đàn ông và tên đàn bà. Lối phân loại này, nếu áp dụng cho người tây phương như Hoa Kỳ chẳng hạn, sẽ khá chính xác v́ tên đàn ông hầu như khác hẳn tên đàn bà. Nhưng, đối với người Việt, lối phân loại này chỉ có giá trị tương đối, v́ không phải đọc bất cứ tên nào, ta cũng phân biệt được đó là đàn ông hay đàn bà. Ví dụ tên Quỳnh, Kiên, Ḥa, Hiền, Phương, Thủy có thể là tên của cả đàn ông lẫn đàn bà. Tuy nhiên, v́ kiểu thức chọn tên đàn ông khác đàn bà nên người ta cũng có thể đoán đúng được đến 70% tên nào chỉ đàn bà, tên nào chỉ đàn ông.

a. Tên đàn bà: Đọc lịch sử Việt nam, người ta thấy khi xưa đàn bà chỉ có tên đơn, Trưng Trắc, Trưng Nhị. Măi đến thế kỷ 10 đời nhà Đinh mới thấy xuất hiện tên kép. Công Chúa Minh Châu con của vua Đinh Tiên Hoàng. Ngày nay, muốn tên con gái được bóng bảy, các bậc cha mẹ có khuynh hướng đặt tên kép cho con. Các nhà hộ sinh tại thành phố Sàig̣n trước năm 1975, tặng các sản phụ sách dậy nuôi con, trong đó đề nghị một số tên để đặt cho trẻ sơ sinh. Tất cả 150 tên đề nghị đều là tên kép. Dù đơn hay kép, tên phụ nữ thường được chọn trong các nhóm sau:

-Tên loài hoa và cây có dáng điệu dịu dàng: Mai, Lan, Cúc, Hoa, Hương, Quỳnh, Tiên, Cúc, Huệ, Liên, Liễu, Hồng,

-Tên loài chim đẹp có tiếng hót hay: Yến, Anh, Oanh, Phượng, Loan, Mi, Nhạn, Ca (sơn ca).

-Tên loài đá quư: Bích, Ngọc, Trân, Châu, Kim.

-Tên loại vải quư: Nhung, Gấm, Là, Lụa, Lượt, The, Vóc.

-Từ ngữ chỉ đức tính công, dung, ngôn, hạnh: Hạnh, Thảo, Hiền, Dung, Tuyết.

-Từ ngữ có âm thanh nhẹ nhàng, có ư nghĩa hoa mỹ: Vân,Thúy, Diễm, Lệ, Nguyệt, Trang, Huyền.

Đại khái, có thể xếp nhiều nhóm, từ những tên thanh cao bóng bảy, đến những tên nghe mộc mạc b́nh thường. Tuy nhiên, nguyên tắc tổng quát là khi đặt tên cho con gái, người ta bao giờ cũng chọn tiếng thanh tao, nhẹ nhàng. Thật khó mà gặp được các cô chưa chồng có tên là Tạ, Tấn, Sức, Cường, Hùng.

b. Tên đàn ông: Đọc trong lịch sử, đàn ông có tên kép rất sớm. Bên cạnh một Lư Tiến, Lư Cầm, người ta đă thấy một Triệu Quang Phục, Lư Ông Trọng. Nếu nguyên tắc chọn tên đàn bà là chọn tiếng thanh tao nhẹ nhàng, th́ tên đàn ông lại được chọn trong các tiếng biểu lộ được sự hùng dũng về thể xác lẫn tinh thần. Tên đàn ông thường được chọn trong các nhóm sau đây:

-Tiếng chỉ sức mạnh : Cương, Cường, Hùng, Tráng, Dũng.

-Tiếng chỉ trí tuệ: Thông, Minh, Trí, Tuệ, Sáng, Hoài, Vọng.

-Tiếng chỉ đức hạnh: Nhân, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Công,

-Tiếng chỉ tiền tài danh vọng: Phú, Quư, Kim, Tài, Danh.

V́ dân gian thường chọn tên trong các nhóm kể trên, nên một danh sách 50 người Việt nam, thế nào cũng có ít nhất hai người trùng tên.

TIẾT C: CÁC TỤC LỆ KHI ĐẶT TÊN CHÍNH.

Đời sống người Việt Nam lúc nào cũng thấm nhuần tinh thần tôn giáo, bàng bạc ḷng mê tín dị đoan, và bị ràng buộc bởi muôn ngh́n điều kiêng kỵ. Đời sống siêu h́nh ấy được thể hiện rất rơ trong các tục lệ đặt tên. Có 5 tục lệ khi đặt tên chính: (1) Đặt tên muộn, (2) Đặt tên xấu, (3) Ghét ai đặt tên người ấy, (4) Các điều kiêng kỵ khi đặt tên chính, (5) Đặt hai tên.

1. Đặt Tên Muộn: Ngày xưa, khi gia đ́nh có trẻ sơ sinh, luật pháp cũng như tục lệ không bó buộc phải khai sinh ngay. Người ta chỉ gọi đứa bé bằng một tên rất chung như con trai gọi là thằng C̣, thằng Cu. Con gái gọi cái Đỏ, con Hĩm, Cái Tít. Trường hợp đặt tên muộn được chứng minh qua câu ca dao:

Hỡi thằng cu lớn, hỡi thằng cu Bé, cu Tí, cu Tị, cu Tỉ ơi!

Con dậy con ăn cơm với ông, để mẹ lấy chồng kiếm chút em con
.

Tại sao dân ta lại chọn các tên xấu và có ư nghĩa chung chung như thế? Để trả lời câu hỏi này thiết tưởng ta cần biết tục lệ đặt tên xấu.

2. Đặt Tên Xấu: Tục lệ đặt tên xấu đă được tŕnh bày trong chương một, mục hai, tiết một với tiêu đề Tên Tục. Ở đây, xin tóm lược để độc giả tiện việc theo dơi. Một khi người Việt cần đặt tên rơ ràng cho trẻ sơ sinh, họ thường chọn tên thật xấu, đôi khi có ư nghĩa dơ dáy tục tĩu. Tục lệ này phát xuất từ sự mê tín dị đoan, cho rằng trẻ sơ sinh chết nhiều v́ tà ma thích bắt những đứa trẻ đẹp. V́ vậy, họ tránh tên đẹp và không thích ai khen con họ đẹp. Dụng ư để tà ma tưởng lầm là đứa bé xấu, không đáng bắt. Các tên thường được dân gian chọn là Bùn, Sẹo, Muông, Cầy, Chó, Vện. Trường hợp gia đ́nh đẻ nhiều con mà bị chết yểu cả th́ đứa con mới sinh được đặt là Xin, với ư nghĩa đây là đứa con đi xin về nuôi, hoặc đây là đứa con của người ăn xin, ăn mày.

Các tên xấu thường được lấy trong các nhóm từ ngữ sau đây:

- Các từ ngữ chỉ khuyết tật: Lùn, Lé, Trọc, Hí, Mập, Tẹt, Tũn, Giồ.

- Các từ ngữ chỉ tính t́nh xấu: Ngáo, Ngơ, Dại, Khùng.

- Các từ ngữ chỉ giống vật: Cún, Vện, Khoang, Tí, Bê, Ḅ.

- Các từ ngữ chỉ thảo mộc: Mít, Bưởi, Chanh, Cam, Ổi.

- Các từ ngữ chỉ vật liệu nhà: Cột, Kèo, Tranh, Gạch, Bùn.

Ngoài việc đặt tên xấu v́ mê tín dị đoan, người ta c̣n thấy các gia đ́nh quyền quư ngày xưa có tục dùng những từ bóng bảy, đẹp đẽ để đặt tên cho con ruột, con đẻ, nhưng dùng từ xấu xa đặt tên cho con ăn, người ở hay nô t́ trong gia đ́nh. Mục đích để khách biết ai là con đẻ, con nuôi. Tục lệ này c̣n thấy chứng tích nơi tên hai nhân vật lịch sử hồi kháng chiến Nguyên Mông đó là Dă Tượng và Yết Kiêu. Đại Việt Sử Kư Toàn Thư ghi như sau:

Hưng Đạo Vương có hai người nô tên là Dă Tượng và Yết Kiêu. Dă tượng nghĩa là voi rừng; Yết Kiêu là tên loài chó mơm ngắn. Dùng tên thú vật đặt tên cho con người nói lên cái địa vị làm nô thấp kép của họ

Tục lệ đặt tên xấu không chỉ có trong xă hội Việt Nam mà thấy có nhiều nơi trên thế giới như Trung Quốc, Đại Hàn, Hy Lạp, La Mă, Phi Châu. Những tên có ư nghĩa chung chung, và xấu chưa phải là tên chính thức. Đến khoảng 5, 3 tuổi người ta mới đặt tên chính thức cho con và lúc này lại bị ràng buộc bởi một số tục lệ khác, trong đó có tục ghét ai đặt tên người ấy.

3. Ghét Ai Đặt Tên Người Ấy: Tại Âu Mỹ, kính trọng ai, cảm phục ai, người ta lấy tên người ấy để đặt cho con. Hai cô con gái song sinh của Tổng Thống Bush một cô tên là Barbara Bush, cô kia là Jenna Bush. Barbara là tên của bà nội. Nhiều người tây phương v́ kính trọng Chúa và Đức Mẹ Maria nên lấy tên Jesus hay Maria làm tên chính.

Trái lại, tại Việt Nam, cha mẹ ghét ai, người hàng xóm chẳng hạn, cứ lấy ngay cái tên ông bà đó, hoặc thâm hiểm hơn, lấy tên ông bà, cha mẹ của người đó mà đặt cho con. Rồi, khi biết người ḿnh không ưa đang quanh quẩn gần nhà, th́ cứ réo gọi tên con ḿnh mà chửi. Chiến thuật giận cá chém thớt làm cho địch thủ vô cùng ấm ức. Nhà văn Nguyễn Công Hoan đă mô tả hiện tượng xă hội này :

Vợ chồng đang dở câu chuyện, bỗng bên hàng xóm có tiếng bác Trương Thi gái mắng con:

Thằng Yểng hư thật. Mày coi t́m xem nó ở đâu không. Ban sáng nó vừa lảng vảng ở đây mà.

Bác Trương trai ồ ồ nói:

-Tao thấy nó chui qua hàng rào nhà bác Pha ấy.

Bác Trương Gái gái lại the thé:

-Thế th́ sang mà t́m, thấy đứa nào ăn cắp, đem mà đào mả bố nó lên.

Pha bị nói cạnh, bỗng nảy ra một ư kiến:

-Bu nó ạ! Phải rồi.

Rồi anh nói thầm.

Chị Pha cau mặt.

-Cái ǵ? Th́ nói to lên nào.

-Tôi nghĩ ra tên thằng cu rồi.

-Tên là ǵ?

-Đặt tên nó là Bạch.

- Sao lại Bạch?

-Th́ nhé, Trương Thi đặt tên con nó là Yểng, tội ǵ ḿnh không gọi tên con ḿnh là Bạch.

-Thế tên bố nó là Bạch à?

Pha vênh váo đáp:

-Ừ, ừ chỗ hàng xóm với nhau mà nó đi lấy tên bố ḿnh để đặt cho con nó, th́ tội ǵ ḿnh không báo thù? Không th́ làng nước lại bảo ḿnh chịu lép
.

Khi đặt tên con, nhiều người đă vô ư đặt trùng tên người bà con, hoặc tên người hàng xóm nên đă sinh ra chuyện bất ḥa, có khi đưa đến chuyện tuyệt giao. Do căn nguyên này mà có những điều kiêng kỵ khi đặt tên chính.

4. Những Điều Kiêng Kỵ Khi Đặt Tên Chính: Khi đặt tên chính cho con, phải tuyệt đối tránh tên ông tổ họ nội, họ ngoại, ông bà cha mẹ và tất cả những người trong gia tộc, những người cùng làng cùng xóm, kể cả tên vị thành hoàng làng xă. V́ phải tránh nhiều như vậy, nên vợ chồng mới cưới thường có tục bế con đầu ḷng đến trước mặt ông bà xin đặt tên cho con. Tục lệ này vừa để tỏ ḷng tôn kính bố mẹ, vừa tránh được những tên của họ hàng mà vợ chồng trẻ mới lấy nhau chưa biết. Tuy nhiên, về địa danh, ta thấy dân gian đi ngược lại tục kỵ húy là lấy tên người đặt cho một số vị trí. Ví dụ chung quanh thành phố Sàig̣n, ta thấy các địa danh: Chợ Ông Tạ, Chợ Bà Chiểu, Chợ Bà Hom, Cống Bà Xếp, Ngă Ba Chú Ía, Bà Quẹo, Bà Rịa, Lái Thiêu, Bà Om (ở Trà Vinh), Cầu Ông Th́n, Giồng Ông Tố. Qua các địa danh trên, ta thấy toàn là các nơi nhỏ hẹp, và người được lấy tên là những người cư ngụ ở đó, thuộc giai cấp thấp trong xă hội. Trái lại, do ảnh hưởng của văn hóa tây phương, ngày nay, người ta lấy tên các vị vua chúa, danh nhân lịch sử, anh hùng dân tộc để đặt tên cho các đường phố, coi đó không phải là điều kiêng kỵ nữa.

Ngày xưa, những nhà học thức, khi đặt tên cho con, c̣n tránh cả những tên trùng hợp với địa danh. Các gia đ́nh nho phong lễ giáo kiêng đặt tên con gái bằng những từ ngữ gợi lên ư nghĩa lả lơi, dâm đăng. Họ thường tránh các tiếng như Sương, Hoa, Nguyệt v́ các từ này được hiểu một cách khắt khe là tà dâm. Ví dụ để chỉ một cô gái điếm, người ta dùng từ “gái ăn sương". C̣n từ Hoa, Nguyệt đă được ca dao giải thích ư nghĩa như sau:

Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng!

Tuổi tôi c̣n bé chưa từng nguyệt hoa,

Tôi về gọi chị tôi ra,

Chị tôi đă lớn, nguyệt hoa đă từng.


Các tên như Sen, Nhài, Nụ cũng bị các gia đ́nh kiểu cách không dùng đến v́ các tiếng đó thường là tên các cô gái đi ở đợ cho các gia đ́nh giàu sang, phú quư.

5. Đặt Hai Tên: Ngoài việc đặt tên xấu để tránh tà ma, người Việt Nam xưa c̣n có tục đặt thêm tên thứ hai, hoặc thứ ba. Ví dụ vua Quang Trung Nguyễn Huệ có tên là Thơm, là B́nh. Vua Trần Thái Tông có tên là Cảnh, là Bồ. Có hai nguyên nhân giải thích tục lệ này.

Thứ nhất để tránh tên húy. Tên thứ nhất hay tên chính được gọi là tên húy. Giới trí thức thời xưa dùng tên tự để tránh tên húy. C̣n trong dân gian, v́ nguyên tắc đặt tên tự phức tạp nên người ta đặt tên thứ hai để tránh tên húy. Tên thứ hai không có giá trị về mặt hành chánh v́ chỉ dùng để xưng hô.

Thứ hai để tránh phiền phức pháp lư: Thời xưa, khi làng xă có người phạm pháp, nhất là tội phạm chính trị, nếu gặp giới chức chính quyền ở đó tham nhũng, th́ tất cả những người cùng tên đều bị bắt để điều tra. Nhằm tránh trường hợp này hoặc tránh bị vu oan giáng họa, dân gian đặt thêm tên thứ hai để nếu bị bắt, họ sẽ chứng minh bằng giấy tờ ḿnh không phải là cá nhân đó.

TIẾT D: CÁC NGUYÊN TẮC CHỌN TÊN CHÍNH

Như đă nói, bất cứ tiếng nào trong kho tàng ngôn ngữ Việt, có nghĩa hay vô nghĩa, cũng có thể là tên người Việt Nam. Tuy nhiên, khi chọn các từ ngữ làm tên chính, người ta thường tuân theo bốn nguyên tắc chính sau đây:(1) Chọn tên có ư nghĩa tốt đẹp, (2) Chọn tên để biểu lộ cha con cùng huyết thống, (3) Chọn tên để phân biệt thế hệ, (4) Chọn tên để ghi dấu biến cố xảy ra trong gia đ́nh.

1. Chọn Tên Có Ư Nghĩa Tốt Đẹp: Khi đặt tên cho con, trừ các gia đ́nh thiếu học, đều cố gắng chọn cho con cái tên để khi đọc lên vừa có ư nghĩa tốt đẹp, vừa có ư nghĩa hoa mỹ. Do vậy, nhiều gia đ́nh đă phải ṿ đầu bứt tai cả tuần, tham khảo hết người này tới người nọ, mới chọn được cái tên vừa ư. Nhiều gia đ́nh phải nhờ các bậc túc nho đặt tên mà họ gọi là tên chữ. Theo quan niệm thẩm mỹ, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, các tên có ư nghĩa tốt đẹp, hoa mỹ được chọn trong các nhóm từ ngữ sau đây:

a. Nhóm từ ngữ chỉ nhân sinh quan và vũ trụ quan của Khổng Giáo:

- Tam tài: Thiên, Địa, Nhân.

- Tam đa: Phúc, Lộc, Thọ.

- Tam ṭng: Phu, Phụ, Tử

- Tam cương: Quân, Sư, Phụ

- Tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh.

- Tứ thời: Xuân, Hạ, Thu, Đông

- Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng.

- Tứ hữu: Mai, Lan, Cúc, Trúc v.v…

b. Nhóm từ ngữ chỉ nét đẹp thể xác: Nét đẹp khả ái: Diễm, Lệ, Phương, Dung, Hằng, Tuyết, Thụy v.v…Tên nữ giới thường tuân theo nguyên tắc này.

c. Những từ ngữ chỉ nét đẹp tinh thần: Các tên được chọn là các tiếng diễn tả được ư niệm đạo đức đông phương: Đoan, Trang, Tuyết, Trinh, Hiền, Thương, Hùng, Dũng, Bảo, Trân, Trọng, Châu.

Muốn hiểu được ư nghĩa tốt đẹp của tên chính, đôi khi không chỉ căn cứ vào một yếu tố ư nghĩa của từ ngữ, mà c̣n phải để ư đến các yếu tố khác. Ví dụ có hai tên Phượng và Hoàng. Đọc hai tên này ta mới chỉ thấy đẹp, chưa thấy ư nghĩa thâm trầm. Nhưng nếu người ở vùng Quảng Nam, Đà Nẵng có tên này th́ quả thực Phượng và Hoàng là hai cái tên vừa đẹp vừa thâm thúy nhất. Nhà văn Trà Lũ viết về chuyện này như sau:

Ông có người cháu họ lấy vợ năm ngoái, năm nay đẻ một lúc hai đứa con gái. Anh này thỉnh ư ông ODP về việc đặt tên. V́ vợ nó người Đà Nẵng nên ông đề nghị đặt tên là Phượng và Hoàng. Ông giải thích như thế này: một thắng cảnh nổi tiếng miền Trung là Ngũ Hành Sơn. Thắng cảnh này nằm trong xă Ḥa Long, quận Ḥa Vang, tỉnh Quảng Nam, bây giờ là một quận của ngoại ô Đà Nẵng. Chân dẫy Trường Sơn chạy qua vùng này ăn ra tận biển, là nơi hội tụ quây quần của loài chim quư phượng hoàng. Phượng hoàng ở đây có bộ lông màu rất đẹp, đầu vàng có mào tím, mỏ ngắn có màu đỏ, cổ chim có khoang xanh, lồng ngực vàng ửng, cánh chim có đốm trắng, đuôi chim rất dài và có màu ngũ sắc. Phượng hoàng thích làm tổ trong các ghềnh đá chênh vênh sườn núi. Tổ chim bao giờ cũng làm bằng các loại hoa thơm đă khô và quay về hướng nam để hưởng gió mát mùa hè và tránh gió bấc mùa đông.

Phượng hoàng líu lo với nhau nghe êm ái như một ḍng suối. Tiếng chim hót buổi sớm mai, réo rắt d́u dặt như một màn hợp tấu lớn, vọng vào vách núi, khi xa khi gần. Du khách nghe tiếng chim tự nhiên thấy ḷng ḿnh thanh thản lạ lùng. Chim trống và chim mái kết bạn mùa xuân, và đẻ con mùa hạ. Sau 14 ngày chim con mới mở mắt. Đây là thời gian thử lửa. Khi chim con vừa mới mở mắt nh́n đời, th́ cha mẹ chim tha hết đàn con ra một ghềnh đá, đặt chúng thành một hàng dài quay đầu về phía mặt trời đang mọc. Rồi cha mẹ chim hót lên một hồi líu lo, chừng như dậy con bài học thứ nhất. Hót xong th́ cha mẹ chim quan sát từng đứa con. Đến khi mặt trời chiếu ánh rực rỡ trên biển cả, đứa con nào mở mắt nh́n mặt trời th́ cha mẹ chim đặt chúng ra một chỗ riêng. Những đứa con nào sợ hăi mặt trời, mắt nhắm nghiền và cúi xuống th́ cha mẹ chim liền vất ngay xuống biển v́ cho rằng những đứa này hèn nhát, yếu đuối. Sau đó cha mẹ chim lại hót líu lo một hồi nữa như ca ngợi những đứa con can đảm, xứng đáng sống cuộc đời tung hoành của ḍng họ Phượng. Rồi cha mẹ sung sướng tha những đứa con này về tổ để tiếp tục chăm nuôi cho đến lớn.

Bởi vậy chim phượng hoàng của Ngũ Hành Sơn là biểu tượng ḷng can đảm, đẹp tốt và thông minh. Người mẹ gốc Ngũ Hành Sơn, quê hương của loài chim quư Phượng Hoàng lấy hai tiếng Phượng Hoàng đặt tên cho hai đứa con là hay quá sức và hợp lư hết sức.


Tuy nhiên, những tên đẹp đẽ trên sẽ trở thành đề tài đàm tiếu, mỉa mai nếu ư nghĩa tên trái ngược với cuộc sống thực tế. Tác giả người Pháp Mélanges, từng sống ở Việt Nam lâu năm, đă nhận xét vấn đề này: Thiếu chi, người tên th́ tốt, mà việc làm không tốt. Như có người tên là Lành, là Thiện mà không lành không thiện chút nào cả.

Khi xưa người ở Quảng B́nh, có tục đặt tên con là Mẹt. Ngày nay, tiếng mẹt đă biến nghĩa, trở thành xấu, ám chỉ người đàn bà quê mùa, qua câu nói châm biếm “Thị Mẹt”. Theo linh mục Léopold Cadière, trong sách Croyances Et Pratiques Religieuses Des Vietnamiens, th́ chữ mẹt có nguyên nghĩa là cái rổ, cái tráng, cái thúng, cái mẹt, cái nia. Nói chung là các vật dụng xay lúa giă gạo, chợ búa. Khi đặt tên con gái là Mẹt, các gia đ́nh mong muốn cho con sau này biết tề gia nội trợ.

Ư muốn con hay, con tốt c̣n được biểu lộ trong trường hợp tên con“đè” được tên cha. Ví dụ trường hợp hai cha con ông Ngô Thời Sĩ và Ngô Thời Nhậm. Chữ Nhậm trong Hán tự viết gần giống chữ Sĩ, chỉ khác chữ Nhậm có thêm nét phẩy trên đầu chữ Sĩ. Lối đặt tên này lấy trong quan niệm: Con hơn cha là nhà có phúc.

Đa số tên người Việt Nam là tiếng Hán Việt nên nhiều người không hiểu rơ tên ḿnh và tên người khác có ư nghĩa ǵ v́ nhiều từ đồng âm, nhưng dị nghĩa. Ví dụ cùng phát âm là Du nhưng từ Du có ít nhất 20 nghĩa khác nhau. Để giải quyết vấn đề này, các học giả như giáo sư Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, đă chua thêm chữ Hán vào sau tên mỗi nhân vật để ta biết tên vị ấy có ư nghĩa ǵ. Ví dụ chữ Du trong tên thi hào Nguyễn Du không có nghĩa là đi chơi như trong tiếng du xuân hay du hí, cũng không có nghĩa là ca hát như du ca. Tên của thi hào Nguyễn Du khi viết ra Hán tự có nghĩa là xa xôi. Tên thi sĩ Trần Tế Xương không có nghĩa là xương cốt, cũng không phải là ma cọp mà ta gọi là hùm tinh, cũng không có nghĩa là người vô định hướng. Tên Xương của cụ Tú có nghĩa là thịnh vượng, đẹp, thẳng thắn. Do vậy, cụ lấy tên tự là Tử Thịnh. Chữ Thịnh và Xương trong Hán tự đều có nghĩa là phát đạt, thịnh vượng.

2. Chọn Tên Để Biểu Lộ Liên Hệ Huyết Thống: Quan niệm liên hệ huyết thống rất phổ quát trên thế giới. Mỗi dân tộc có một đường lối riêng trong cách đặt tên để biểu lộ quan niệm này. Với người tây phương, người ta dùng các biến dạng của tên họ và tên đệm mà chúng tôi đă tŕnh bày trong Tiết B, chương một và chương hai. Riêng tại Việt Nam, người ta áp dụng hai đường lối để biểu lộ ư niệm liên hệ huyết thống: một là dùng đường lối Việt ngữ, hai là đường lối Hán tự.

a. Nếu theo đường lối Việt ngữ: Tên con cái sẽ tuân theo một trong hai nguyên tắc là phát âm hay ư nghĩa để biệu lộ ư niệm huyết thống.

Nếu theo nguyên tắc phát âm, tên các con sẽ có cùng âm khởi đầu hay âm vận cuối. Ví dụ:

- Cùng âm khởi đầu: Thông, Thái, Thiên, Thụ, Thưởng

- Cùng âm vận cuối: Trung, Dũng, Hùng, Cung, Tùng.

Nếu theo nguyên tắc ư nghĩa, các tên sẽ ở trong cùng nhóm từ ngữ có ư nghĩa liên quan đến nhau. Ví dụ:

- Tam tài: Thiên, Địa, Nhân.

- Tam đa: Phúc, Lộc, Thọ.

- Tam ṭng: Phu, Phụ, Tử.

- Tam cương: Quân, Sư, Phụ.

- Tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh.

- Tứ thời: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

- Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng hay Phượng.

- Tứ hữu: Mai, Lan, Cúc, Trúc.

- Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ.

- Ngũ phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung.

- Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

- Địa chi: Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n,Tỵ, Ngọ v.v...

- Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ v.v...

Tác giả Nguyễn Công Hoan đă viết lại phong tục đặt tên theo kiểu có cùng ư nghĩa:

- Này bu nó ạ, tôi định đặt tên cho thằng cu là Trộn. Bu nó bảo thế nào?

Chị Pha nhăn mặt lắc đầu,

-Không gọi thế được. Tên xấu lắm. Hôm nào nhờ ông lang Sáng đặt tên cho nó.

-Ồ, chả chữ nghĩa ǵ cả. Giỏ nhà ai, quai nhà nấy. Không cần. Quấy, Quậy, Ḥa, Sáo, Pha th́ tên thằng cu là Trộn thế phải rồi c̣n ǵ.

-Nhưng các bác có đặt tên cho lũ cháu thế đâu?

-Th́ con nhà bác Quậy chẳng là Sỏi, Sành là ǵ ?


Đặt tên cùng ư nghĩa có nhiều kiểu cách. Xin đan cử ba ví dụ: Quê tôi là làng Phú Vinh, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh B́nh, có gia đ́nh đặt tên các con bằng các từ ngữ chỉ dụng cụ nhà nông: Mai, Quốc, Xẻng, Giành, Cào, Gióng. Đa số cư dân ở đây là người Công Giáo nên một gia đ́nh khác lấy các từ trong kinh sách Công Giáo để đặt tên: Nhiệm, Mầu, Tin, Cậy, Kính, Mến. Một gia đ́nh thân quen với cha mẹ chúng tôi có 7 cô con gái, mỗi cô mang tên một loại vải quư: Nhung, Là, Lụa, Lượt, Gấm, The, Vóc. Linh mục Léopold Cadière, trong bài viết về Nguồn Sơn, Quảng Trị, cho biết có gia đ́nh đặt tên con theo thế đất ở vùng biển: Cù, Lao, Gành, G̣, Eo.

Nhiều gia đ́nh cố áp dụng hai nguyên tắc trên để đặt tên cho con, nhưng đôi khi đẻ nhiều quá, đứa sau không c̣n từ ngữ cùng nhóm, nên đặt một tên trệch ra khỏi đường lối chung.

b. Nếu theo đường lối Hán tự: Tên các con khi viết ra chữ Hán sẽ có cùng một bộ. Lối đặt tên này đ̣i hỏi khả năng chữ Hán cao nên chỉ có các gia đ́nh nho gia hay vua chúa mới áp dụng. Hăy nêu ra một số thí dụ cụ thể:

-Tên các vua nhà hậu Lê là Kỳ, Hữu, Vũ, Hội, Hợp, Đường, Phương, Tường, Th́n, Diêu đều thuộc bộ Kỳ.

-Tên các chúa Trịnh: Kiểm, Tùng, Tráng, Tạc, Căn, Cương, Giang, Doanh, Sâm, Cán, Khải đều thuộc bộ Mộc.

-Tên các chúa Nguyễn: Kim, Hoàng, Nguyên, Lan, Tần, Trăn, Chu, Trú đều thuộc bộ Thủy.

-Tên các chúa Nguyễn từ Nguyễn Phúc Khoát tới Nguyễn Phúc Ánh dùng bộ Nhật.

Lối đặt tên này không phải là đặc quyền của vua chúa, nhiều gia đ́nh nho học cũng áp dụng. Ví dụ tác giả truyện Kiều là cụ Nguyễn Du có cụ thân sinh là Nguyễn Nghiễm, có bác là quan tham tụng Nguyễn Khản. Các tên Khản, Nghiễm, Du nếu viết ra Hán tự, đều có bộ Nhân. Tên các cụ Ngô Thời Chí, Ngô Thời Sĩ, Ngô Thời Nhậm đều có bộ Sĩ. Tên học giả Phạm Quỳnh và các con là Phạm Dao, Phạm Khuê, Phạm Thị Ngoạn, đều có bộ Ngọc. Lối đặt tên trên mới chỉ chú ư đến thế hệ cha con. Các cụ c̣n đặt tên để phân biệt thế hệ cháu chắt.

3. Chọn Tên Để Phân Biệt Ḍng Dơi Thế Hệ: Khi Hán tự c̣n thịnh hành, các nhà nho dựa vào đặc tính chữ Hán để chọn tên nhằm phân biệt ḍng dơi thế hệ. Đặc tính chữ Hán là mỗi chữ thuộc về một bộ trong hơn 200 bộ căn bản. Ví dụ các chữ Hoa, Phương, Trà thuộc bộ Thảo là cỏ. Các chữ Bản, Vị, Lư, Đỗ, Đông thuộc bộ Mộc là cây. Áp dụng đặc tính này vào việc đặt tên, các nhà nho quy định đời thứ nhất chọn các chữ cùng bộ, bộ Mộc chẳng hạn, đời thứ hai bộ Thủy, đời thứ ba bộ Hỏa v.v.. Để con cháu dễ nhớ, các cụ sáng tác bài thơ mà mỗi chữ là một bộ chữ nho. Con cháu cứ theo đó mà chọn tên. Điển h́nh là vua Minh Mạng đă áp dụng đường lối trên để đặt tên cho con cháu:

Ngự Chế Mạng Danh Thi

Miên, Nhân, Kỳ, Sơn, Ngọc

Phụ, Nhân, Ngôn, Tài, Ḥa

Bối, Lực, Tài, Ngôn, Tâm

Ngọc, Thạch, Hoa, Ḥa, Tiểu.

Theo bài thơ trên, tên các hoàng tử thuộc ḍng đế, mỗi thế hệ sẽ dùng một bộ chữ. Tên các con vua Minh Mạng đều dùng bộ Miên. Tên con vua Thiệu Trị dùng bộ Nhân. Đến hoàng tử Bảo Long, tức con vua Bảo Đại, đời thứ năm, dùng bộ Phụ.

4. Chọn Tên Để Ghi Dấu Biến Cố Lịch Sử Trong Gia Đ́nh: Người Âu Châu cũng như người Việt Nam và Trung Quốc có lối đặt tên để ghi nhớ biến cố lịch sử xảy ra trong gia đ́nh. Ví dụ:

- Lấy địa danh: Vào năm 1954, có cuộc di cư từ Bắc vào Nam, nhiều gia đ́nh sinh con ở miền Nam đă đặt tên con là Nam. Sinh ở Nha Trang đặt tên con là Trang, sinh ở Vĩnh Long đặt tên là Vĩnh hay Long v.v…

- Lấy tên thời gian xảy ra biến cố như : Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhiều người tây phương có tên là Noel, Natividas, Natalie. Các chữ này đều có nghĩa là ngày lễ Giáng Sinh.

TIẾT E : SỰ BIẾN ĐỔI TÊN CHÍNH

Dân tộc nào trên thế giới cũng có tục thay đổi tên chính. Hai vị Tổng Thống Hoa Kỳ là các ông Cleveland và Wilson đều thay đổi tên chính. Ông Cleveland bỏ tên Stephen lấy tên Grover thành Grover Cleveland. Ông Wilson bỏ tên John lấy tên Woodrow thành Woodrow Wilson. Với người Việt Nam, từ ngày chấm dứt chế độ quân chủ, nền hành chánh bắt đầu thi hành giấy tờ hộ tịch, th́ tên chính không được dễ dàng thay đổi nữa. Tuy nhiên, trong lịch sử có 7 trường hợp biến đổi tên chính.

1. Biến Đổi Do Vua Ban Tên: Dưới thời phong kiến, nhà vua không những có quyền ban quốc tính, tức tên họ, mà c̣n ban tên chính cho các công thần. Dân gian coi đó là một ân thưởng trọng hậu. Xin nêu một số trường hợp:

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đổi tên ông Đỗ Viễn, đậu Tiến Sĩ năm 1478, thành Đỗ Cận. Ông Vũ Nghĩa Chí, đậu Hoàng Giáp năm 1490, thành Vũ Duệ. Ông Dương Bản Bang, đậu Tiến Sĩ đời Hồng Đức thứ 15, được vua ban quốc tính và đổi tên là Tung. Vua Lê Nhân Tông (1442-1459) đổi tên Tiến Sĩ Dương Mỗi thành Dương Hải. Ông Nguyễn Hễ, người huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam, đậu đệ nhất giáp Tiến Sĩ khoa Giáp Tuất (1514), được vua Lê Tương Dực (1509-1516) đổi tên là Nguyễn Đức Lượng. Vua Tự Đức (1848-1883) đổi tên ông Trần Bích San (1839-1874) thành Trần Hy Tăng. Ông Dưỡng Độn, tự Thời Mẫn, hiệu Tốn Trai được đổi thành Trần Tiễn Thành.

2. Biến Đổi V́ Kỵ Húy: Ngoài dân gian, nếu tên con rể trùng với tên ông bà, cha mẹ vợ, th́ tên con rể đổi sang tên khác. Tên mới chỉ để xưng hô hàng ngày, c̣n trong giấy tờ, tên vẫn giữ như cũ. Trong chốn triều đ́nh, những chữ húy như tên vua, cha vua, hoàng hậu, tên lăng tẩm, khi xưa được viết bằng Hán tự, lúc đọc phải tránh âm, lúc viết phải đổi thành chữ khác. Đời vua nào cũng có sự kỵ húy. Đơn cử đời vua Gia Long, 6 tên sau đây phải đổi ra chữ khác

Kỵ Húy/ Nghĩa/ Đổi ra/ Nghĩa

Noăn/ Ấm/ Úc/ Ấm

Ánh/ Sáng/ Chiếu/ Sáng

Chủng/ Trong/ Thức/Trong

Cổn/ Tia nắng/ Diệu/ Ánh sáng

Hoàng/ Ṿng tṛn/ Viên/ Ṿng tṛn

Lan/ Hoa lan/ Hương/ Hương thơm.

Vấn đề kỵ húy là một định chế chính trị, tôn giáo có ảnh hưởng đến ngôn ngữ Việt Nam nên sẽ được tŕnh bày thêm trong chương Năm.

3. Đổi Tên V́ Bị Bó Buộc: Đối với các quan có phẩm hàm cao, việc đổi tên được coi là điều hănh diện v́ đó là ân điển vua ban. Nhưng, đối với quan chức địa phương có phẩm hàm thấp, việc đổi tên, nếu có, là điều bó buộc.

Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), triều đ́nh ra chiếu chỉ như sau, được ghi trong Đại Nam Điển Lệ: Những chức quan của một tỉnh nếu có cùng tên giống nhau th́ viên quan phẩm trật thấp hơn phải đổi tên hay bớt đi một chữ, hoặc đổi hẳn chữ khác, hoặc đổi thành chữ đồng âm nhưng khác mặt chữ để khỏi lầm lẫn và trùng tên.

4. Đổi Tên V́ Tự Ư: Đời nào cũng có người đổi tên v́ tự ư và thường bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây:

a. Muốn có tên đẹp hơn: Nhiều gia đ́nh ít học đă đặt tên con bằng những tiếng đọc lên nghe không được ra vẻ cho lắm. Đến khi lên thị thành, hay khi đi học, bị bạn bè chọc ghẹo v́ cái tên quê mùa, th́ một chị Trần Thị Bông nào đó dễ dàng biến thành Trần Thị Bạch Yến và anh Lê Văn Đực biến thành anh Lê Thanh Tùng. Bản tin của VnExpress. net ra ngày 17 tháng 6 năm 2003 cho biết : Bà Hà Thị Tiên Bưởi, quận Tân B́nh, TP. HCM đă ba lần xin các cấp chính quyền được đổi tên. Tuy nhiên sở Tư Pháp thành phố không đồng ư. Bà kiện Sở Tư Pháp ra toà. Bản tin nguyên văn như sau: “Tôi rất ngượng và khổ tâm v́ cái tên của ḿnh. Người ta lấy tên tôi ra để giỡn chơi, ghẹo là Bưởi to, Bưởi nhỏ, Bưởi chua, Bưởi ngọt…”Bà Hà Thị Tiên Bưởi nói trong nước mắt. Sống trên đời 45 năm, lúc nào bà cũng phải chịu cảnh bị người khác trêu ghẹo với đủ các loại từ ghép mà theo bà đó là những từ xấu, thậm chí là thô tục. Ở quê trêu vậy đă đành, lên đến thành phố, người ta cũng chẳng để bà yên. Bà nói ‘Tôi chịu như vậy là quá đủ rồi, giờ đây tôi muốn đổi tên để quăng đ̣i c̣n lại được thanh thản hơn”

b. Muốn tránh mạng lưới pháp luật: Tại nước nào cũng vậy, các người phạm pháp thường đổi sang tên khác để che dấu tung tích.

c. Muốn có sự may mắn. Người Trung Quốc cũng như người Việt tin tưởng thay đổi tên có thể thay đổi vận mạng. Một thí dụ được nhiều người nhắc nhở là trường hợp cụ Tú Xương. Cụ tên là Trần Kế Xương (1870-1907), con cụ Trần Kế Nhuận. Sau khi đậu Tú Tài, ông tiếp tục thi bằng Cử Nhân, nhưng cứ bị hỏng v́ phạm trường quy. Do đó, ông đổi thành Cao Xương để hy vọng được may mắn. Chữ Cao trong Hán tự có nghĩa là vượt tới chỗ cao hơn. Cuối cùng ông vẫn không thành công và đổi về Trần Tế Xương.

Những gia đ́nh thông thuộc triết lư đông phương, hiểu rơ vấn đề tương sinh tương khắc của ngũ hành, cũng sẽ đổi tên, nếu có sự xung khắc trong tên cũ. Ví dụ một người có tên là Trần Kim Lê. Xét theo ngũ hành, tên này không đưa đến sự may mắn, mà dẫn tới sự hủy diệt v́ Lê viết ra Hán tự có bộ Mộc. Mộc là cây không thể tương sinh với kim, hiểu theo nghĩa rộng là dao, búa, cưa đều làm bằng kim khí. Cây mà gặp búa, dao, cưa có nghĩa là cây bị chặt. Người có tên Kim Lê không được may mắn.

Người Trung Quốc tin tưởng tên ảnh hưởng đến vận mạng, đưa đến sự may mắn hay xúi quảy. Ví dụ một người tên Lê Thị Minh Nguyệt, sinh năm Sửu tức năm con Trâu. Minh Nguyệt là trăng sáng, tuổi cô là tuổi Trâu. Trâu mà phải làm tới khi trăng sáng th́ đời cô Nguyệt vất vả tối tăm lắm. Tác giả Evelyn Lip đă viết tác phẩm Choosing Auspicious Chinese Names để hướng dẫn cách đặt tên sao cho tương hợp ngũ hành, đưa đến sự may mắn.

5. Đổi Tên V́ Lư Do Tôn Giáo: Tu sĩ của một số tôn giáo ở Việt Nam thường dùng tên có liên quan đến tôn giáo của ḿnh thay cho tên chính. Nhờ tên này, ta có thể biết tịch đạo của người ấy.

- Với Phật Giáo, ta có những tên như pháp danh, pháp hiệu, pháp tự. Khi đă có những tên này, người ta dùng tên đó thay cho thế danh. Ví dụ người ta gọi Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu, chứ không dùng thế danh Diệp Trương Thuần.

-Với Công Giáo, một số ḍng tu như các tu sĩ ḍng La San, các nữ tu ḍng thánh Phaolô có tập tục dùng tên thánh do nhà ḍng đặt thay cho tên chính. Thầy dậy của tôi là các d́ Isabelle, Madeleine, Monica và các sư huynh Boniface, Félicien, Léopold.

-Với những giới chức đạo Cao Đài, ta có những tên đặc biệt đặt theo công thức Tên Phái + Thế Danh + Tịch Đạo. Ví dụ Giáo Sư Thượng Hậu Thanh của hội Truyền Giáo Cao Đài, Giáo Sư Ngọc Luyện Thanh ngụ tại Thánh Thất Từ Vân tại thành phố Sàig̣n. Các tên này chúng tôi đă tŕnh bày ở chương một, tiết C: Các Tên Tôn Giáo.

-Với những người Việt theo Hồi Giáo, họ cũng đặt tên theo tôn giáo của họ. Ví dụ Dịch giả kinh Qur’an (Coran) ra tiếng Việt là ông Từ Công Thu, v́ theo đạo Hồi nên ông có tên chính thức là Hassan Abdul Karim

6. Đổi Tên V́ Lư Do Chính Trị: Dưới thời quân chủ, một triều đại dù đă sụp đổ, nhưng vẫn có người nuôi hoài băo khôi phục. Để chính danh, người ấy phải đổi tên để chứng minh với nhân dân họ là thế gia triều đại trước. Ví dụ Trần Thiêm B́nh tự xưng là con vua Trần Nghệ Tông, sang Yên Kinh kể rơ sự t́nh với Thánh Tổ nhà Minh về việc Hồ Quư Ly tiếm nghịch.Tạ Sương Phụng chống lại nhà Nguyễn, muốn chiếm tỉnh Quảng Nam đă mạo danh ḍng dơ nhà Lê đổi tên là Lê Duy Minh.

Trong lịch sử cận đại, những người hoạt động chính trị đảng phái thường đổi tên, để dễ bề hoạt động. Việt Nam Quốc Dân Đảng có các ông Nguyễn Ngọc Nhân đổi thành Vũ Tam Anh. Nguyễn Văn Giảng thành Vũ Hồng Khanh. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội có ông Nguyễn Hải Thần đổi thành Vũ Hải Thu, Nguyễn Cẩm Giang.

Về phía Đảng Cộng Sản rất nhiều đảng viên đổi tên, nhưng có lẽ người đổi tên nhiều nhất thế giới là ông Hồ Chí Minh. Ở đây, chỉ xin trích một số tên được nhiều người biết. Tên chính thức khi c̣n bé là Nguyễn Sinh Cung, đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, trong khi hoạt động chính trị, để tránh con mắt mật thám Pháp, ông lấy các tên như Lư Thụy, Victor, Song Man Tcho, Vương Sơn Nhi, Trần Lực, Nguyễn Ái Quốc và sau cùng là Hồ Chí Minh.

Một điều mỉa mai cho lịch sử Việt Nam là sơ ước kư ngày 6 tháng 3 năm 1946, giữa đại diện Pháp là Sainteny và 2 đại diện Việt Nam là các ông Vũ Hồng Khanh và Hồ Chí Minh, cả ba đều không dùng tên thật, mà dùng tên giả.

Vào năm 1954, khi đất nước Việt Nam bị chia đôi, một số người miền Nam tập kết ra Bắc, gia đ́nh ở lại miền Nam thường đổi tên để tránh phiền lụy về an ninh chính trị đối với chính phủ miền Nam. Đến năm 1975, khi đảng Cộng Sản chiếm miền Nam, các gia đ́nh này lại điều chỉnh giấy tờ hộ tịch cho hợp với tên họ của người thân đă tập kết ra Bắc, để chứng minh với chính quyền Cộng Sản rằng đây là gia đ́nh cách mạng, có quyền được hưởng quyền lợi vật chất mà nhà nước dành cho các gia đ́nh cách mạng.

7. Bị Bỏ Tên Chính V́ Là Phái Nữ: Khi xă hội Việt Nam c̣n chịu ảnh hưởng văn hóa cổ truyền Trung Quốc, vai tṛ phụ nữ không được đề cao. Tên chính người đàn bà không được nhắc nhở trong sử sách. Sử gia triều đại nhà Nguyễn là Trương Đăng Quế và Hà Duy Phiên nói rơ điều này trong phần thể lệ viết Đại Nam Liệt Truyện. Hai ông viết: Khi chép về các hậu phi, chỉ chép tên thụy, họ v́ tên thực của các bà không được để lọt ra khỏi cửa. Đó là theo thể lệ chép truyện trong Minh sử.

Ngày nay, đọc các cổ thư như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, An Nam Chí Lược, Đại Nam Liệt Truyện, ta thấy các sử gia khi chép về người đàn bà chỉ nhắc đến tên họ và chữ thị như Cù thị, Lê thị. Đến các nhà viết văn học sử Việt Nam hiện nay, khi viết về truyện kư Hạnh Thục Ca, thường nhắc tên tác giả là bà Nguyễn Nhược thị thay v́ tên chính của bà là Nguyễn Thị Bích (1830-1909). Trên các bia mộ xưa, ta thấy những tên như Lê thị chi mộ, Trần thị chi mộ, tức mộ phần người đàn bà họ Lê, họ Trần. Tục lệ ta không ghi tên người đàn bà là do bắt chước Tàu. Người phụ nữ Trung Quốc khi lấy chồng, bỏ hết tung tích nhà cô, nhận tên họ chồng. Ví dụ Vương thị phu nhân, tức người vợ ông họ Vương.

Trái lại, theo tinh thần Việt, vai tṛ phụ nữ không bị coi thường, tên phụ nữ vẫn được nhắc nhở. Ta vẫn thường nghe thị Kính, thị Mầu là hai nhân vật trong truyện Quan Âm Thị Kính.

MỤC II " TÊN CHÍNH CỦA NGƯỜI TÂY PHƯƠNG

Nội dung mục hai gồm 3 vấn đề: (a) Phân loại tên chính, (b) Nguyên tắc chọn tên chính, (c) Tôn giáo và chính quyền ảnh hưởng đến tên chính người tây phương.

TIẾT A. PHÂN LOẠI TÊN CHÍNH NGƯỜI TÂY PHƯƠNG

Chúng ta có bốn tiêu chuẩn để phân loại tên chính người tây phương: (1) Dựa trên nguồn gốc ngôn ngữ, (2) Dựa trên tiêu chuẩn ư nghĩa, (3) Dựa trên tiêu chuẩn giống tính, (4) Tên đơn và tên kép.

1. Phân Loại Tên Người Tây Phương Theo Nguồn Gốc Ngôn Ngữ: Tên người tây phương khác hẳn ngôn ngữ thông thường, bắt nguồn từ những cổ ngữ mà ngày nay người ta không dùng nữa như tiếng Latin, tiếng của bộ lạc Germanic, Celtic. Tên người tây phương thuộc hai tộc ngữ chính là Ấn Âu (Indo-European) và Á Phi (Afro-Asian). Tộc ngữ Ấn Âu quan trọng nhất, gồm năm nhóm nhỏ chính là Celtic, Slavic, Germanic, Hy Lạp, Italic. Tộc ngữ Á Phi không nằm trong lục địa Âu Châu, nhưng có vai tṛ khá quan trọng trong việc h́nh thành tên chính người tây phương qua ngôn ngữ Do Thái, Ba Tư và Aramic.

a. Tên từ nhóm ngôn ngữ Semitic. Nhóm ngôn ngữ này thuộc tộc ngữ Á Phi (Afro-Asian). Từ ngữ Semitic để chỉ những ngôn ngữ của các dân tộc vùng Trung Đông. Trong nhóm này, tên gốc Do Thái, xuất phát từ kinh thánh Tân Ước và Cựu Ước của Kitô Giáo và Do Thái Giáo là có vai tṛ quan trọng đối với tên người Âu Châu. Với Tân Ước, ta có các tên môn đệ của Chúa như John, Simon, Mathew. Với Cựu Ước, ta có các tên như Adam, Jacob, Noah, David, Jonathan, Isaac, Rebecca v.v… Tên người Do Thái lan tràn khắp Âu Mỹ nhờ giáo hội Công Giáo khuyến khích giáo dân chọn tên thánh trong Tân Ước, c̣n người Thanh Giáo (Puritans) khuyến khích chọn các tên trong Cựu Ước. Tên thánh được đặt lúc rửa tội nên người tây phương gọi tên này là Baptismal Name hay Christian Name.

b. Tên từ nhóm ngôn ngữ Slavic. Đặc ngữ Slavic để chỉ các ngôn ngữ ở vùng Đông Âu và một phần Á Châu. Nhóm Slavic chia làm ba nhánh phụ:

-Phía đông gồm Nga, Ukrainian, Belorussian.

-Phía nam gồm Bulgarian, Macedonian,Serbo Croatian, Slovenian.

-Phía tây gồm Tiệp Khắc, Ba Lan.

c. Tên từ nhóm ngôn ngữ Hy Lạp. Tên nhóm này được phổ biến khắp Âu Châu nhờ văn minh Hy Lạp có ảnh hưởng lớn, và nhiều tên thánh của Kitô Giáo được viết bằng thứ ngôn ngữ này. Hơn nữa, từ xưa tại Âu Châu có phong trào học cổ ngữ Hy Lạp, Latin, Do Thái nên những tên gốc Hy Lạp, Latin, Do Thái được phổ biến rộng răi. Đặc biệt tên gốc Hy Lạp sinh ra nhiều tên người Nga và Đông Âu và có đặc điểm là diễn tả tư tưởng trừu tượng, và những đặc tính con người.

d. Tên từ nhóm ngôn ngữ Germanic: Từ ngữ Germanic là một đặc ngữ chỉ nhóm ngôn ngữ trong khối Ấn Âu được các bộ lạc Germanic ngày xưa dùng. Thứ ngôn ngữ này được nói ở Bắc và Tây Âu, sinh ra tiếng Anh, Đức, Na Uy, Đan Mạch, Ḥa Lan, vùng Scandinavia, Thụy Điển, Băng Đảo. Các thứ tiếng này gọi chung là Teutonic. Tên từ gốc Germanic có đặc điểm là diễn tả tư tưởng chiến tranh. Riêng tiếng Anh thuộc gốc Germanic được chia làm tiếng Anh cổ (Old English) dùng ở Anh từ thế kỷ thứ 7 đến hết thế kỷ 12. Tiếng Anh cổ c̣n gọi là Anglo Saxon. C̣n tiếng Anh bị ảnh hưởng tiếng Pháp th́ các nhà ngữ học gọi là Middle English tức tiếng Anh Trung Cổ. Tiếng Germanic được nói ở Thụy Điển, Băng Đảo (Iceland) th́ các nhà Ngữ học gọi là tiếng Norse cổ (Old Norse).

e. Tên từ nhóm ngôn ngữ Celtic. Từ ngữ Celtic để chỉ loại ngôn ngữ nằm trong khối Ấn Âu, được giống dân Celtic ở Âu Châu khi xưa dùng ở Tây Âu. Ngữ loại Celtic phân làm hai nhánh chính:

-Nhánh Gaelic bao gồm Ái Nhĩ Lan, Tô Cách Lan.

-Nhánh Brythonic c̣n gọi là British tức Anh bao gồm xứ Welsh và Breton, tức nam nước Anh. Tên từ nhóm ngôn ngữ Celtic có đặc điểm là diễn tả sự tôn thờ thần thánh.

f. Tên từ nhóm Italic: Từ ngữ Italic để chỉ một nhóm ngôn ngữ trong khối Ấn Âu được người Ư ngày xưa dùng. Nhóm này chia làm hai nhánh phụ là Latino-Faliscan và Osco-Umbrian. Pháp ngữ, và các ngôn ngữ của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ư và Romanian thuộc nhóm này.

Các quốc gia Âu Châu có điểm chung là họ đều mượn tên của nhau. Ví dụ những tên của người Ư không chỉ gồm bao gồm tên Ư mà bao gồm những tên xuất xứ từ tiếng Latin, Do Thái, Hy Lạp, Germanic v.v… Sở dĩ có t́nh trạng này là v́ cùng thuộc tộc ngữ Ấn Âu, cùng bị ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau, cùng có tín ngưỡng chung là Kitô Giáo. Ngoài ra, khi xưa, v́ có các cuộc xâm chiếm đất đai của các bộ lạc Germanic và Celtic mà tên từ nước này được đem sang nước khác. Ví dụ trước thế kỷ 11, người Anh chỉ có tên của giống dân ḿnh là 2 bộ lạc Celtic và Germanic. Nhưng khi Anh bị xâm lăng th́ người Norman đă đưa vào đây tên của người Pháp, Latin, và tên các thánh của Kitô Giáo, bao gồm tên Do Thái và Hy Lạp. Để thấy tên người tây phương bắt nguồn từ những nhóm ngôn ngữ kể trên, ta trưng ra một số tên tại mỗi quốc gia để làm ví dụ:

Tên người Pháp/ Xuất xứ từ ngôn ngữ

Adolphe/ Đức /: Adolf

Agnès/ Hy Lạp/: Hagnos

Albert /Germanic/: Adalbert

Alfred/ Anh cổ/: Aelfraed

Aurèle/ Latin/ : Aurelius

Samuel/ Do Thái/ : Shemuel

Sylvain/ Ư /: Silvano

Tên Người Đức/ Xuất xứ từ ngôn ngữ

Arnold/ Germanic/ : Arnhold

Sofie/ Hy Lạp/: Sophia

August/ Latin/ : Augustus

Anna/ Do Thái:/ Hannah

Brigitta/ Ái Nhĩ Lan/ : Brighid

Ladislaus/ Slavic/ : Vladislav

Mercedes/ Tây Ban Nha/ : Mercèdes

Tên Người Ư/ Xuất xứ từ ngôn ngữ:

Antonio/ Latin /: Antonius

Arturo/ Celtic/ : Arthur

Biaggio/ Pháp/ : Blaise

Bruno/ Germanic:/ Brun

Edmundo/ Anh:/ Edmund

Ferdinando/ Tây Ban Nha /: Ferdinando

Giuseppe/ Do Thái/ : Yosef

Tên Tây Ban Nha/Xuất xứ từ ngôn ngữ:

Pio/ Latin/: Pius

Narcisco/ Hy Lạp /: Narkissos

Guillermo/ Germanic /: Wilhelm

Eduardo/ Anh :/ Edward

Lourdes/ Pháp /: Lourdes

Juan/ Do Thái/: Johana

Oscar/ Gaelic/: Oscara

Tên Người Nga/ Xuất xứ từ ngôn ngữ:

Nikita/ Hy Lạp /: Anekitos

Agrafena/ Latin/ : Agrippina

Akim/ Do Thái:/ Johoachim

Gleb/ Norse cổ /: Gudleifr

Vladimir/ Slavic/ : Vladimir

Tên người Anh Mỹ /Xuất xứ từ ngôn ngữ:

Mathilda/ Germanic/ : Mahthild

Mathew/ Do Thá/i : Mattathia

Mason/ Anh ngữ cổ:/ Macian

Kelly/ Ái Nhĩ Lan/ : Cealla

Isidore/ Hy Lạp/ : Isidoros

Ivor/ Scandinavian/ : Yewherr

Jade/ Tây Ban Nha/: Ijada.

Jarlath /Gaelic/: Iarlaithe

Graham/ Tô Cách Lan/ : Grantham

g. Tên chính xuất xứ từ ngôn ngữ thông thường. Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, theo từ điển First Names của viện đại học Oxford, người tây phương bắt đầu lấy những từ ngữ thường nhật để đặt tên. Số tên này càng ngày càng gia tăng. Xin nêu một số ví dụ các tên chỉ loài hoa: Daisy, Primrose, Lotus, Rose, Marigold. Các tên chỉ đá quư: Pearl, Ruby, Jade, Crystal. Tên chỉ cây cối: Pine, Fern, Poppy. Tên chỉ trạng thái tâm lư: Joy, Happy, Felix v.v…

(c̣n tiếp)

Nguyễn Long Thao